Luận văn thạc sĩ thay đổi kiến thức và thực hành về phục hồi chức năng vận động cho người chăm sóc chính người bệnh đột quỵ não tại bệnh viện y dược cổ truyền

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thay đổi kiến thức và thực hành phục hồi chức năng cho người chăm sóc bệnh nhân đột quỵ tại bệnh viện y dược cổ truyền.

Chuyên ngành

Điều Dưỡng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2020

89
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phục Hồi Chức Năng Vận Động Sau Đột Quỵ

Đột quỵ não là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn tật trên toàn thế giới. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), đột quỵ não hiện là nguyên nhân phổ biến thứ hai gây tử vong. Tại Việt Nam, di chứng sau đột quỵ gây ra gánh nặng lớn cho gia đình và xã hội, đặc biệt là các di chứng về vận động. Phục hồi chức năng (PHCN) vận động đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh. Việc phục hồi không chỉ diễn ra tại bệnh viện mà còn cần được tiếp tục tại gia đình. Nghiên cứu cho thấy 60-80% người tàn tật có thể phục hồi tại nhà sau khi xuất viện. Tuy nhiên, việc thực hành PHCN tại cộng đồng còn hạn chế do thiếu hướng dẫn cụ thể. Vì vậy, việc nâng cao kiến thứcthực hành PHCN cho người chăm sóc là vô cùng cần thiết để đạt hiệu quả cao trong chăm sóc và phục hồi cho người bệnh đột quỵ.

1.1. Định nghĩa và các thể đột quỵ não hiện nay

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), đột quỵ não hay tai biến mạch máu não là sự phát triển nhanh các dấu hiệu lâm sàng của rối loạn chức năng não. Hội Đột quỵ/Hội Tim mạch Hoa Kỳ đã cập nhật định nghĩa đột quỵ não thế kỷ 21, bao gồm nhồi máu hệ thần kinh trung ương, đột quỵ thiếu máu, nhồi máu não thầm lặng, chảy máu trong não, đột quỵ do chảy máu não và đột quỵ do chảy máu dưới nhện. Mỗi thể đột quỵ có những đặc điểm và nguyên nhân riêng biệt, ảnh hưởng đến phương pháp điều trị và phục hồi chức năng.

1.2. Tầm quan trọng của phục hồi chức năng vận động sớm

Phục hồi chức năng vận động sớm đóng vai trò then chốt trong việc giảm thiểu di chứng và cải thiện khả năng vận động của người bệnh. Bắt đầu phục hồi chức năng càng sớm sau đột quỵ, khả năng phục hồi càng cao. Việc phục hồi bao gồm các bài tập tăng cường sức mạnh cơ, cải thiện khả năng thăng bằng, và phục hồi các kỹ năng vận động hàng ngày. Theo tác giả Nguyễn Thị Lan, việc không nắm được thời điểm chính xác để bắt đầu PHCN cho người bệnh làm giảm cơ hội phục hồi do tiến hành PHCN chậm trễ.

II. Thực Trạng Kiến Thức Thực Hành PHCN ở Người Chăm Sóc Phú Thọ

Tại Phú Thọ, thực trạng kiến thức và thực hành phục hồi chức năng vận động cho người chăm sóc bệnh nhân đột quỵ còn nhiều hạn chế. Nhiều người chăm sóc chưa được trang bị đầy đủ kiến thức về các phương pháp phục hồi, thời điểm can thiệp, và cách thực hiện các bài tập một cách an toàn và hiệu quả. Điều này dẫn đến việc phục hồi chức năng cho người bệnh tại gia đình không đạt hiệu quả cao, ảnh hưởng đến quá trình phục hồi toàn diện. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan tại Quảng Ninh năm 2017 cho thấy tỉ lệ người chăm sóc có kiến thức đạt chỉ 7,4% trước can thiệp. Do đó, việc đánh giá và cải thiện kiến thức và thực hành của người chăm sóc là một ưu tiên hàng đầu.

2.1. Hạn chế về kiến thức phục hồi chức năng vận động

Người chăm sóc thường thiếu kiến thức về thời điểm bắt đầu phục hồi chức năng, tần suất và cường độ tập luyện phù hợp, cũng như cách theo dõi các dấu hiệu bất thường trong quá trình tập luyện. Họ có thể không biết cách đặt tư thế đúng cho người bệnh, cách hỗ trợ người bệnh thực hiện các bài tập vận động, hoặc cách phòng tránh các biến chứng trong quá trình phục hồi. Sự thiếu hụt kiến thức này có thể dẫn đến việc thực hiện sai phương pháp, gây hại cho người bệnh.

