ĐẶT VẤN ĐỀ Stress là cách cơ thể thích nghi với các tình huống mới của môi trƣờng. Trong quá trình thích nghi với môi trƣờng mới, ở giai đoạn đầu, stress giúp ngƣời ta tăng khả năng cảnh giác, từ đó tăng năng lực phán đoán, ý chí và tính chiến đấu. Tuy nhiên, nếu môi trƣờng liên tục thay đổi, hoặc mức độ thay đổi liên tục tăng, tiếp tục kéo dài, cơ thể sẽ kiệt sức, sinh ra các bệnh tâm thế. Sức ép quá lớn của công việc khiến cho tỉ lệ điều dƣỡng bị stress nghề nghiệp là rất cao.
Stress nghề nghiệp là bệnh có tỷ lệ mắc phổ biến ở điều dƣỡng viên ở trên thế giới cũng nhƣ tại Việt Nam. Nghiên cứu ở Massachusetts 65% điều dƣỡng viên, cho biết: những điều kiện làm việc ở bệnh viện hiện nay khắc nghiệt đối với họ; gần một nửa muốn bỏ nghề [46]. Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của Trần Trúc Linh năm 2008 có đến 45.2% điều dƣỡng viên bị stress nghề nghiệp [11]. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thu Hà năm 2000 cho thấy tỉ lệ stress nghề nghiệp ở điều dƣỡng viên là 22,6% có mức cao; 41,9% có mức trung bình.
Nghiên cứu của Nguyễn Thu Hà và cộng sự vào năm 2004 cho kết quả 46% có biểu hiện stress [4]. Theo nghiên cứu của tác giả Trần Quỵ năm 2005 thì có 55,83% ý kiến cho là bị áp lực tâm lý khi làm việc; 62,11% cho rằng thu nhập không tƣơng xứng với công việc và trách nhiệm của ngƣời điều dƣỡng viên hiện nay [17]. Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của Đỗ Mạnh Hùng, Lê Thanh Hải và cộng sự, nguyên nhân xuất phát từ điều kiện làm việc thiếu trang thiết bị, thời gian kéo dài >8h/ngày, mâu thuẫn với bệnh nhân, đồng nghiệp, không hứng thú với công việc, thu nhập chƣa thỏa đáng; sự mâu thuẫn nơi làm việc, công việc quá tải đã gây chán nản trong công việc của điều dƣỡng viên [8]. Hậu quả của stress nghề nghiệp, đó là tình trạng mệt mỏi, lo âu, mất tập trung, trí nhớ suy giảm, dễ bị kích động, thậm chí đau đầu, đau thắt ngực, tăng hoặc tụt huyết áp, loét dạ dày, béo phì, rối loạn tiêu hóa, nổi mề day, suyễn,…Tình trạng ấy không chỉ làm giảm chất lƣợng sống của chính bản thân ngƣời điều dƣỡng, mà còn ảnh hƣởng đến những ngƣời xung quanh, nhất là những ngƣời sống kề cận nhƣ vợ/chồng, cha mẹ, con cái, đồng nghiệp và đặc biệt là ảnh hