CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới 1. Khái niệm nhiễm khuẩn đường sinh dục 1.
Định nghĩa Nhiễm khuẩn đường sinh dục (NKĐSD) được định nghĩa là bệnh lý viêm nhiễm tại cơ quan sinh dục. NKĐSD là một thuật ngữ rộng bao gồm các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục và các nhiễm khuẩn khác không lây truyền qua đường tình dục. Các NKĐSD gây ra bởi các vi sinh vật (VSV) thường có mặt tại đường sinh dục hoặc do các VSV từ bên ngoài vào, thông qua hoạt động tình dục hoặc qua các thủ thuật y tế [8], [16], [20]. Phân loại Theo tác nhân gây bệnh [2] - Các viêm nhiễm lây truyền qua đường tình dục như nhiễm Chalamydia, bệnh lậu, trùng roi sinh dục, bệnh giang mai, bệnh hạ cam, herpes sinh dục, sùi mào gà sinh dục và nhiễm HIV.
- Nhiễm khuẩn nội sinh do tăng sinh quá mức các loại vi sinh vật có trong âm đạo của phụ nữ như viêm âm đạo do vi khuẩn và viêm âm hộ do nấm men. - Nhiễm khuẩn y sinh là các nhiễm khuẩn do thủ thuật y tế không vô khuẩn. Các nhiễm khuẩn trên có thể dự phòng hoặc có thể chữa khỏi được. Theo vị trí giải phẫu - Nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới (từ âm hộ đến cổ tử cung).
Dưới vòng bám âm đạo bao gồm: viêm cổ tử cung, viêm âm hộ, âm đạo và tuyến sinh dục. - Nhiễm khuẩn sinh dục trên (từ tử cung lên buồng trứng): Viêm niêm mạc tử cung và viêm phần phụ [18], [22]. Đặc điểm nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới ở phụ nữ 1. Giải phẫu cơ quan sinh dục dưới của phụ nữ 4 Hình 1.
Cấu tạo bộ phận sinh dục nữ Thư viện ĐH Thăng Long 5 Cơ quan sinh dục dưới của nữ bao gồm: âm hộ, âm đạo, CTC. Bộ phận này có liên quan chặt chẽ với da và hậu môn, không có phương tiện ngăn cách hữu hiệu. - Âm hộ là phần ngoài cùng của đường sinh dục dưới, che chở bảo vệ cho các bộ phận bên trong của đường sinh dục, bao gồm: gò mu, môi lớn, môi bé và tiền đình âm đạo [6]. Một số nghiên cứu cho thấy vì âm hộ có môi lớn che phủ cả vùng tiền đình, che lấp lỗ niệu đạo nên khi đi tiểu, nước tiểu không được bài tiết toàn bộ ra ngoài mà một phần xâm nhập vào âm đạo để gây viêm nhiễm.
Bên cạnh đó phải kể đến việc hai bên của lỗ niệu đạo có tuyến Skene và âm đạo có tuyến Bartholin. Các tuyến này luôn tiết dịch và cũng là nơi ẩn nấp tốt cho các loại vi sinh vật, khi có điều kiện thuận lợi sẽ gây nhiễm khuẩn [27], [28]. - Âm đạo nằm sau bàng quang và niệu đạo, trước trực tràng và ống hậu môn. Nó là một ống xơ - cơ đi từ tiền đình âm đạo tới tử cung.
Âm đạo là một khoang ảo, mặt trong rất nhiều nếp nhăn, là nơi thuận tiện cho vi sinh vật ẩn náu và phát triển. Âm đạo là cơ quan giao hợp và là đường để thai nhi từ tử cung ra ngoài, là ống dẫn kinh nguyệt từ buồng tử cung ra ngoài. Do đó, bệnh lý của âm đạo có liên quan đến sự thay đổi môi trường âm đạo, các bệnh lây lan qua đường tình dục và những chấn thương do sinh đẻ [6], [19], [27]. - Cổ tử cung (CTC) bình thường có bề mặt nhẵn và có màu hồng.
Phần trên CTC nằm trong phúc mạc, phía trên âm đạo. Phần dưới CTC nằm ở dưới phúc mạc và trong âm đạo. Lỗ CTC hướng xuống phần âm đạo. Đây là nơi để kinh nguyệt từ buồng tử cung chảy ra đổ vào âm đạo.
