ĐẶT VẤN ĐỀ Kháng sinh là vũ khí quan trọng để chống lại các vi khuẩn gây bệnh. Sự ra đời của kháng sinh đã cứu sống hàng triệu người, đánh dấu một kỷ nguyên mới của y học về điều trị các bệnh nhiễm khuẩn. Việc sử dụng kháng sinh không đúng chỉ định, sử dụng kéo dài, chưa hợp lý có thể làm cho tình trạng đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn ngày một tăng. Tình trạng đề kháng kháng sinh làm ảnh hưởng đến kết quả điều trị các bệnh nhiễm khuẩn, làm gia tăng tỷ lệ tử vong cho bệnh nhân; Mặc khác, thời gian điều trị kháng sinh kéo dài, làm chi phí điều trị tăng cao, đồng thời làm ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh.
Nhiều nghiên cứu tiến hành trên thế giới và Việt Nam cho thấy, đã xuất hiện nhiều loại vi khuẩn kháng thuốc và tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn đang tăng dần theo thời gian [33], [13]. Chỉ riêng tại Hoa Kỳ, một thực trạng đáng báo động hiện nay là các vi khuẩn đề kháng kháng sinh tiếp tục gây nhiễm trùng cho 2 triệu bệnh nhân và dẫn tới 23.000 ca tử vong mỗi năm [19]. Theo thống kê cơ quản lý Dược phẩm Châu Âu (EMA), ước tính khoảng 25.000 trường hợp tử vong do vi khuẩn đa kháng thuốc và gánh nặng kinh tế của đề kháng kháng sinh lên đến 1,5 tỉ Euro mỗi năm [45]. Ước tính đến năm 2050, trên toàn thế giới, số người chết vì kháng kháng sinh có thể lên tới 10 triệu người.
Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ kháng kháng sinh cao trong khu vực Châu Á,[Cục Quản lý Khám chữa bệnh - Bộ Y tế, Đại sứ quán Anh tại Việt Nam và Văn phòng đại diện GSK Pte Ltd tại Việt Nam ký Biên bản ghi nhớ Chương trình Hợp tác phòng, chống kháng kháng sinh tại Việt Nam 2021 - 2023.Có rất nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến việc sử dụng kháng sinh không an toàn, hợp lý, như việc kê đơn không đúng quy chế, kê quá nhiều thuốc kháng sinh trong một đơn, hay lạm dụng khánh sinh cho bệnh nhân, kê đơn kháng sinh là thuốc có tính thương mãi cao, nội dung ghi hướng dẫn sử dụng thuốc cho bệnh nhân còn sai soát và chưa đầy đủ về hàm lượng, liều dùng, thời điểm dùng thông tin bệnh nhân chưa đầy đủ [5], các tình trạng này đang có nguy cơ gia tăng và khó kiểm soát tại nhiều cơ sở điều trị. Vì thế, việc sử dụng thuốc kháng sinh an toàn, hợp lý đang trở thành một vấn đề quan trọng toàn cầu hiện nay. Để quản lý việc kê đơn thuốc kháng sinh điều trị ngoại trú đúng, Bộ y tế đã ban hành nhiều văn bản như: Quyết định 708/QĐ-BYT ngày 2 tháng 3 năm 2015, “Hướng dẫn sử 2 dụng kháng sinh; Quyết định 772/QĐ-BYT ngày 04 tháng 3 năm 2016, “Hướng dẫn thực hiện quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện”; Thông tư 05/2016/TT-BYT ngày 29/2/2016, “Quy định về quy chế kê đơn trong điều trị ngoại trú” Tại Bệnh viện đa khoa Thành phố Cà Mau, trong bối cảnh sự đề kháng kháng sinh được ghi nhận ngày một gia tăng trong giai đoạn 2005-2011, từ năm 2012 Bệnh viện đã khởi động triển khai chương trình tổng thể quản lý sử dụng kháng sinh. Bắt đầu từ việc tập hợp dữ liệu vi sinh, dữ liệu lâm sàng, xây dựng và ban hành “Hướng dẫn sử dụng kháng sinh”của Bệnh viện.
Từ năm 2014, chương trình quản lý kháng sinh của Bệnh viện được đưa vào thực hiện để giám sát việc sử dụng kháng sinh trong điều trị tại các khoa lâm sàng có bệnh nhân điều trị nội trú thuộc Bệnh viện. Sau 03 năm thực hiện, chương trình đã thu được nhiều thành tựu về tăng cường sử dụng kháng sinh hợp lý trong điều trị nội trú và sử dụng kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật, tiết kiệm được khá nhiều kinh phí chi cho việc sử dụng kháng sinh tại Bệnh viên. Từ cuối năm 2017, một nội dung quan trọng của chương trình quản lý kháng sinh tại Bệnh viện được đặt ra là cần phải giám sát được việc kê đơn, sử dụng kháng sinh cho đối tượng bệnh nhân ngoại trú và nội dung này được giao cho Khoa Dược thực hiện. Nhằm cung cấp những cơ sở khoa học về thực trạng kê đơn sử dụng kháng sinh cho bệnh nhân điều trị ngoại trú tại khoa khám bệnh của bệnh viện Đa khoa tỉnh Cà Mau, chúng tôi thực hiện đề tài: “Khảo sát thực trạng kê đơn thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh nhân ngoại trú tại bệnh viện Đa khoa thành phố Cà Mau năm 2019 – 2020” với 2 mục tiêu sau: 1.
Xác định tỷ lệ đơn thuốc có chỉ định thuốc kháng sinh và chỉ định kháng sinh đúng theo qui định của Bộ Y Tế trong điều trị bệnh nhân ngoại trú tại bệnh viện Đa khoa thành phố Cà Mau năm 2019-2020. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến việc chỉ định KS chưa đúng theo qui định của Bộ Y Tế trong các đơn thuốc có kháng sinh của bệnh nhân ngoại trú tại bệnh viện Đa khoa thành phố Cà Mau.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. QUI ĐỊNH KÊ ĐƠN THUỐC THEO QUI ĐỊNH CỦA BỘ Y TẾ 1. Khái niệm đơn thuốc Đơn thuốc là tài liệu chỉ định dùng thuốc của bác sĩ cho người bệnh.
Là căn cứ hợp pháp để bán thuốc, cấp phát thuốc, pha chế thuốc theo đơn và sử dụng thuốc. Quy định kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú Thông tư số 52/2017/TT- BYT ban hành ngày 29/12/2017 “Quy định về đơn thuốc và kê đơn thuốc hóa dược, sinh phẩm trong điều trị ngoại trú [6], một số vấn đề cụ thể như sau: 1. Nguyên tắc kê đơn thuốc - Chỉ được kê đơn thuốc sau khi đã có kết quả khám bệnh, chẩn đoán bệnh. - Kê đơn thuốc phù hợp với chẩn đoán bệnh và mức độ bệnh.
- Việc kê đơn thuốc phải đạt được mục tiêu an toàn, hợp lý và hiệu quả. Ưu tiên kê đơn thuốc dạng đơn chất hoặc thuốc generic. - Việc kê đơn thuốc phải phù hợp với một trong các tài liệu sau đây: + Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị hoặc Hướng dẫn điều trị và chăm sóc HIV/AIDS do Bộ Y tế ban hành hoặc công nhận; Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị của cơ sở khám, chữa bệnh xây dựng theo quy định tại Điều 6 Thông tư số 21/2013/TT- BYT ngày 08 tháng 8 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Thuốc và Điều trị trong bệnh viện trong trường hợp chưa có hướng dẫn chẩn đoán và điều trị của Bộ Y tế. + Tờ hướng dẫn sử dụng thuốc đi kèm với thuốc đã được phép lưu hành.
