Tổng quan nghiên cứu

Nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM) là một trong những biến cố nhiễm khuẩn bệnh viện phổ biến hàng đầu, đe dọa an toàn người bệnh và gia tăng đáng kể chi phí chăm sóc y tế toàn cầu. Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC), NKVM chiếm khoảng 24,0% tổng số nhiễm khuẩn bệnh viện với tỷ lệ tử vong liên quan ước tính 1,9%. Tại Việt Nam, tỷ lệ NKVM dao động trong khoảng 5,0% đến 15,0% trên tổng số ca phẫu thuật. Riêng trong lĩnh vực sản khoa, tỷ lệ NKVM sau phẫu thuật mổ lấy thai trên thế giới ghi nhận từ 2,5% đến 20,5%, trong khi các nghiên cứu tại Bệnh viện Từ Dũ và Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 ghi nhận tỷ lệ này từ 1,9% đến 5,0%.

Sử dụng kháng sinh dự phòng (KSDP) đúng quy chuẩn đã được chứng minh có thể làm giảm hơn 50,0% nguy cơ nhiễm khuẩn sau phẫu thuật. Tại Bệnh viện Đa khoa Thảo Nguyên huyện Mộc Châu – cơ sở khám chữa bệnh hạng II với quy mô 320 giường bệnh – số lượng sản phụ phẫu thuật mổ lấy thai ngày càng gia tăng, đòi hỏi việc giám sát sử dụng kháng sinh phải được chuẩn hóa theo các phác đồ cập nhật.

Nghiên cứu được tiến hành nhằm đạt 2 mục tiêu cụ thể:

  1. Phân tích mức độ và xu hướng tiêu thụ kháng sinh tại khoa Sản giai đoạn 2019 - 2022 thông qua chỉ số Defined Daily Dose (DDD)/100 ngày nằm viện.
  2. Phân tích thực trạng và đánh giá tính hợp lý của việc sử dụng kháng sinh dự phòng trên 164 bệnh nhân phẫu thuật mổ lấy thai từ ngày 01/3/2022 đến ngày 31/8/2022.

Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực chứng giá trị, hỗ trợ Hội đồng Thuốc và Điều trị tối ưu hóa quy trình quản lý kháng sinh, giảm thiểu nguy cơ vi khuẩn đề kháng và nâng cao chất lượng điều trị sản khoa tại bệnh viện tuyến huyện miền núi.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng hệ thống lý thuyết quản lý sử dụng kháng sinh (Antimicrobial Stewardship - AMS) cùng các hướng dẫn chuyên môn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Hội Dược sĩ Bệnh viện Hoa Kỳ (ASHP 2013) và Bộ Y tế Việt Nam. Khung lý thuyết trọng tâm bao gồm:

  • Mô hình đánh giá nguy cơ nhiễm khuẩn ngoại khoa: Áp dụng phân loại thể trạng theo Thang điểm ASA (American Society of Anesthesiologists) từ 1 đến 5 điểm kết hợp hệ thống chỉ số giám sát nhiễm khuẩn quốc gia Hoa Kỳ (NNIS). Điểm số NNIS (từ 0 đến 3 điểm) được tổng hợp từ 3 biến số: điểm ASA từ 3 trở lên, loại phẫu thuật nhiễm/bẩn và thời gian phẫu thuật vượt quá ngưỡng T-cutpoint.
  • Nguyên lý dược động học/dược lực học (PK/PD) trong KSDP: Đảm bảo nồng độ kháng sinh tự do tại mô phẫu thuật vượt nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của vi khuẩn đích ngay từ thời điểm rạch da đến khi đóng vết mổ hoàn tất.
  • Hệ thống phân loại ATC/DDD: Phương pháp chuẩn hóa quốc tế của WHO nhằm lượng hóa tiêu thụ thuốc thông qua số liều xác định hàng ngày trên 100 ngày nằm viện (DDD/100 ngày nằm viện).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế kết hợp giữa phân tích định lượng hồi cứu chuỗi thời gian và mô tả cắt ngang lâm sàng:

