Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về viêm quanh khớp vai 1. Giải phẫu khớp vai Khớp vai hay còn gọi là khớp ổ chảo-cánh tay là một khớp hoạt dịch có động tác linh hoạt và rộng rãi nhất cơ thể được cấu tạo bởi: - Chỏm xương cánh tay: Tương ứng với khoảng 1/3 lồi cầu, hướng lên trên và vào trong, tiếp khớp với ổ chảo xương vai.
- Ổ chảo xương vai: Có hình bầu dục, lõm lòng chảo, cao khoảng 35mm. rộng khoảng 25mm, chỉ bằng 1/4 – 1/3 diện tích của chỏm cầu [36]. Về mặt giải phẫu, các yếu tố giữ vững khớp vai được chia thành hai nhóm: Các yếu tố giữ vững tĩnh: Sụn viền, bao khớp và dây chằng; Các yếu tố giữ vững động: Cơ chóp xoay và gân nhị đầu. Hai yếu tố này phối hợp với nhau chặt chẽ trong việc giữ vững khớp ổ chảo-cánh tay.
Xu hướng hiện đại về điều trị mất vững khớp vai hướng tới việc phục hồi giải phẫu và chức năng bình thường. Nguyên nhân gây viêm khớp vai - Thoái hóa gân, có thể có hoặc không có lắng đọng canxi. - Viêm bao hoạt dịch dưới mỏm cùng vai; - Viêm bao hoạt dịch và viêm gân dài cơ nhị đầu cánh tay [9]. Yếu tố nguy cơ gây hạn chế vận động khớp vai - Tuổi: bệnh hay gặp ở người 40-60 tuổi; - Giới: nam nhiều hơn nữ; - Nghề nghiệp: người lao động chân tay mà động tác lao động thường phải giơ tay cao hơn 900 (thợ trát trần nhà, thợ quét sơn, công nhân sửa máy khi máy ở vị trí cao hơn vai).
Người lao động hoặc học tập có thói quen chống tỳ khủy tay lên bàn thường bị viêm khớp vai bên đó. Các nghề nghiệp gây rung xóc khớp vai kéo dài (lái xe đường dài, lái máy xúc, máy ủi, công nhân xây dựng phải sử dụng máy đầm nhiều) gây ra các vi chấn thương cho khớp vai. Các động tác gây căng giãn gân cơ khớp vai lặp đi lặp lại kéo dài như chơi tennis, chơi golf, ném lao, xách các vật nặng…; - Tiền sử có chấn thương vùng khớp vai: ngã chống thẳng bàn tay hoặc khuỷu tay xuống nền gây lực dồn lên khớp vai, các chấn thương phần mềm vùng khớp vai; 3 - Tiền sử có gãy xương cánh tay, xương đòn, xương bả vai; - Tiền sử phẫu thuật vùng khớp vai, phẫu thuật hoặc nắn gãy xương các xương liên quan đến khớp vai như xương cánh tay, xương đòn, xương bả vai; - Những người phải bất động khớp vai một thời gian dài như sau đột quỵ, giai đoạn phục hồi sau các bệnh nặng, bất động do gãy xương cánh tay…; - Người bị mắc một số bệnh mạn tính như viêm khớp dạng thấp, đái tháo đường, bệnh ở phổi và lồng ngực, đột quỵ não, cơn đau thắt ngực. Cơ chế bệnh sinh 1.
Thoái hóa do thiểu dưỡng và viêm gân cơ chóp xoay Đây là tổn thương hay gặp nhất trong viêm quanh khớp vai thông thường. Mô bệnh học thấy gân bị thoái hóa, rõ nhất ở gân cơ trên gai với biểu hiện hyaline hóa và xơ hóa gân, các ổ xơ hóa là các sẹo do thoái hóa hoại tử gân. Viêm mạn tính với xâm nhập các tế bào viêm, có thể có phù nề gân. Trường hợp nặng thấy có các ổ hoại tử nhỏ, xung quanh ổ hoại tử xâm nhập các tế bào viêm mạn.
Có thể rách gân ở các mức độ khác nhau, có khi hoại tử gây rách đứt hoàn toàn gân. Có thể có lắng đọng canxi ở gân. Bệnh thường xảy ra ở người trên 40 tuổi mà hiếm gặp ở người trẻ. Nguyên nhân của tổn thương này thường là thoái hóa gân do thiểu dưỡng [9].
