Phạm Văn Thiên phân tích tình hình sử dụng thuốc trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2 tại Phòng khám Ngoại trú Bệnh viện Đa khoa Yên Định - Luận văn Dược sĩ chuyên khoa cấp 1

Phân tích chi tiết tình hình sử dụng thuốc điều trị đái tháo đường typ 2 tại Phòng khám Ngoại trú Bệnh viện Đa khoa Yên Định. Nghiên cứu đánh giá hiệu quả điều

Tác giả

Phạm Văn Thiên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp 1

2020

63
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về sử dụng thuốc điều trị ĐTĐ typ 2

Đái tháo đường typ 2 là bệnh chuyển hóa mạn tính phổ biến toàn cầu. Bệnh đặc trưng bởi tình trạng tăng glucose huyết do kháng insulin và suy giảm chức năng tuyến tụy. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc ĐTĐ typ 2 tăng nhanh trong những thập kỷ gần đây. Điều trị bệnh đòi hỏi chiến lược toàn diện, kết hợp thay đổi lối sống và dùng thuốc. Các nhóm thuốc chính bao gồm metformin, sulfonylurea, ức chế DPP-4, ức chế SGLT2, thiazolidinedione và insulin. Metformin được khuyến cáo là thuốc đầu tay trong hầu hết phác đồ điều trị. Việc lựa thuốc phải dựa trên đặc điểm lâm sàng, chức năng thận, nguy cơ tim mạch và mục tiêu kiểm soát đường huyết. Nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa huyện Yên Định phân tích thực trạng sử dụng thuốc trên bệnh nhân ĐTĐ typ 2 được quản lý ngoại trú. Kết quả cung cấp bằng chứng quan trọng về tính hợp lý trong kê đơn thuốc. Từ đó đề xuất cải thiện chất lượng điều trị tại cơ sở y tế tuyến huyện.

1.1. Dịch tễ học và gánh nặng bệnh đái tháo đường typ 2

Đái tháo đường typ 2 chiếm khoảng 90-95% tổng số ca đái tháo đường trên toàn thế giới. Theo Liên đoàn Đái tháo đường Thế giới, năm 2021 có khoảng 537 triệu người mắc bệnh. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc ĐTĐ tăng từ 2,7% năm 2002 lên khoảng 6% năm 2020. Bệnh gây gánh nặng kinh tế lớn cho hệ thống y tế và người bệnh. Các biến chứng mạn tính bao gồm bệnh thận, bệnh võng mạc, bệnh thần kinh ngoại biên và bệnh tim mạch. Phát hiện sớm và điều trị đúng cách giúp giảm đáng kể tỷ lệ biến chứng và tử vong.

1.2. Các nhóm thuốc điều trị ĐTĐ typ 2 hiện hành

Metformin là thuốc đầu tay được khuyến cáo bởi tất cả hướng dẫn điều trị quốc tế. Thuốc hoạt động bằng cách giảm sản xuất glucose ở gan và tăng nhạy insulin. Sulfonylurea kích thích bài tiết insulin từ tuyến tụy nhưng có nguy cơ hạ đường huyết. Nhóm ức chế DPP-4 tăng nồng độ incretin nội sinh, cải thiện kiểm soát đường huyết an toàn. Nhóm ức chế SGLT2 có lợi ích tim mạch và thận vượt trội. Thiazolidinedione cải thiện kháng insulin ngoại vi. Insulin được chỉ định khi thuốc uống không đạt mục tiêu kiểm soát.

II. Phân tích thực trạng sử dụng thuốc tại bệnh viện Yên Định

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2020 tại phòng khám ngoại trú Bệnh viện Đa khoa huyện Yên Định. Đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân ĐTĐ typ 2 được quản lý và điều trị tại bệnh viện. Kết quả cho thấy phần lớn bệnh nhân sử dụng metformin đơn trị hoặc phối hợp với sulfonylurea. Tỷ lệ bệnh nhân đạt mục tiêu kiểm soát HbA1c dưới 7% còn hạn chế. Đặc biệt, nghiên cứu phát hiện 35,4% bệnh nhân có suy giảm chức năng thận với eGFR dưới 60 ml/phút/1,73m2. Trong đó có 2,4% bệnh nhân suy thận mức độ nặng với eGFR dưới 30 ml/phút/1,73m2. Việc kê đơn metformin cần thận trọng ở nhóm bệnh nhân này. Một số trường hợp sử dụng metformin vượt quá liều tối đa khuyến cáo theo chức năng thận. Phân tích phác đồ điều trị cho thấy xu hướng phối hợp thuốc ngày càng phổ biến. Quản lý đồng thời tăng huyết áp và rối loạn lipid máu được chú trọng.