2.2. Khó khăn trong thực hành phục hồi chức năng tại nhà

Việc thực hành phục hồi chức năng tại nhà gặp nhiều khó khăn do thiếu trang thiết bị hỗ trợ, thiếu không gian tập luyện, và thiếu sự hướng dẫn chuyên môn từ nhân viên y tế. Người chăm sóc cũng có thể gặp khó khăn trong việc tạo động lực cho người bệnh tập luyện, hoặc trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình phục hồi. Bên cạnh đó, người chăm sóc có thể gặp khó khăn do thiếu thời gian, kiến thức và kinh nghiệm.

2.3. Tầm quan trọng của can thiệp giáo dục sức khỏe

Can thiệp giáo dục sức khỏe đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao kiến thức và kỹ năng thực hành cho người chăm sóc. Các chương trình giáo dục cần cung cấp thông tin chính xác và dễ hiểu về đột quỵ, các phương pháp phục hồi chức năng, và cách chăm sóc người bệnh một cách toàn diện. Chương trình cần có tính thực tiễn cao, hướng dẫn cụ thể và dễ áp dụng tại nhà, đồng thời tạo cơ hội cho người chăm sóc được thực hành và trao đổi kinh nghiệm.

III. Hướng Dẫn Chi Tiết Cách Phục Hồi Vận Động Tại Nhà cho Người Chăm Sóc

Phục hồi vận động tại nhà cần sự phối hợp chặt chẽ giữa người bệnh và người chăm sóc. Các bài tập cần được thiết kế phù hợp với tình trạng sức khỏe và khả năng vận động của người bệnh, đồng thời đảm bảo an toàn và hiệu quả. Người chăm sóc cần kiên nhẫn, động viên người bệnh, và theo dõi sát sao các dấu hiệu bất thường. Quan trọng nhất là tuân thủ hướng dẫn của bác sĩ và chuyên gia phục hồi chức năng. Việc chăm sóc đúng cách và tập luyện kiên trì sẽ giúp người bệnh cải thiện khả năng vận động và hòa nhập cộng đồng.

3.1. Hướng dẫn tư thế nằm và ngồi đúng cách cho bệnh nhân

Việc đặt tư thế đúng cách giúp ngăn ngừa các biến chứng như loét ép, co rút cơ, và đau khớp. Tư thế nằm ngửa cần đảm bảo đầu, vai, và hông thẳng hàng. Tư thế nằm nghiêng cần kê gối giữa hai chân để tránh chèn ép. Tư thế ngồi cần có sự hỗ trợ lưng để tránh mỏi. Người chăm sóc cần thay đổi tư thế cho người bệnh thường xuyên để tránh tì đè lâu.

3.2. Các bài tập vận động thụ động và chủ động cơ bản

Các bài tập vận động thụ động giúp duy trì tầm vận động khớp và ngăn ngừa co rút cơ. Người chăm sóc thực hiện các động tác gập, duỗi, xoay các khớp tay, chân cho người bệnh. Các bài tập vận động chủ động giúp tăng cường sức mạnh cơ và cải thiện khả năng vận động. Người bệnh tự thực hiện các động tác vận động theo khả năng của mình.

3.3. Hỗ trợ bệnh nhân thực hiện các hoạt động sinh hoạt hàng ngày

Hỗ trợ người bệnh thực hiện các hoạt động sinh hoạt hàng ngày như ăn uống, vệ sinh cá nhân, mặc quần áo, di chuyển giúp người bệnh tăng cường tính độc lập và tự tin. Người chăm sóc cần kiên nhẫn hướng dẫn và hỗ trợ người bệnh từng bước, khuyến khích người bệnh tự thực hiện những gì có thể.

IV. Nghiên Cứu Thay Đổi Kiến Thức Thực Hành Sau Can Thiệp Phú Thọ

Nghiên cứu tại Bệnh viện Y Dược Cổ truyền và Phục hồi chức năng tỉnh Phú Thọ năm 2020 cho thấy can thiệp giáo dục sức khỏe đã cải thiện đáng kể kiến thức và thực hành của người chăm sóc. Điểm trung bình kiến thức và thực hành của người chăm sóc tăng lên đáng kể sau can thiệp. Tỷ lệ người chăm sóc có kiến thức và thực hành đạt yêu cầu cũng tăng lên rõ rệt. Kết quả này khẳng định hiệu quả của việc cung cấp kiến thức và kỹ năng cho người chăm sóc trong việc nâng cao chất lượng phục hồi chức năng cho người bệnh đột quỵ. Nghiên cứu này là một minh chứng cho tầm quan trọng của việc đầu tư vào giáo dục sức khỏe cho cộng đồng, đặc biệt là những người chăm sóc bệnh nhân.

4.1. Phương pháp nghiên cứu can thiệp giáo dục sức khỏe

Nghiên cứu sử dụng phương pháp can thiệp giáo dục có so sánh trước sau. Đối tượng nghiên cứu là người chăm sóc chính của bệnh nhân đột quỵ tại Bệnh viện Y Dược Cổ truyền và Phục hồi chức năng tỉnh Phú Thọ. Nội dung can thiệp bao gồm cung cấp kiến thức về đột quỵ, các phương pháp phục hồi chức năng, và cách chăm sóc người bệnh. Sau can thiệp, kiến thức và thực hành của người chăm sóc được đánh giá lại để so sánh với trước can thiệp.

4.2. Kết quả sau can thiệp Tăng cường kiến thức và thực hành

Điểm trung bình kiến thức của người chăm sóc tăng từ 5.88 ± 2.41 lên 9.18 ± 2.83 sau can thiệp (p < 0.001). Tỷ lệ người chăm sóc có kiến thức đạt yêu cầu tăng từ 64% lên 76%. Điểm trung bình thực hành cũng tăng từ 8.96 ± 2.30 lên 15.68 ± 3.04 sau can thiệp (p < 0.001). Tỷ lệ người chăm sóc có thực hành đạt yêu cầu tăng từ 62% lên 84%.

V. Kết Luận Khuyến Nghị Về Phục Hồi Chức Năng Vận Động

Nghiên cứu đã chứng minh rằng can thiệp giáo dục sức khỏe có hiệu quả trong việc nâng cao kiến thức và thực hành phục hồi chức năng vận động cho người chăm sóc bệnh nhân đột quỵ. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức trong việc triển khai các chương trình phục hồi chức năng tại cộng đồng. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ sở y tế, tổ chức xã hội, và gia đình để đảm bảo người bệnh được tiếp cận với các dịch vụ phục hồi chức năng một cách toàn diện và liên tục. Đào tạo cho người chăm sóc, tuyên truyền nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của PHCN, và hỗ trợ về tài chính và nguồn lực là những yếu tố then chốt để cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh đột quỵ.

5.1. Tăng cường đào tạo cho người chăm sóc bệnh nhân đột quỵ

Cần có các chương trình đào tạo bài bản và chuyên sâu cho người chăm sóc về các phương pháp phục hồi chức năng, cách chăm sóc người bệnh, và cách phòng tránh các biến chứng. Chương trình cần được thiết kế phù hợp với trình độ và nhu cầu của người chăm sóc, đồng thời đảm bảo tính thực tiễn và dễ áp dụng tại nhà.

5.2. Xây dựng mạng lưới hỗ trợ phục hồi chức năng tại cộng đồng

Cần có một mạng lưới hỗ trợ phục hồi chức năng tại cộng đồng, bao gồm các cơ sở y tế, tổ chức xã hội, và nhóm tự giúp đỡ. Mạng lưới này có vai trò cung cấp thông tin, tư vấn, và hỗ trợ cho người bệnh và người chăm sóc, đồng thời tạo điều kiện cho họ được giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm, và động viên lẫn nhau.

23/05/2025
Luận văn thạc sĩ thay đổi kiến thức và thực hành về phục hồi chức năng vận động cho người chăm sóc chính người bệnh đột quỵ não tại bệnh viện y dược cổ truyền

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Định nghĩa Theo Tổ chức Y tế Thế giới, đột quỵ hay tai biến mạch não là “Phát triển nhanh các dấu hiệu lâm sàng của rối loạn cục bộ hoặc lan tỏa chức năng não, kéo dài trên 24 giờ hoặc dẫn đến tử vong mà không có biểu hiện của nguyên nhân khác ngoài nguyên nhân mạch máu [7]. Hội Đột quỵ/ Hội Tim mạch Hoa Kỳ đã đề xuất một tài liệu cập nhật định nghĩa đột quỵ não của thế kỷ 21. Định nghĩa “Đột quỵ não” bao gồm những định nghĩa riêng cho các thể tổn thương cụ thể [40]: Định nghĩa nhồi máu hệ thần kinh trung ương: là tế bào não, tủy sống hoặc võng mạc bị chết do thiếu máu, xác định dựa vào: - Giải phẫu bệnh, hình ảnh học, hoặc bằng chứng bổ trợ khác về tổn thương ở não, tủy sống hoặc võng mạc do thiếu máu cục bộ thuộc vùng phân bố một động mạch xác định.