Như vậy, CTC cũng là nơi có thể xuất phát các viêm nhiễm và nguy cơ lan vào sâu hơn trong đường sinh dục của phụ nữ [27]. Các dịch tiết từ thành CTC, âm đạo và các tuyến tham gia duy trì lượng dịch âm đạo, đồng thời có tác dụng làm sạch âm đạo do chứa nhiều enzim và globulin miễn dịch. Khi dịch sinh lý bị thay đổi về số lượng, mằu sắc hoặc tính chất và có sự hiện diện của các tác nhân gây bệnh thì người phụ nữ có nguy cơ mắc bệnh viêm nhiễm đường sinh dục dưới. Trong môi trường acid của âm đạo, các chủng 6 vi khuẩn bình thường của âm đạo vẫn phát triển bình thường và có vai trò ngăn cản các vi khuẩn khác phát triển [5], [27].
Người ta đã đưa ra kết luận rằng âm hộ, âm đạo và CTC là những nơi thường trú của nhiều loại tác nhân gây ra viêm nhiễm, nhưng các rối loạn bệnh lý chi xảy ra khi cơ chế bảo vệ bình thường của cơ thể bị suy giảm [27]. Nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới Viêm âm hộ Viêm âm hộ đơn thuần và tiên phát thường ít gặp, mà thường là hậu quả của viêm âm đạo, khiến nhiều khí hư chảy xuống dính vào âm hộ gây tình trạng ngứa ngáy phải găi, dẫn đến trầy xước gây bội nhiễm làm cho âm hộ xung huyết, viêm tấy đỏ, ngứa, có khi lở loét, sùi. nguyên nhân thường do nấm, trùng roi, tạp khuẩn không đặc hiệu, lậu. Viêm âm đạo do trùng roi (Trichomonas vaginalis) Viêm âm đạo do trùng roi là một bệnh lây truyền qua đường tình dục là chủ yếu, ngoài ra bệnh còn có thể lây qua bồn tắm, khăn tắm ẩm ướt.
Biểu hiện triệu chứng: thời gian ủ bệnh từ 1 - 4 tuần lễ, khoảng ¼ số người mắc không có biểu hiện bệnh lý. Người bệnh có ra khí hư nhiều, loãng có bọt, màu vàng xanh, mùi hôi (mùi hôi không mất đi khi rửa). Có thể kèm theo ngứa rát ở âm hộ, đi tiểu khó, đau khi giao hợp. bệnh được chẩn đoán xác định khi soi tươi thấy trừng roi di động, hoặc có thể nuôi cấy, hoặc nhuộm Gram để chẩn đoán [5].
Thư viện ĐH Thăng Long 7 Hình 1. Trichomonas vaginalis dưới kính hiển vi Viêm âm hộ kết hợp với viêm âm đạo Viêm âm hộ kết hợp với viêm âm đạo do Candida albicans thường hay gặp ở phụ nữ đang mang thai, hay phụ nữ bị bệnh tiểu đường, sau khi dùng thuốc kháng sinh dài ngày, những phụ nữ đang dùng thuốc viên tránh thai, dùng các Corticoid. Ngoài ra, người ta thấy rằng bệnh này có thể lây lan qua giao hợp, nước tắm, hay việc dùng chung quần áo [36]. Biểu hiện triệu chứng: thường ngứa nhiều ở âm hộ do vậy người bệnh thường phải gãi làm xây xước âm hộ và có thể làm nấm lan rộng ra cả tầng sinh môn, bẹn.
Khí hư có màu trắng đục như váng sữa, không hôi, số lượng nhiều. Có thể kèm theo đi tiểu khó, đau khi giao hợp, có cảm 8 giác bỏng rát sau giao hợp. Để chẩn đoán bệnh, người ta cần kết hợp giữa việc phát hiện triệu chứng lâm sàng với cận lâm sàng, chẳng hạn như soi tươi hoặc nhuộm màu Gram [5]. Nấm Candida albicans Viêm âm đạo do vi khuẩn Viêm âm đạo do vi khuẩn là một hội chứng lâm sàng chủ yếu gây tiết dịch âm đạo có mùi hôi, ngày nay được xác định là viêm âm đạo do Gardnerella vaginalis.