2.1. Đặc điểm nhân khẩu học và lâm sàng của bệnh nhân

Mẫu nghiên cứu bao gồm bệnh nhân ĐTĐ typ 2 đa dạng về độ tuổi và giới tính. Phần lớn bệnh nhân trong độ tuổi trung niên trở lên, phù hợp với đặc điểm dịch tễ học của bệnh. Thời gian mắc bệnh trung bình dao động đáng kể, phản ánh tính chất mạn tính của ĐTĐ typ 2. Nhiều bệnh nhân có đồng thời các bệnh lý đi kèm như tăng huyết áp và rối loạn lipid máu. Các yếu tố nguy cơ tim mạch này làm tăng đáng kể nguy cơ biến chứng. Việc đánh giá toàn diện đặc điểm bệnh nhân giúp xây dựng chiến lược điều trị cá thể hóa.

2.2. Tình hình kiểm soát mục tiêu điều trị tại thời điểm ban đầu

Tại thời điểm đánh giá ban đầu, tỷ lệ bệnh nhân đạt mục tiêu HbA1c dưới 7% còn thấp. Kiểm soát đường huyết chưa tối ưu ở nhiều bệnh nhân, đặc biệt nhóm có thời gian mắc bệnh dài. Mục tiêu huyết áp đạt được ở một tỷ lệ đáng kể bệnh nhân nhờ phối hợp thuốc hạ áp. Kiểm soát lipid máu cải thiện khi sử dụng statin kết hợp chế độ ăn uống. Tốc độ lọc cầu thận ước tính giảm dần theo thời gian mắc bệnh và tuổi tác. Phát hiện này nhấn mạnh tầm quan trọng của theo dõi chức năng thận định kỳ trong quản lý ĐTĐ typ 2.

III. Phương pháp đánh giá tính hợp lý sử dụng thuốc

Nghiên cứu áp dụng phương pháp nghiên cứu mô tả, cắt ngang kết hợp thu thập số liệu hồi cứu. Kỹ thuật chọn mẫu đảm bảo tính đại diện cho quần thể bệnh nhân ĐTĐ typ 2 tại bệnh viện. Dữ liệu được thu thập từ hồ sơ bệnh án và đơn thuốc của bệnh nhân khám ngoại trú. Các tiêu chuẩn đánh giá bao gồm mục tiêu kiểm soát đường huyết theo khuyến cáo ADA và Bộ Y tế. Tốc độ lọc cầu thận ước tính được tính bằng công thức CKD-EPI, phân loại theo giai đoạn bệnh thận mạn. Tính phù hợp về liều metformin được đánh giá dựa trên eGFR theo khuyến cáo của nhà sản xuất và hướng dẫn lâm sàng. Hình thức thay đổi phác đồ được quy ước rõ ràng gồm tăng liều, đổi thuốc hoặc thêm thuốc. Xử lý số liệu sử dụng phần mềm thống kê chuyên dụng, đảm bảo độ tin cậy của kết quả nghiên cứu.

3.1. Tiêu chuẩn đánh giá mục tiêu điều trị và chức năng thận

Mục tiêu điều trị ĐTĐ typ 2 được đánh giá theo tiêu chuẩn ADA 2020 và Hướng dẫn Điều trị Bộ Y tế 2017. HbA1c mục tiêu chung dưới 7%, có thể điều chỉnh theo từng bệnh nhân cụ thể. Mục tiêu huyết áp dưới 130/80 mmHg đối với bệnh nhân ĐTĐ có nguy cơ tim mạch cao. LDL-cholesterol mục tiêu phụ thuộc vào yếu tố nguy cơ tim mạch kèm theo. Tốc độ lọc cầu thận ước tính phân loại theo 5 giai đoạn bệnh thận mạn theo KDIGO. Việc đánh giá eGFR định kỳ giúp điều chỉnh liều metformin phù hợp và an toàn.