- Bằng chứng lâm sàng tổn thương thiếu máu cục bộ não, tủy sống hoặc võng mạc dựa trên các triệu chứng tồn tại ≥ 24 giờ hoặc tới khi tử vong, loại trừ các nguyên nhân khác. Định nghĩa đột quỵ thiếu máu: là một giai đoạn rối loạn chức năng thần kinh do nhồi máu khu trú não, tủy sống hoặc võng mạc. Định nghĩa nhồi máu não thầm lặng hệ thần kinh trung ương: có bằng chứng chẩn đoán hình ảnh hoặc giải phẫu bệnh của nhồi máu hệ thần kinh trung ương mà không có biểu hiện rối loạn chức năng thần kinh cấp tính liên quan tới tổn thương. Định nghĩa chảy máu trong não: là sự hình thành ổ máu tụ khu trú trong nhu mô não hoặc hệ thống não thất không do chấn thương.

Định nghĩa đột quỵ do chảy máu não: các triệu chứng rối loạn chức năng thần kinh phát triển nhanh liên quan tới ổ máu tụ khu trú trong nhu mô não hoặc hệ download by : skknchat@gmail.truyen 5 thống não thất hình thành không do chấn thương. Định nghĩa đột quỵ do chảy máu dưới nhện: là sự phát triển nhanh chóng các triệu chứng thần kinh và/hoặc đau đầu do máu chảy vào khoang dưới nhện (khoang giữa màng nhện và màng mềm của não hoặc tủy sống), không do nguyên nhân chấn thương. Định nghĩa đột quỵ do huyết khối xoang tĩnh mạch não: nhồi máu hoặc chảy máu trong não, tủy sống hoặc võng mạc do huyết khối ở hệ thống tĩnh mạch não. Các triệu chứng do quá trình phù não có hồi phục, không bị nhồi máu hoặc chảy máu thì không coi là đột quỵ.

Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ Nguyên nhân [7] Đột quỵ não có thể là tắc mạch não hoặc chảy máu não, hoặc kết hợp cả hai: tắc mạch não (nhồi máu não): vùng tổ chức não bị hoại tử do không được cung cấp máu. Tắc mạch có thể do: cục máu đông hình thành tại chỗ, thường do vữa xơ động mạch não. Hoặc cục máu đông từ nơi khác đến động mạch não, hay gặp trong các bệnh tim, đặc biệt là các bệnh tim có loạn nhịp hoàn toàn (rung nhĩ), hoặc nhiễm khuẩn như viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn. Chảy máu não (xuất huyết não): do vỡ mạch não gây chảy máu vào trong tổ chức não, chảy máu não thường xảy ra trên cơ sở vỡ túi phồng; hoặc vỡ dị dạng mạch não.

Đột quỵ có thể là nhồi máu não hay xuất huyết não nhưng đều gây ra cùng một hậu quả là làm cho tế bào não bị đói ô- xy và dinh dưỡng, dẫn tới chết tế bào não từ đó dẫn đến mất chức năng não tương ứng. Yếu tố nguy cơ [7] Các yếu tố nguy cơ chính: Túi phồng hoặc dị dạng mạch não có trước. Bệnh tim đặc biệt bệnh tim có rung nhĩ. Các yếu tố nguy cơ khác: Các yếu tố nguy cơ có thể điều chỉnh được: lạm dụng rượu, thuốc lá, béo phì, lối sống trì trệ, sang chấn tinh thần, mức Cholesterol máu cao, Triglycerit máu cao, tiền sử đột quỵ, tiêm chích heroin.

Yếu tố nguy cơ không điều chỉnh được: tuổi cao, giới tính, gia đình. download by : skknchat@gmail. Triệu chứng lâm sàng của đột quỵ não Biểu hiện lâm sàng [7] ĐQN có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi trưởng thành, tuy nhiên thường xảy ra ở một người lớn tuổi có các yếu tố nguy cơ cao như: tăng huyết áp; vữa xơ động mạch; bệnh tim đặc biệt là bệnh tim có rung nhĩ; hoặc đái tháo đường. Có thể xuất hiện những dấu hiệu cảnh báo: Đột ngột tê yếu nửa mặt; hoặc tê yếu một tay hoặc một chân; Đột ngột rối loạn về giọng nói; Đột ngột rối loạn về nhìn; Đột ngột mất thăng bằng; Đột ngột đau đầu dữ dội mà không có nguyên do từ trước.