  • Phương pháp thu thập dữ liệu tiêu thụ (Mục tiêu 1): Thu thập toàn bộ dữ liệu xuất kho kháng sinh và tổng số ngày nằm viện tại các khoa lâm sàng từ phần mềm quản lý bệnh viện giai đoạn 2019 - 2022 (48 tháng). Nghiên cứu loại trừ dữ liệu ngoại trú tại đơn nguyên thận nhân tạo. Xu hướng tiêu thụ được kiểm định bằng trắc nghiệm phi tham số Mann-Kendall.
  • Phương pháp chọn mẫu bệnh án mổ lấy thai (Mục tiêu 2): Áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện toàn bộ. Từ tổng số 1105 bệnh án sản khoa ra viện trong giai đoạn 01/3/2022 - 31/8/2022, sau khi loại trừ 224 ca đẻ thường, 617 bệnh án điều trị phụ khoa khác và 100 ca phẫu thuật dùng kháng sinh điều trị, nghiên cứu thu được cỡ mẫu chính thức gồm 164 bệnh án mổ lấy thai có sử dụng KSDP.
  • Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Việc kết hợp chỉ số DDD định lượng cùng tiêu chí đánh giá định tính của ASHP (về chỉ định, hoạt chất, liều lượng, đường dùng, thời điểm dùng trong vòng 120 phút theo WHO 2016 và thời gian duy trì dưới 24 giờ) giúp phản ánh toàn diện cả quy mô tiêu thụ lẫn chất lượng thực hành kê đơn. Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0 và Microsoft Excel 2010 tích hợp công cụ XLSTAT 2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

  1. Mức độ và xu hướng tiêu thụ kháng sinh: Trong giai đoạn 2019 - 2022, mức tiêu thụ kháng sinh trung bình tại khoa Sản đạt 64,3 DDD/100 ngày nằm viện, cao hơn 47,8% so với mức trung bình toàn viện (43,5 DDD/100 ngày nằm viện). Đến năm 2022, mức tiêu thụ tại khoa Sản đã giảm xuống còn 57,7 DDD/100 ngày nằm viện. Nhóm Penicillin (J01C) và Cephalosporin (J01D) chiếm tỷ trọng tiêu thụ lớn nhất. Kiểm định Mann-Kendall ghi nhận nhóm Nitroimidazol (P01AB) có xu hướng tiêu thụ gia tăng rõ rệt (hệ số S = 70, p = 0,002), trong khi Amoxicilin đường uống là kháng sinh đơn lẻ tiêu thụ nhiều nhất, đạt đỉnh 40,11 DDD/100 ngày nằm viện vào năm 2021.
  2. Đặc điểm mẫu nghiên cứu lâm sàng: Độ tuổi trung bình của sản phụ là 27,4 ± 6,3 tuổi. Tỷ lệ chỉ định mổ lấy thai do bất thường từ mẹ chiếm 55,5% và do bất thường từ thai chiếm 52,4%. Về yếu tố nguy cơ, 84,1% sản phụ có điểm ASA ≤ 2, 15,9% có điểm ASA = 3; tỷ lệ ối vỡ sớm là 7,9% và 15,9% có chỉ số NNIS = 1 điểm. Thời gian phẫu thuật trung vị đạt 40 phút (khoảng tứ phân vị 40 - 45 phút) và 100% ca mổ kết thúc dưới 60 phút.
  3. Mức độ tuân thủ quy chuẩn KSDP: 100% bệnh nhân được chỉ định KSDP đơn trị liệu qua đường tiêm tĩnh mạch. Tỷ lệ đưa kháng sinh trong vòng 120 phút trước rạch da đạt 100%, tỷ lệ ngừng thuốc trong vòng 24 giờ sau mổ đạt 100%, và tính phù hợp về liều dùng đạt 96,3% (158/164 ca). Tuy nhiên, mức độ lựa chọn kháng sinh phù hợp theo danh mục ưu tiên của ASHP chỉ đạt 1,8% (3/164 ca dùng Cefazolin). Thực tế lâm sàng ưu tiên lựa chọn Cefoxitin thế hệ 2 (47,6% - 78 ca) và Cefoperazon thế hệ 3 (44,5% - 73 ca).
  4. Hiệu quả lâm sàng: Tỷ lệ NKVM nông chỉ chiếm 0,6% (1 trường hợp), không ghi nhận ca nào bị NKVM sâu hay nhiễm khuẩn khoang cơ quan. 100% sản phụ ra viện trong tình trạng hồi phục hoàn toàn sau thời gian nằm viện sau mổ trung vị là 4,5 ngày.