3.2. Quy ước đánh giá phác đồ và xử lý số liệu thống kê

Phác đồ điều trị được phân loại theo số lượng thuốc sử dụng và nhóm thuốc phối hợp. Thay đổi phác đồ bao gồm tăng liều thuốc hiện tại, đổi sang thuốc khác hoặc thêm thuốc mới. Mục tiêu thay đổi phác đồ nhằm đạt kiểm soát đường huyết tốt hơn hoặc giảm tác dụng phụ. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS với các phép thống kê mô tả và phân tích tương quan. Kết quả trình bày dưới dạng bảng, biểu đồ tỷ lệ phần trăm và giá trị trung bình. Phân tích đa biến giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị.

IV. Kết luận và ứng dụng cải thiện chất lượng điều trị

Nghiên cứu cung cấp bức tranh toàn diện về thực trạng sử dụng thuốc điều trị ĐTĐ typ 2 tại bệnh viện Yên Định. Metformin giữ vai trò thuốc đầu tay trong hầu hết phác đồ điều trị, phù hợp với khuyến cáo quốc tế. Tuy nhiên, việc kê đơn cần xem xét kỹ chức năng thận, đặc biệt ở bệnh nhân lớn tuổi. Nghiên cứu phát hiện tỷ lệ đáng kể bệnh nhân suy giảm chức năng thận cần điều chỉnh liều metformin. Kiểm soát đồng thời tăng huyết áp và rối loạn lipid máu giúp giảm nguy cơ biến chứng tim mạch. Phối hợp thuốc hạ áp nhóm ức chế men chuyển hoặc ức chế thụ thể AT1 được ưu tiên sử dụng. Statin được chỉ định rộng rãi để kiểm soát mỡ máu ở bệnh nhân ĐTĐ. Kết quả nghiên cứu là cơ sở để cải thiện quy trình kê đơn và quản lý bệnh nhân tại bệnh viện tuyến huyện. Đào tạo liên tục cho nhân viên y tế về cập nhật hướng dẫn điều trị là cần thiết. Hệ thống theo dõi chức năng thận định kỳ nên được thiết lập cho tất cả bệnh nhân ĐTĐ typ 2.

4.1. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực hành lâm sàng

Kết quả nghiên cứu được ứng dụng trực tiếp vào cải thiện chất lượng kê đơn tại bệnh viện. Xây dựng quy trình sàng lọc chức năng thận cho bệnh nhân sử dụng metformin. Thiết lập hệ thống cảnh báo tự động khi kê đơn metformin cho bệnh nhân suy thận. Hướng dẫn bác sĩ điều chỉnh liều metformin theo eGFR theo khuyến cáo mới nhất. Tăng cường theo dõi HbA1c định kỳ 3-6 tháng để đánh giá hiệu quả điều trị. Xây dựng phác đồ điều trị chuẩn hóa phù hợp với đặc điểm bệnh nhân tại địa phương.

4.2. Đề xuất cải thiện quản lý bệnh nhân ĐTĐ typ 2 ngoại trú

Thiết lập chương trình quản lý bệnh nhân ĐTĐ typ 2 toàn diện tại phòng khám ngoại trú. Xây dựng đội ngũ đa chuyên khoa gồm bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng và chuyên gia dinh dưỡng. Tổ chức các buổi giáo dục sức khỏe định kỳ cho bệnh nhân về tự quản lý bệnh. Triển khai hệ thống hồ sơ điện tử theo dõi diễn biến bệnh và kết quả điều trị. Tăng cường hợp tác chuyên môn với bệnh viện tuyến trên để xử lý ca phức tạp. Đánh giá hiệu quả can thiệp sau mỗi 6 tháng để điều chỉnh chiến lược quản lý phù hợp.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