Những biểu hiện rõ rệt của rối loạn hoặc mất chức năng não: phụ thuộc vào mức độ, vị trí vùng não bị tổn thương và thời gian kể từ lúc xảy ra ĐQN, người bệnh có thể chịu một hay nhiều rối loạn hoặc mất chức năng não như: - Liệt nửa người bên trái hoặc bên phải do tổn thương bán cầu đại não bên đối diện. - Liệt nửa mặt cùng bên hoặc khác bên so với liệt nửa thân với các biểu hiện như miệng méo, nhân trung lệch về bên lành, nước miệng chảy ra bên liệt. - Rối loạn ngôn ngữ: có thể thất ngôn, nói khó, nói ngọng, thất đọc nếu tổn thương vùng tiếng nói trên bán cầu đại não trái. - Rối loạn về nuốt: nuốt khó, nuốt sặc do liệt màn hầu nếu tổn thương dây thần kinh số IX, X, XI, không nhai được nếu tổn thương dây số V.

- Rối loạn cơ tròn: đái ỉa không tự chủ; hoặc bí đái, bí ỉa. Rối loạn nhận thức: lú lẫn, thờ ơ, suy giảm trí nhớ. Trường hợp nặng: Người bệnh có thể hôn mê và dễ gây tắc đờm, tụt lưỡi; Rối loạn kiểu thở Cheyne - Stokes, suy hô hấp; Tử vong nhanh chóng. Biểu hiện tổn thương dựa trên chẩn đoán hình ảnh: Chụp cắt lớp vi tính sọ não-CT (Computed Tomograpphy Scan): Giúp phân biệt được ĐQN là xuất huyết hay nhồi máu não và phân biệt với các tổn thương khác tại não có thể gây ra các biểu hiện lâm sàng giống ĐQN.

Chụp cộng hưởng từ-MRI (Magnetic Resonance Imaging): có độ nhạy cao hơn, phát hiện được tổn thương nhồi máu não ở giai đoạn download by : skknchat@gmail.truyen 7 sớm hơn và những ổ nhồi máu não kích thước nhỏ, tuy nhiên giá thành đắt hơn so với chụp CT. Một số thăm dò và xét nghiệm khác: siêu âm mạch cảnh, chụp động mạch não, các xét nghiệm cơ bản. Tiến triển của tổn thương não trong đột quỵ [7]. Khi xảy ra đột quỵ, chết tế bào não đầu tiên ở vùng lõi (core) và tiếp tục lan rộng theo thời gian ra vùng lân cận còn gọi là vùng tranh sáng tranh tối (penumbra) được coi là vùng có thể cứu vãn được vì tổn thương có thể đảo ngược được nếu được cung cấp máu nhanh chóng trở lại.

Không giống như nhiều bộ phận khác trong cơ thể, tế bào não không được dự trữ năng lượng cho những trạng thái khẩn cấp, mà phụ thuộc hoàn toàn vào sự cấp máu liên tục tới não. Do vậy sự gián đoạn cung cấp máu tới tổ chức não càng kéo dài thì tổn thương não càng nhiều và tình trạng người bệnh càng trầm trọng. Phương pháp điều trị Người bệnh đột quỵ càng được điều trị sớm càng tốt, việc điều trị có thể chia làm hai giai đoạn. Giai đoạn cấp [7] Hồi sức toàn diện, với người bệnh đột quỵ não có hôn mê cần đảm bảo thông khí, hỗ trợ hô hấp và duy trì tuần hoàn: Hút đờm dãi, đặt nội khí quản hoặc mở khí quản, thở máy.

Duy trì mạch huyết áp ổn định, cho phép giữ huyết áp ở mức 150/100mmHg để đảm bảo cung cấp máu cho não, không hạ huyết áp quá nhanh và mạch khi đã có đột quỵ. Điều trị đặc hiệu: tùy theo nguyên nhân và loại đột quỵ: Thuốc tiêu huyết khối với những trường hợp đột quỵ do tắc mạch và không có nguy cơ chảy máu. Phẫu thuật lấy máu tụ với một số trường hợp xuất huyết não có chỉ định. Tăng cường chăm sóc và nuôi dưỡng.