Viêm gân có lắng đọng canxi Thoái hóa gân cơ trên gai do thiểu dưỡng tiến triển theo thời gian, thông thường 40 tuổi trở lên mới bộc lộ triệu chứng. Biểu hiện mô bệnh học của thoái gân là xuất hiện các dải hyaline và các dải xơ hóa trong gân, có thể có các ổ hoại tử nhỏ và viêm. Các ổ phá hủy tế bào thường gây lắng đọng canxi ở gân cơ trên gai. Khi canxi lắng đọng ở gân, làm sưng phồng vùng gân đó, thường xuyên cọ xát với dây chằng cùng-quạ khi cánh tay vận động, lâu dần sẽ gây viêm và hoại tử phía trên, làm thông giữa vùng lắng đọng canxi ở gân với bao hoạt dịch dưới mỏm cùng vai.
Các chất hoại tử và tinh thể canxi từ ổ lắng đọng trong gân tràn vào bao hoạt dịch và trôi về các túi cùng của bao hoạt dịch. Tinh thể canxi từ ổ lắng đọng ở gân cơ trên gai tràn vào bao hoạt dịch sẽ gây chà xát và viêm bao hoạt dịch. Khởi đầu khi chất dịch hoại tử cùng tinh thể canxi tràn vào bao hoạt dịch, có thể gây cơn đau cấp tính do viêm bao hoạt dịch vi tinh thể. Cơn đau kéo dài vài ngày cho tới hàng tuần rồi giảm dần.
Trong cơn đau cấp có thể thấy nề dưới mỏm cùng vai, người bệnh không dám vận động khớp vai do đau. Sự sưng phồng của bao hoạt dịch trong khoang trên vai chật hẹp sẽ gây chèn ép các tổ chức trong đó, 4 Thư viện ĐH Thăng Long đặc biệt khi dạng cánh tay. Đây là quá trình viêm mạn tính vô khuẩn. Chất dịch rỉ viêm trong bao hoạt dịch sẽ dần được hấp thu và bao hoạt dịch sẽ bị dính, làm hai màng của bao hoạt dịch trượt trên nhau một cách khó khăn.
Trong trường hợp này viêm bao hoạt dịch dưới mỏm cùng vai là viêm thứ phát [38], [55]. Viêm bao hoạt dịch Khớp vai có hai bao hoạt dịch lớn là bao hoạt dịch của khớp ổ chảo-cánh tay và bao hoạt dịch dưới mỏm cùng vai. - Bao hoạt dịch khớp ổ chảo-cánh tay có các ngách, tạo thành các túi cùng luồn lách vào các vị trí cần đệm đỡ như túi hoạt dịch bao bọc gân dài cơ nhị đầu, bao này lấn xuống dưới dây chằng ngang cánh tay tới sát điểm bám của cơ ngực lớn, để giúp cho gân nhị đầu trượt dễ dàng trong rãnh nhị đầu. Túi cùng dưới mỏm quạ là túi hoạt dịch phình ra từ bao hoạt dịch khớp ổ chảo-cánh tay để đệm lót vào dưới mỏm quạ.
Nếp nách, là nếp gấp của bao khớp tạo ra như một túi hoạt dịch ở phía dưới khi cánh tay khép sát thân mình. Nếp nách sẽ mất đi khi dạng và giơ cánh tay lên trên do bao khớp phía dưới căng ra [39]. - Bao hoạt dịch dưới mỏm cùng vai, còn gọi là bao hoạt dịch dưới cơ delta. Đây là bao hoạt dịch lớn lót bên dưới mỏm cùng vai và cơ delta xuống tới hết điểm bám của gân cơ chóp xoay.
Ngay dưới bao hoạt dịch là gân cơ chóp xoay. Phía trước, bao hoạt dịch này phủ lên mặt trước gân cơ dưới vai. Phía sau, bao hoạt dịch phủ lên mặt sau gân cơ dưới gai. Bao hoạt dịch này giúp cho gân cơ chóp xoay trượt dễ dàng dưới cung cùng- quạ và cơ delta.