28/05/2026
Phạm văn thiên phân tích tình hình sử dụng thuốc trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2 tại phòng khám ngoại trú bệnh viện đa khoa huyện yên định luận văn dƣợc sĩ chuyên khoa cấp 1

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Đái tháo đường (ĐTĐ) là một bệnh mạn tính xảy ra khi tuyến tụy không sản xuất đủ insulin hoặc cơ thể không sử dụng insulin một cách hiệu quả. Khi bệnh đái tháo đường không được kiểm soát, tình trạng tăng đường huyết kéo dài gây tổn hại nhiều cơ quan trong cơ thể. Theo thống kê của liên đoàn đái tháo đường thế giới (International Diabetes Federation -IDF) năm 2019, có 9,3% dân số thế giới (tương ứng 463 triệu người trên toàn thế giới ở độ tuổi 20-79) mắc đái tháo đường. Ước tính đến năm 2045 con số này sẽ là 700 triệu người [15].

Theo số liệu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), năm 1980 trên thế giới có 108 triệu người mắc bệnh đái tháo đường, con số này tăng lên 422 triệu người vào năm 2014. Trong năm 2012, đái tháo đường là nguyên nhân trực tiếp của 1,5 triệu ca tử vong và 2,2 triệu ca tử vong khác được coi có nguyên nhân bởi đái tháo đường. Tỷ lệ mắc đái tháo đường tăng lên nhanh chóng ở các nước có mức thu nhập thấp và trung bình. Theo dự báo đến năm 2030 đái tháo đường sẽ đứng thứ bảy trong các nguyên nhân gây tử vong trên toàn thế giới.

Tại Việt Nam, đái tháo đường đang có xu hướng gia tăng cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội. Năm 2002 cả nước có 2,7% dân số mắc bệnh đái tháo đường, nhưng đến năm 2012 con số này đã tăng lên 5,42%; trong đó tại miền núi phía Bắc 4,82%, đồng bằng sông Hồng 5,81%, duyên hải miền Trung 6,37%, Tây Nguyên 3,82%, Đông Nam Bộ 5,95% và Tây Nam Bộ là 7,18% [3]. Như vậy, ĐTĐ đã và đang trở thành gánh nặng lớn cho xã hội nói chung và người bệnh nói riêng. Bệnh viện Đa khoa Yên Định là một bệnh viện đa khoa tuyến huyện hạng 2, với quy mô 240 giường bệnh thực hiện chức năng khám chữa bệnh cho nhân dân trong địa bàn huyện và các bệnh nhân khác có nhu cầu.

Hiện nay, phòng khám ngoại trú của Bệnh viện Đa khoa Yên Định đang quản lý và theo dõi việc điều trị ngoại trú cho bệnh nhân đái tháo đường trên địa bàn 1 huyện. Đa số bệnh nhân được quản lý tại bệnh viện là bệnh nhân đái tháo đường typ 2. Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu nào tổng kết về sử dụng thuốc và hiệu quả điều trị đái tháo đường tại phòng khám ngoại trú của bệnh viện huyện Yên Định. Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài “Phân tích tình hình sử dụng thuốc trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2 tại phòng khám ngoại trú Bệnh viện Đa khoa Yên Định” với hai mục tiêu sau: - Phân tích thực trạng sử dụng thuốc trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2 được quản lý ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Yên Định.

- Phân tích hiệu quả điều trị và thay đổi phác đồ trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2 được quản lý tại Bệnh viện Đa khoa Yên Định. Từ đó, đề xuất các biện pháp nhằm mục đích nâng cao hiệu quả điều trị cho bệnh nhân đái tháo đường typ 2 tại Bệnh viện Đa khoa Yên Định tỉnh Thanh Hóa. Tổng quan về đái tháo đƣờng typ 2 1. Định nghĩa Theo Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường typ 2 của Bộ Y Tế (năm 2017): “Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh rối loạn chuyển hóa không đồng nhất, có đặc điểm tăng glucose huyết do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai.

Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa carbohydrat, protid, lipid, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh” [4]. Theo Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA 2020): “Đái tháo đường là một nhóm bệnh rối loạn chuyển hóa, có đặc điểm là tăng glucose máu, là hậu quả của sự thiếu hụt insulin hoặc sự khiếm khuyết trong hoạt động của insulin hoặc cả hai. Tăng glucose mạn tính thường dẫn đến sự hủy hoại, rối loạn chức năng của nhiều cơ quan đặc biệt là mắt, thận, tim và mạch máu” [13]. Dịch tễ Đái tháo đường là một bệnh mạn tính không lây nhiễm phổ biến trên toàn cầu bên cạnh các bệnh tim mạch, ung thư….

Theo thống kê của Liên đoàn đái tháo đường quốc tế (International Diabetes Federation - IDF) năm 2019, trên toàn thế giới có 463 triệu người độ tuổi 20-79 mắc đái tháo đường (chiếm 9,3% dân số thế giới) và chủ yếu tập trung vào độ tuổi > 60 tuổi. Dự đoán vào năm 2045 sẽ có khoảng 700 triệu người mắc đái tháo đường, tức là trong 10 trưởng thành có 1 người mắc bệnh đái tháo đường. Cũng theo thống kê của IDF năm 2019 có 4,2 triệu người chết vì đái tháo đường. Ước tính năm 2019, chi phí liên quan đến đái tháo đường là 760 tỷ đô la [15].

Ở Việt Nam, nghiên cứu năm 2012 của Bệnh viện nội tiết Trung ương cho thấy tỷ lệ mắc ĐTĐ trên toàn quốc ở người trưởng thành là 5,4%, tỷ lệ 3 đái tháo đường chưa được chẩn đoán trong cộng đồng là 63,6 [3]. Theo thống kê của IDF năm 2019, Việt Nam (nằm trong vùng phía Tây Thái Bình Dương) có hơn 3,7 triệu người Việt Nam mắc ĐTĐ; khoảng 53,4% người mắc ĐTĐ chưa được chẩn đoán. ĐTĐ là nguyên nhân tử vong của hơn 30 ngàn người trưởng thành mỗi năm. Ước tính chi phí liên quan đến điều trị đái tháo đường là 322,8 đô la/người mỗi năm [15].

Phân loại đái tháo đường Bệnh đái tháo đường được phân loại như sau [4], [13]: - Đái tháo đường typ 1: Do tế bào β của tuyến tụy bị phá vỡ, thường dẫn đến thiếu hụt insulin tuyệt đối. - Đái tháo đường typ 2: Do quá trình giảm tiết insulin trên nền kháng insulin. - Đái tháo đường thai kỳ: là ĐTĐ được chẩn đoán trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối của thai kỳ và không có bằng chứng về ĐTĐ typ 1, typ 2 trước đó. - Thể bệnh chuyên biệt của ĐTĐ do các nguyên nhân khác, như ĐTĐ sơ sinh hoặc ĐTĐ do sử dụng thuốc và hóa chất như sử dụng glucocorticoid, điều trị HIV/AIDS hoặc sau cấy ghép mô, ĐTĐ người trẻ xuất hiện ở độ tuổi trưởng thành.

Cơ chế bệnh sinh đái tháo đường typ 2 Hai yếu tố đặc trưng trong cơ chế bệnh sinh của đái tháo đường typ 2 là rối loạn tiết insulin và đề kháng insulin kết hợp với nhau [6], [10], [19]: Rối loạn tiết insulin: Do rối loạn bài tiết insulin của tế bào β đảo tụy. Rối loạn tiết insulin bao gồm: rối loạn về nhịp tiết, động học insulin và rối loạn về số lượng tế bào β tiết insulin, insulin không đủ để đảm bảo cho chuyển hóa glucose bình thường của cơ thể. Thiếu hụt insulin xảy ra sau một giai đoạn tăng insulin máu nhằm bù trừ cho tình trạng kháng insulin [19]. 4 Đề kháng insulin: hình thức kháng insulin bao gồm: giảm khả năng ức chế sản xuất glucose ở gan, giảm khả năng thu nạp glucose ở mô ngoại vi và giảm khả năng sử dụng glucose ở các cơ quan [1] Ngoài ra còn có yếu tố di truyền cũng đóng góp vào tình trạng kháng insulin.