Thảo luận kết quả

Thực trạng sử dụng KSDP tại khoa Sản cho thấy tỷ lệ tuân thủ tuyệt đối (100%) ở các tiêu chí then chốt như đường dùng tiêm tĩnh mạch, thời điểm đưa thuốc trước rạch da và thời gian ngưng thuốc trước 24 giờ. Việc kiểm soát thời gian sử dụng dưới 24 giờ đã đóng góp trực tiếp vào xu hướng giảm mức tiêu thụ chung từ 64,3 xuống 57,7 DDD/100 ngày nằm viện vào năm 2022. Khi biểu diễn dữ liệu qua biểu đồ đường xu hướng giai đoạn 2019 - 2022, sự đi xuống của lượng kháng sinh tiêu thụ toàn viện phản ánh rõ nét hiệu quả ban đầu của chương trình quản lý kháng sinh triển khai từ năm 2021.

Tuy nhiên, khoảng trống lớn nhất nằm ở việc lựa chọn hoạt chất. Tỷ lệ sử dụng Cefazolin (kháng sinh thế hệ 1 được ASHP khuyến cáo đầu tay) chỉ đạt 1,8%, trong khi các kháng sinh phổ rộng như Cefoperazon (thế hệ 3) lại chiếm tới 44,5%. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ thói quen kê đơn dự phòng bao vây vi khuẩn đường ruột và tính sẵn có của cơ số thuốc đấu thầu tại địa phương. Dù tỷ lệ NKVM nông duy trì ở mức rất thấp (0,6% so với mức trung bình 1,9% - 5,0% trong các báo cáo tại các bệnh viện tuyến trung ương), việc lạm dụng Cephalosporin thế hệ 3 trong dự phòng ngoại khoa sạch - nhiễm tiềm ẩn nguy cơ chọn lọc chủng vi khuẩn kháng thuốc (như trực khuẩn Gram âm tiết ESBL) và gia tăng chi phí điều trị không cần thiết.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Chuẩn hóa danh mục và phác đồ KSDP sản khoa: Hội đồng Thuốc và Điều trị cần ban hành quy định bắt buộc sử dụng Cefazolin 2g tiêm tĩnh mạch đơn liều là lựa chọn hàng đầu cho mổ lấy thai không biến chứng, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ lựa chọn đúng kháng sinh theo chuẩn ASHP từ 1,8% lên tối thiểu 80,0% trong vòng 12 tháng tới.
  2. Giảm thiểu sử dụng Cephalosporin thế hệ 3: Khoa Dược phối hợp với Khoa Sản đưa Cefoperazon và các Cephalosporin thế hệ 3 vào nhóm kháng sinh cần kiểm soát, hướng tới cắt giảm tỷ lệ chỉ định dự phòng nhóm thuốc này xuống dưới 10,0% vào quý 4 năm sau.
  3. Duy trì giám sát các chỉ số thực hành vàng: Tiếp tục duy trì tỷ lệ 100% đưa kháng sinh trong khoảng 30 - 60 phút trước rạch da và chấm dứt phác đồ dự phòng trước 24 giờ sau phẫu thuật; phấn đấu giảm chỉ số tiêu thụ kháng sinh chung tại khoa Sản xuống dưới 50,0 DDD/100 ngày nằm viện trong giai đoạn 2024 - 2025.
  4. Tổ chức đào tạo liên tục và can thiệp dược lâm sàng: Phòng Chỉ đạo tuyến và Khoa Dược định kỳ tổ chức tập huấn 6 tháng/lần về tối ưu hóa PK/PD kháng sinh cho 100% bác sĩ sản khoa và phẫu thuật viên, đồng thời cử dược sĩ lâm sàng tham gia duyệt đơn trước mổ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Dược sĩ lâm sàng và Hội đồng Thuốc và Điều trị: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng và phương pháp tính toán DDD để xây dựng hướng dẫn sử dụng kháng sinh dự phòng ngoại khoa tại đơn vị.
  • Bác sĩ Sản phụ khoa và Phẫu thuật viên: Tham khảo các tiêu chí về liều lượng, thời điểm đưa thuốc trước rạch da và căn cứ khoa học của việc ngừng kháng sinh trong vòng 24 giờ sau mổ.
  • Nhà quản lý y tế và Ban Giám đốc Bệnh viện: Định hình chiến lược triển khai Chương trình Quản lý Kháng sinh (AMS) phù hợp với điều kiện cơ sở hạ tầng của bệnh viện hạng II tuyến huyện.
  • Học viên sau đại học và Nghiên cứu sinh ngành Y - Dược: Cung cấp khung phương pháp luận kết hợp nghiên cứu hồi cứu chuỗi thời gian DDD với đánh giá lâm sàng cắt ngang.

