ĐẶT VẤN ĐỀ Sự ra đời của kháng sinh từ những năm đầu của thế kỷ 20 đã đánh dấu một kỷ nguyên mới của y học về điều trị các bệnh nhiễm khuẩn, đã cứu sống hàng triệu triệu người khỏi các bệnh nhiễm khuẩn nguy hiểm. Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh hợp lý và vấn đề kháng kháng sinh vẫn đang là một thách thức lớn của toàn thế giới và Việt Nam. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc các bệnh lý nhiễm khuẩn rất cao, đứng hàng thứ hai chỉ sau các bệnh lý về tim mạch. Bởi vậy, sử dụng kháng sinh an toàn, hợp lý là vấn đề quan trọng không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn Thế giới.
Nó đóng vai trò quyết định hiệu quả điều trị, giảm chi phí đồng thời ngăn chặn tình trạng kháng kháng sinh gia tăng. Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 5631/QĐ-BYT về hướng dẫn quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện, nhằm tăng cường hơn nữa việc quản lý kháng sinh, tránh lạm dụng kháng sinh. Trung tâm Y tế huyện Mù Cang Chải là bệnh viện hạng III trực thuộc Sở Y tế tỉnh Yên Bái, tiếp nhận nhiều đối tượng bệnh nhân khác nhau. Thực hiện Quyết định số 5631/QĐ-BYT, Trung tâm Y tế huyện Mù Cang Chải cũng vừa bước đầu triển khai chương trình quản lý sử dụng kháng sinh.
Một trong những biện pháp được đưa vào kế hoạch hoạt động là phân tích mức độ tiêu thụ kháng sinh và phân tích việc sử dụng kháng sinh trong 1 bệnh lý nhiễm khuẩn thường gặp tại bệnh viện, nhằm xác định một số vấn đề cơ bản để tiếp tục triển khai các hoạt động tiếp theo. Theo báo cáo tại bệnh viện, viêm phổi mắc phải cộng đồng ở trẻ em chiếm tỷ lệ lớn trong số bệnh nhân điều trị nội trú.Viêm phổi mắc phải cộng đồng là một trong những bệnh lý đường hô hấp chủ yếu ở trẻ em, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) xác định viêm phổi là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ em dưới 5 tuổi. Sử dụng kháng sinh là một trong những chiến lược được Tổ chức Y tế Thế giới nhấn mạnh trong quản lý viêm phổi cộng đồng, với nội dung tăng cường các biện pháp để đảm bảo kháng sinh được dùng một cách hợp lý, an toàn nhằm nâng cao hiệu quả điều trị, giảm tác dụng không mong muốn, giảm chi phí y tế và ngăn ngừa vi khuẩn đề kháng kháng sinh.
Bởi vậy, nhằm đánh giá hiệu quả của chương trình quản lý sử dụng kháng sinh cũng như đánh giá các vấn đề liên quan đến kê đơn thuốc kháng sinh trong bệnh lý 1 nhiễm trùng, nhóm nghiên cứu tiến hành thực hiện đề tài “Phân tích tình hình sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân điều trị nội trú tại Trung tâm Y tế huyện Mù Cang Chải tỉnh Yên Bái” với 2 mục tiêu: 1. Khảo sát thực trạng tiêu thụ kháng sinh nội trú tại Trung tâm Y tế huyện Mù Cang Chải. Phân tích tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị viêm phổi mắc phải cộng đồng ở trẻ em điều trị nội trú tại Trung tâm Y tế huyện Mù Cang Chải. Nhóm nghiên cứu hy vọng kết quả của nghiên cứu có thể cung cấp một góc nhìn hệ thống về thực trạng tiêu thụ kháng sinh và căn cứ để đề xuất các biện pháp quản lý, sử dụng kháng sinh an toàn, hiệu quả, hợp lý tại TTYT huyện Mù Cang Chải.
Tổng quan về viêm phổi cộng đồng trẻ em Qua khảo sát sơ bộ tại TTYT huyện Mù Cang Chải nhiễm trùng thường gặp nhất trong điều trị nội trú ở trẻ em là nhiễm trùng hô hấp, trong đó chẩn đoán có tỷ lệ cao nhất là viêm phổi cộng đồng. Nhóm nghiên cứu đánh giá sử dụng kháng sinh trong điều trị nội trú lựa chọn nhiễm trùng có tỷ lệ gặp cao như viêm phổi mắc phải ở cộng đồng trẻ em. Do vậy chúng tôi tập trung tổng quan cơ sở lý thuyết về điều trị viêm phổi cộng đồng trẻ em. Định nghĩa và dịch tễ 1.