Những phụ nữ chưa bao giờ quan hệ tình dục thì hiếm khi bị bệnh, đa số các trường hợp mắc bệnh là những phụ nữ đã từng quan hệ tình dục hoặc quan hệ tình dục nhiều. Biểu hiện triệu chứng: Ra khí hư nhiều, hôi rất khó chịu, đặc biệt sau khi giao hợp hoặc dùng xà phòng kiềm tính. Người bệnh có thể thấy ngứa Thư viện ĐH Thăng Long 9 và khó chịu ở âm hộ, âm đạo. Tuy vậy, có khoảng 50% phụ nữ nhiễm G.vaginalis không có các triệu chứng.
Khám âm đạo: thấy có nhiều khí hư đồng nhất, màu trắng xám, dính vào niêm mạc âm đạo, khí hư có mùi hôi tanh. Niêm mạc âm đạo thường không viêm đỏ. Chẩn đoán bệnh yêu cầu phải có ít nhất 3 trong số 4 triệu chứng hoặc sử dụng phương pháp tính điểm của Nugent dựa vào kết quả nhuộm Gram khí hư âm đạo[5]. Gardnerella vaginalis dưới kính hiển vi Viêm tuyến bartholin Hai tuyến bartholin tiết chế chất nhày vào âm đạo, cửa tuyến mở ra âm hộ nên dễ bị viêm.
Tác nhân gây bệnh: tuyến bartholin thường bị viêm do vi khuẩn lậu, cũng có khi các vi khuẩn như liên cầu, tụ cầy từ âm hộ bị viêm lan sang. Triệu 10 chứng lâm sàng: viêm tuyến bartholin cấp tính: người bệnh đay rát ở âm hộ, âm đạo , ra nhiều khí hư, có khi sốt, đi lại khó khăn. Khám thấy tuyến bartholin sưng to, nắn thấy nhiều mú ở đầu ống dẫn của tuyến chảy ra ngoài [5]. Bệnh lậu ở phụ nữ (viêm CTC và viêm niệu đạo do lậu) Là một trong những bệnh lây truyền qua đường tình dục hàng đầu trên thế giới, do vi khuẩn gram âm Neisseria gonorrhoeae gây ra.
Bệnh lậu có thể lan truyền từ người này sang người khác thông qua đường miệng, bộ phận sinh dục, hoặc hậu môn. Nam giới có 20% khả năng mắc bệnh trong 1 lần giao hợp với nữ giới mắc bệnh. Phụ nữ có khoảng 60–80% khả năng mắc bệnh trong 1 lần giao hợp với nam giới mắc bệnh. Tỉ lệ lây bệnh cao hơn đối với quan hệ tình dục đồng giới nam.
Người mẹ mắc bệnh trong khi mang thai có thể lây truyền qua con. Bệnh không lây truyền nếu chỉ đơn thuần sử dụng chung phòng tắm hoặc phòng vệ sinh mà không tiếp xúc với bệnh phẩm. Bệnh thường không biểu hiện triệu chứng rõ ràng mà thường kín đáo. Hiện nay có thể dùng test chẩn đoán nhanh hoặc phương pháp chuỗi phản ứng polymerase hay còn gọi là PCR (Polymerase Chain Reaction) để chẩn đoán bệnh này [5].
Thư viện ĐH Thăng Long 11 Hình 1. Neisseria gonorrhoeae – Lậu khuẩn Viêm cổ tử cung Có hai hình thái viêm cổ tử cung là viêm ngoài cổ tử cung và viêm lỗ trong cổ tử cung. Thông thường thể hay gặp là viêm ngoài cổ tử cung. Cổ tử cung ngoài với cấu trúc biểu mô lát tầng, có bệnh lý giống như bệnh lý của âm đạo.
Cổ tử cung trong có cấu trúc của biểu mô tuyến , chịu ảnh hưởng của tình trạng nội tiết nên có bệnh lý giống như bệnh lý của nội mạc tử cung [5]. Hậu quả của nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới NKĐSDD không đe dọa ngay đến tính mạng nhưng để lại nhiều hậu quả. Bệnh có ảnh hưởng đến sức khỏe, năng suất lao động, chất lượng cuộc sống và sức khỏe sinh sản. NKĐSDD thường gây ảnh hưởng đến cả thể chất và tinh thần của người phụ nữ.
NKĐSDD gây cho người bệnh khó chịu, có thể đau đớn hay 12 ngứa ngáy, gây mất tập trung, ảnh hưởng đến năng suất lao động.