Béo phì đặc biệt là béo bụng, tuổi cao, không hoạt động thể lực cũng gây nên tình trạng kháng insulin. Biến chứng của đái tháo đường typ 2 1. Các biến chứng cấp tính - Hôn mê nhiễm toan ceton: đây là biến chứng có nguy cơ tử vong cao. Nguyên nhân là tăng hormon gây tăng đường huyết và thiếu hụt insulin làm tăng sản xuất glucose tại gan, tăng ly giải lipid, tăng tổng hợp thể ceton, gây nhiễm toan chuyển hóa [11].

- Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu do tăng đường máu nặng, tăng đường niệu và gây mất nước và tăng áp lực thẩm thấu dẫn, thường xảy ra ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 [11]. - Hạ đường huyết do bệnh nhân dùng thuốc điều trị ĐTĐ quá liều, dùng thuốc lúc đói, bỏ bữa, dùng phối hợp với các thuốc khác (như thuốc chẹn beta, thuốc giãn mạch vành…). Triệu chứng hạ glucose máu thường xảy ra khi lượng glucose huyết tương <3,1 mmol/l; nếu < 2,8 mmol/l là hạ đường huyết máu nặng. Biểu hiện của hạ đường huyết từ nhẹ như vã mồ hôi, run chân tay; trung bình là dễ bị kích thích; nặng có thể dẫn tới hôn mê [1].

- Nhiễm toan lactic do tăng acid lactic trong máu thường ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2, đặc biệt là ở người cao tuổi. - Các bệnh nhiễm trùng cấp tính [10], [16]. Biến chứng mạn tính - Biến chứng mạch máu lớn: Xơ vữa mạch vành, xơ vữa mạch não …[1] - Biến chứng mạch máu nhỏ: Biến chứng võng mạc, biến chứng thận (viêm hoại tử đài bể thận, bệnh cầu thận đái tháo đường, bệnh thần kinh ngoại 5 vi (rối loạn cảm giác, vận động và tự động) thường gặp nhiều ở người cao tuổi ĐTĐ typ 2 [11] Các biến chứng khác: - Biến chứng bàn chân: loét bàn chân do ĐTĐ. - Biến chứng nhiễm khuẩn như: Da, niêm mạc, phổi, tiết niệu – sinh dục [10], [16].

Chẩn đoán đái tháo đường typ 2 tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường dựa vào 1 trong 4 tiêu chuẩn sau đây [4]:  Glucose huyết tương lúc đói (fasting plasma glucose: FPG) ≥ 126 mg/dl hay 7 mmol/l. Bệnh nhân phải nhịn ăn (không uống nước ngọt, có thể uống nước lọc, nước đun sôi để nguội) ít nhất 8 giờ (thường phải nhịn đói qua đêm từ 8 – 14 giờ), hoặc:  Glucose huyết tương ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống 75g ≥ 200 mg/dl (hay 11,1 mmol/l) Nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống phải được thực hiện theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới: Bệnh nhân nhịn đói từ nửa đêm trước khi làm nghiệm pháp, dùng một lượng glucose tương đương với 75 g glucose, hòa tan trong 250 – 300 ml nước, uống trong 5 phút, trong 3 ngày trước đó bệnh nhân ăn khẩu phần có khoảng 150– 200 gam carbohydrat mỗi ngày. Xét nghiệm này phải được thực hiện ở phòng thí nghiệm được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế.  Ở bệnh nhân có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết hoặc mức glucose huyết tương ở thời điểm bất kỳ ≥ 200 mg/dl (hay 11,1mmol/l).

Nếu không có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết (bao gồm tiểu nhiều, uống nhiều, ăn nhiều, sụt cân không rõ nguyên nhân), xét nghiệm chẩn đoán FPG, nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống và nồng độ glucose máu thời điểm bất kỳ ở trên cần được thực hiện lặp lại lần 2 để xác 6 định chẩn đoán. Thời gian thực hiện xét nghiệm lần 2 sau lần thứ nhất có thể từ 1 đến 7 ngày. Tổng quan về điều trị đái tháo đƣờng typ 2 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