Định nghĩa Viêm phổi cộng đồng (VPCĐ) hay còn gọi là viêm phổi mắc phải tại cộng đồng là nhiễm khuẩn cấp tính (dưới 14 ngày) gây tổn thương nhu mô phổi, kèm theo dấu hiệu ho, khó thở, nhịp thở nhanh, rút lõm lồng ngực, đau ngực. Các triệu chứng này thay đổi theo tuổi [6]. Đây là tình trạng viêm phổi xuất hiện ở ngoài cộng đồng hoặc trong 48 giờ đầu tiên sau khi nhập viện [7]. Dịch tễ Viêm phổi mắc phải tại cộng đồng là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật ở trẻ em trên toàn thế giới [34].
Theo báo cáo của WHO, viêm phổi là nguyên nhân gây tử vong phổ biến nhất ở trẻ em trên toàn thế giới, chiếm 15% tổng số ca tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi [31]. Theo báo cáo của WHO ở các nước đang phát triển có tỷ lệ mắc cao gấp 5 lần các nước phát triển [6]. Tại Hoa Kỳ, CAP chiếm khoảng 2 triệu lượt khám ngoại trú hàng năm và một trong những nguyên nhân nhập viện phổ biến nhất, với khoảng 124000 ca nhập viện nhi khoa hàng năm (tỷ lệ nhập viện hàng năm là 15,7–22,5 trên 100000 trẻ em). Tỷ lệ sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe cao nhất xảy ra ở trẻ em dưới 2 tuổi và giảm dần khi tuổi của trẻ em tăng lên [30].
Ở Việt Nam theo thống kê của các cơ sở y tế, viêm phổi là nguyên nhân hàng đầu mà trẻ em đến khám và điều trị tại các bệnh viện và cũng là nguyên nhân tử vong hàng đầu. Số liệu báo cáo năm 2004 của UNICEF và WHO cho thấy với quần thể khoảng 7,9 triệu trẻ < 5 tuổi tỷ suất tử vong chung là 23‰, thì mỗi năm Việt Nam có 3 khoảng 38000 trẻ tử vong trong đó viêm phổi chiếm 12% trường hợp số trường hợp tử vong. Như vậy mỗi năm ước tính có khoảng 4500 trẻ < 5 tuổi tử vong do viêm phổi [6]. Căn nguyên VPCĐ trẻ em có thể xuất phát từ nhiều nhóm căn nguyên, bao gồm vi khuẩn, virus, ký sinh trùng và nấm, trong đó nguyên nhân thường gặp nhất là vi khuẩn.
Các nhóm căn nguyên gây bệnh chính thay đổi theo tuổi. Vi khuẩn Nguyên nhân thường gặp gây viêm phổi ở trẻ em đặc biệt ở các nước đang phát triển là vi khuẩn. Vi khuẩn thường gặp nhất là Streptococcus pneumoniae (phế cầu) chiếm khoảng 30 - 35% trường hợp. Tiếp đến là Hemophilus influenzae (khoảng 10 - 30%), sau đó là các loại vi khuẩn khác (Branhamella catarrhalis, Staphylococcus aureus, Streptococcus pyogens.
- Ở trẻ nhỏ < 2 tháng tuổi còn có thể do các vi khuẩn Gram âm đường ruột như Klebsiella pneumoniae, E. - Ở trẻ lớn 5 - 15 tuổi có thể do Mycoplasma pneumoniae, Clammydia pneumoniae, Legionella pneumophila. Virus Những virus thường gặp gây viêm phổi ở trẻ em là virus hợp bào hô hấp (Respiratory Syncitral virus= RSV), sau đó là các virus cúm A,B, á cúm Adenovirus, Metapneumovirus, Severe acute Respiratory Syndrome= SARS). Nhiễm virus đường hô hấp làm tăng nguy cơ viêm phổi do vi khuẩn hoặc có thể kết hợp viêm phổi do virus và vi khuẩn (tỷ lệ này vào khoảng 20 - 30%) [6].