Bất kỳ một động tác nào của cánh tay như dạng, khép, gấp ra trước, ra sau hoặc xoay cánh tay, đều làm cho hai mặt của bao hoạt dịch trượt trên nhau [9]. Viêm gân dài cơ nhị đầu Gân dài cơ nhị đầu cũng bị thoái hóa do thiểu dưỡng, nhất là ở vị trí gân lượn cong tì lên rãnh liên mấu động. Bình thường khi làm siêu âm cắt ngang gân nhị đầu thấy gân có hình bầu dục, mật độ siêu âm của gân đều, trong bao gân không có dịch. Khi viêm, siêu âm cắt ngang gân thấy gân hình tròn không còn hình bầu dục, mật độ siêu âm của gân giảm không đều.
Gân phù nề to lên lấp đầy rãnh nhị đầu, làm gân bị bó chặt trong rãnh nhị đầu và dây chằng ngang cánh tay gây ra đau nhức. Khi vận động cánh tay, rãnh nhị đầu trượt trên gân gây đau tăng trong mỗi động tác [39]. Triệu chứng lâm sàng 1. Triệu chứng cơ năng Đau khớp vai: đây là triệu chứng nổi bật - Khởi phát đau thường từ từ và tăng dần nhiều ngày hoặc hàng tháng.
- Viêm quanh khớp vai đơn thuần: Khởi phát đau thường từ từ và tăng dần nhiều ngày hoặc hàng tháng. Tính chất đau: đau cả khi nghỉ, thường đau tăng về đêm và đau tăng khi vận động cánh tay. Đau nhiều về đêm, đôi khi người bệnh phải tỉnh giấc lúc nửa đêm do đau. Khi vận động cánh tay thấy đau ở khớp vai tăng, nhất là tới gần cuối tầm vận động.
Đau thường lan tỏa, người bệnh khó xác định chính xác điểm đau. Đau làm người bệnh không dám vận động cánh tay hết tầm chứ không phải do hạn chế vận động của khớp vai. - Viêm quanh khớp vai thể đông cứng: đau khớp vai với tính chất của đau do viêm. Đau cả khi nghỉ ngơi, đau nhiều về đêm có khi làm người bệnh tỉnh giấc.
Đau tăng với bất kỳ vận động nào của cánh tay. Ban đầu đau thường nhẹ, tăng dần và dai dẳng trong nhiều tháng. Mức độ đau thường ít trầm trọng so với viêm quanh khớp vai thông thường. Đau tăng dần trong vài tuần hoặc một vài tháng.
Hạn chế vận động khớp vai: thời kỳ đầu chưa có hạn chế vận động khớp vai, chỉ hạn chế vận động do đau, dần dần tầm vận động của khớp giảm, vận động thụ động cũng không đạt được hết tầm. Người bệnh phàn nàn khớp vai cứng, không thể chải đầu hoặc gãi lưng được, đưa tay ra trước ra sau đều bị hạn chế. - Viêm quanh khớp vai thể giả liệt: Người bệnh sẽ gặp dấu hiệu đau quanh khớp vai dữ dội, có thể kèm theo tiếng kêu răng rắc khi cử động do các gân cơ chóp xoay đứt đột ngột. Thêm vào đó, có thể xuất hiện vết bầm tím ở phần trước trên cánh tay, người bệnh đau và mất vận động.
Sau đó, cơn đau khớp vai có thể hết nhưng người bệnh vẫn không thể khôi phục được khả năng vận động khớp vai [41],[43]. Triệu chứng thực thể - Nhìn: khớp vai gần như bình thường, không có sưng, nóng, đỏ. Nếu đứt gân chóp xoay hoàn toàn mà để thời gian kéo dài, có thể thấy teo cơ vùng khớp vai và cánh tay. Nếu có cơn đau khớp vai cấp do viêm bao hoạt dịch vi tinh thể, có thể thấy vùng dưới mỏm cùng vai nề, da căng bóng nhưng màu sắc da bình thường.
- Khám tầm vận động khớp vai: Tầm vận động khớp được đánh giá theo phương pháp zero như sau: người bệnh đứng thẳng, mặt nhìn thẳng ra phía trước, hai tay xuôi 6 Thư viện ĐH Thăng Long khép sát thân mình, bàn tay xoay ngửa hướng ra phía trước, hai gót chân chụm sát nhau, hai bàn chân mở ra trước 450. Ở tư thế này, tất cả các khớp được xác định là 00.