Câu hỏi thường gặp

  • Tại sao mổ lấy thai lại được chỉ định kháng sinh dự phòng? Phẫu thuật mổ lấy thai được xếp vào nhóm phẫu thuật sạch - nhiễm do có sự xâm lấn qua đường sinh dục. Việc sử dụng kháng sinh dự phòng giúp giảm hơn 50,0% tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ và viêm nội mạc tử cung mà không làm ảnh hưởng đến việc cho trẻ bú mẹ sớm.
  • Thời điểm tiêm kháng sinh dự phòng mổ lấy thai tối ưu nhất là khi nào? Theo khuyến cáo hiện đại của WHO và ASHP, thời điểm vàng để tiêm kháng sinh là trong vòng 30 đến 60 phút trước khi rạch da (muộn nhất là 120 phút), thay vì thực hành cũ là chờ kẹp dây rốn mới tiêm thuốc.
  • Vì sao việc ngừng kháng sinh dự phòng trước 24 giờ sau mổ lại an toàn? Các tổng quan hệ thống chỉ ra rằng việc kéo dài kháng sinh sau 24 giờ không làm giảm thêm tỷ lệ NKVM mà còn gia tăng nguy cơ nhiễm nấm, viêm đại tràng giả mạc và làm tăng mức tiêu thụ từ 57,7 lên hơn 64,3 DDD/100 ngày nằm viện.
  • Kháng sinh nào được khuyến nghị đầu tay cho mổ lấy thai? Cefazolin (2g tiêm tĩnh mạch) là hoạt chất đầu tay được ASHP và Bộ Y tế khuyến nghị do có phổ kháng khuẩn tập trung vào tụ cầu và liên cầu, thời gian bán thải phù hợp và ít gây áp lực chọn lọc kháng thuốc hơn nhóm thế hệ 3.
  • Tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ trong nghiên cứu là bao nhiêu? Nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ nông là 0,6% (1 trên 164 ca), không có ca nhiễm khuẩn sâu và 100% bệnh nhân được xuất viện an toàn.

Kết luận

  • Nghiên cứu đã lượng hóa thành công mức tiêu thụ kháng sinh tại khoa Sản giai đoạn 2019 - 2022 với mức trung bình 64,3 DDD/100 ngày nằm viện và ghi nhận xu hướng giảm xuống 57,7 DDD/100 ngày nằm viện vào năm 2022.
  • Đánh giá lâm sàng trên 164 ca mổ lấy thai xác nhận tỷ lệ tuân thủ xuất sắc (100%) về đường dùng, thời điểm đưa thuốc trước rạch da và ngừng thuốc trong vòng 24 giờ sau mổ.
  • Tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ nông được kiểm soát ở mức rất thấp (0,6%) và 100% sản phụ hồi phục xuất viện tốt.
  • Tồn tại điểm nghẽn lớn trong cơ cấu lựa chọn thuốc khi Cefazolin chỉ chiếm 1,8%, trong khi Cephalosporin thế hệ 3 chiếm tới 44,5%.
  • Kế hoạch hành động tiếp theo cần tập trung chuyển đổi sang phác đồ Cefazolin chuẩn tắc trong năm 2024 nhằm tối ưu hóa chi phí và ngăn ngừa đề kháng kháng sinh bền vững.