Ký sinh trùng và nấm Viêm phổi ở trẻ em có thể do Pneumocystis carinii, Toxoplasma, Histoplasma, Candida spp. Các yếu tố nguy cơ Các yếu tố thuận lợi làm tăng tỷ lệ mắc bệnh, tiến triển nhanh, nặng và nguy cơ tử vong cao: - Độ tuổi: Trẻ càng nhỏ càng dễ mắc, đặc biệt là trẻ sơ sinh. 4 - Tình trạng khi sinh: Trẻ đẻ non, thiếu tháng, thiếu cân suy dinh dưỡng, trẻ sinh mổ. - Dị tật bẩm sinh: Tim bẩm sinh, dị dạng bộ máy hô hấp, suy giảm miễn dịch bẩm sinh.
- Các yếu tố khác: Điều kiện nuôi dưỡng thiếu thốn, môi trường sống ô nhiễm, yếu tố cơ địa dị ứng, tăng mẫn cảm đường thở…[9]. Đánh giá mức độ nặng Theo Tổ chức Y tế thế giới, mức độ nặng của viêm phổi ở trẻ em bao gồm viêm phổi (viêm phổi), viêm phổi nặng và viêm phổi rất nặng, chủ yếu dựa vào lâm sàng [6], [7]. Cụ thể như sau: 1. Viêm phổi - Trẻ có các triệu chứng sau: + Ho hoặc khó thở nhẹ + Sốt + Thở nhanh: < 2 tháng tuổi ≥ 60 lầ/phút 2 - < 12 tháng tuổi ≥ 50 lần/phút 1 – 5 tuổi ≥ 30 lần/phút + Có thể nghe thấy ran ẩm hoặc không - Không có các triệu chứng của viêm phổi nặng như: + Rút lõm lồng ngực + Phập phồng cánh mũi + Thở rên: ở trẻ < 2 tháng tuổi + Tím tái và các dấu hiệu nguy hiểm khác Lưu ý: Đối với trẻ nhỏ < 2 tháng tuổi tất cả các trường hợp viêm phổi ở lứa tuổi này đều là nặng và phải vào bệnh viện để điều trị và theo dõi.
Viêm phổi nặng - Trẻ có các dấu hiệu: + Ho + Thở nhanh hoặc khó thở 5 + Rút lõm lồng ngực + Phập phồng cánh mũi + Thở rên (trẻ < 2 tháng tuổi) + Có thể có dấu hiệu tím tái nhẹ + Có ran ẩm hoặc không + X-quang phổi có thể thấy tổn thương hoặc không - Không có các dấu hiệu nguy hiểm của viêm phổi rất nặng (tím tái nặng, suy hô hấp nặng, không uống được, ngủ li bì khó đánh thức, co giật hoặc hôn mê. Viêm phổi rất nặng - Trẻ có thể có các triệu chứng của viêm phổi hoặc viêm phổi nặng. - Có thêm 1 trong các dấu hiệu nguy hiểm sau đây: + Tím tái nặng + Không uống được + Ngủ li bì khó đánh thức + Thở rít khi nằm yên + Co giật hoặc hôn mê + Tình trạng suy dinh dưỡng nặng 1. Mục tiêu và nguyên tắc điều trị 1.
Mục tiêu điều trị Mục tiêu bao gồm: đạt hiệu quả lâm sàng, giảm tử vong, tránh kháng thuốc. Nhiều hướng dẫn điều trị VPCĐ trên thế giới phân tầng bệnh nhân dựa vào yếu tố nguy cơ mắc vi khuẩn kháng thuốc, bệnh đồng mắc, khả năng vi khuẩn gây bệnh và mức độ nặng của bệnh [3]. Nguyên tắc điều trị viêm phổi Điều trị viêm phổi do vi khuẩn chủ yếu thông qua sử dụng kháng sinh hợp lý kết hợp với các điều trị hỗ trợ khác: - Xử trí tùy theo mức độ nặng. - Điều trị triệu chứng.
- Hỗ trợ dinh dưỡng. 6 - Điều trị nguyên nhân: lựa chọn kháng sinh theo căn nguyên gây bệnh, nhưng ban đầu thường theo kinh nghiệm lâm sàng, yếu tố dịch tễ, mức độ nặng của bệnh, tuổi bệnh nhân, các bệnh kèm theo, các tương tác, tác dụng không mong muốn của thuốc. Thời gian dùng kháng sinh: từ 7 đến 10 ngày nếu do các tác nhân gây viêm phổi điển hình, 14 ngày nếu do các tác nhân không điển hình, trực khuẩn mủ xanh [1].