Giải quyết các biến chứng nhiễm trùng, loét. Sử dụng một số thuốc hỗ trợ: Thuốc chống đông: Heparin, Wafarine, Aspirin trong trường hợp tắc mạch não. Thuốc giãn cơ trơn mạch máu não: Nimodipin.Thuốc bảo vệ và dinh dưỡng não: Cerebrolysin, Nootropyl, Tanakan. Giai đoạn ổn định: Chủ yếu là điều trị phục hồi chức năng nhằm cải thiện download by : skknchat@gmail.truyen 8 khả năng tự chăm sóc và hoạt động thể lực cho người bệnh và giải quyết các biến chứng và ngăn ngừa đột quỵ tái phát trên cơ sở giải quyết các yếu tố nguy cơ.

Dự phòng Có bằng chứng thuyết phục rằng đột quỵ rất có thể phòng ngừa, điều trị và kiểm soát được, và tiềm năng tồn tại để giảm đáng kể gánh nặng của đột quỵ và hậu quả lâu dài của nó [7] [34]. - Kiểm soát tốt các yếu tố có nguy cơ cao gây đột quỵ như tăng huyết áp, đái tháo đường và các bệnh tim mạch nói chung. - Tầm soát phát hiện các trường hợp túi phồng hoặc dị dạng mạch não để chủ động can thiệp trước khi biến chứng vỡ vào tổ chức não. - Ngăn ngừa đột quỵ do tắc mạch bằng phát hiện và điều trị sớm bệnh van tim, rung nhĩ, viêm nội tâm mạch nhiễm khuẩn.

- Loại bỏ các yếu tố nguy cơ khác như: bỏ hút thuốc lá, kiềm chế trọng lượng, điều chỉnh rối loạn lipid máu. - Hạn chế diễn biến xấu khi ĐQN xảy ra: nhận biết được các dấu hiệu cảnh báo, rút ngắn thời gian được khẳng định chẩn đoán và được điều trị. Tiến triển và biến chứng [7] Tỷ lệ tử vong do đột quỵ não trước đây đứng hàng thứ 3 sau bệnh tim mạch và ung thư nhưng ngày nay đã đứng thứ 2 chỉ sau bệnh tim mạch. Khoảng 40% người bệnh đột quỵ có triệu chứng thần kinh nặng nề ngay từ đầu sẽ tử vong trong vòng 30 ngày.

Tỷ lệ tử vong của người bệnh chảy máu não cao hơn nhồi máu não. Khả năng sống sót: khoảng 3/4 số người bệnh đột quỵ sống sót được qua 30 ngày, khoảng 1/3 người bệnh chảy máu não sống sót được qua giai đoạn cấp, trên 4/5 số người bệnh nhồi máu não sống sót tới ngày thứ 30. Tỷ lệ tàn phế do đột quỵ đứng đầu trong các bệnh thần kinh. Tình hình đột quỵ não trên thế giới và Việt Nam ĐQN đang là nguyên nhân phổ biến đứng thứ hai và dự báo đến năm 2030 sẽ trở thành một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên phạm vi toàn thế giới [36].

Theo tổ chức y tế thế giới hàng năm có khoảng 15 triệu người trên toàn download by : skknchat@gmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Nâng cao Kiến thức và Thực hành Phục hồi Chức năng Vận động cho Người Chăm sóc Bệnh Nhân Đột Quỵ tại Phú Thọ" cung cấp những thông tin quý giá về cách nâng cao kỹ năng và kiến thức cho những người chăm sóc bệnh nhân đột quỵ. Tài liệu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về quy trình phục hồi chức năng mà còn cung cấp các phương pháp thực hành hiệu quả để hỗ trợ bệnh nhân trong quá trình hồi phục.

Một trong những điểm nổi bật của tài liệu là việc nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đào tạo và trang bị kiến thức cho người chăm sóc, từ đó nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân. Điều này không chỉ mang lại lợi ích cho bệnh nhân mà còn giúp người chăm sóc tự tin hơn trong công việc của mình.

Nếu bạn muốn mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp điều trị và chăm sóc bệnh nhân, bạn có thể tham khảo tài liệu Phân tích hiệu quả bước đầu sử dụng kháng sinh dự phòng trên bệnh nhân mổ lấy thai tại bệnh viện phụ sản hải phòng. Tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc hơn về việc áp dụng các biện pháp y tế trong chăm sóc sức khỏe, từ đó giúp bạn có thêm kiến thức để phục vụ tốt hơn cho bệnh nhân của mình.