+ Dược thư quốc gia của Việt Nam. - Số lượng thuốc được kê đơn thực hiện theo Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị được quy định tại Điểm a Khoản 4 Điều này hoặc đủ sử dụng nhưng tối đa không quá 30 (ba mươi) ngày, trừ trường hợp quy định tại các điều 7, 8 và 9 Thông tư này. - Đối với người bệnh phải khám từ 3 chuyên khoa trở lên trong ngày thì người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc người được người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ủy quyền (trưởng khoa khám bệnh, trưởng khoa lâm sàng) hoặc người phụ trách chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh sau khi xem xét kết quả khám bệnh của các chuyên khoa trực tiếp kê đơn hoặc phân công bác sỹ có chuyên khoa phù hợp để kê đơn thuốc cho người bệnh. 4 - Bác sỹ, y sỹ tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến 4 được khám bệnh, chữa bệnh đa khoa và kê đơn thuốc điều trị của tất cả chuyên khoa thuộc danh mục kỹ thuật ở tuyến (danh mục kỹ thuật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt).
- Trường hợp cấp cứu người bệnh, bác sĩ, y sĩ quy định tại các khoản 1, 2 Điều 2 Thông tư này kê đơn thuốc để xử trí cấp cứu, phù hợp với tình trạng của người bệnh. - Không được kê vào đơn thuốc các nội dung quy định tại Khoản 15 Điều 6 Luật dược, cụ thể: + Các thuốc, chất không nhằm mục đích phòng bệnh, chữa bệnh; + Các thuốc chưa được phép lưu hành hợp pháp tại Việt Nam, + Thực phẩm chức năng; + Mỹ phẩm. Yêu cầu về hình thức kê đơn thuốc - Kê đơn thuốc đối với người bệnh đến khám bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh: Người kê đơn thuốc thực hiện kê đơn vào Đơn thuốc hoặc sổ khám bệnh (sổ y bạ) của người bệnh theo mẫu quy định tại Phụ lục IV ban hành kèm theo Thông tư này và số theo dõi khám bệnh hoặc phần mềm quản lý người bệnh của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. - Kê đơn thuốc đối với người bệnh điều trị ngoại trú: Người kê đơn thuốc ra chỉ định điều trị vào sổ khám bệnh (sổ y bạ) của người bệnh và bệnh án điều trị ngoại trú hoặc phần mềm quản lý người bệnh của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
- Kê đơn thuốc đối với người bệnh ngay sau khi kết thúc việc điều trị nội trú: + Trường hợp tiên lượng người bệnh cần tiếp tục sử dụng thuốc từ 01 (một) đến đủ 07 (bảy) ngày thì kê đơn thuốc (chỉ định điều trị) tiếp vào đơn thuốc hoặc sổ khám bệnh của người bệnh và bệnh án điều trị nội trú hoặc phần mềm quản lý người bệnh của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. + Trường hợp tiên lượng người bệnh cần tiếp tục điều trị trên 07 (bảy) ngày thì kê đơn thuốc theo quy định tại khoản 2 điều này, hoặc chuyển tuyến về cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phù hợp để tiếp tục điều trị. - Kê đơn thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, thuốc tiền chất theo thực hiện theo quy định tại các điều 7, 8 và 9 Thông tư này. Yêu cầu chung với nội dung kê đơn thuốc - Ghi đủ, rõ ràng và chính xác các mục in trong đơn thuốc hoặc trong sổ khám bệnh của người bệnh.
5 - Ghi địa chỉ nơi người bệnh thường trú hoặc tạm trú: số nhà, đường phố, tổ dân phố hoặc thôn/ấp/bản, xã/phường/thị trấn, quận/huyện/thị xã/thành phố thuộc tỉnh, tỉnh/thành phố. - Đối với trẻ dưới 72 tháng tuổi: ghi số tháng tuổi, cân nặng, tên bố hoặc mẹ của trẻ hoặc người đưa trẻ đến khám bệnh, chữa bệnh. - Kê đơn thuốc theo quy định như sau: + Thuốc có một hoạt chất + Theo tên chung quốc tế (INN, generic); Ví dụ: thuốc có hoạt chất là Paracetamol, hàm lượng 500mg thì ghi tên thuốc như sau: Paracetamol 500mg. + Theo tên chung quốc tế + (tên thương mại).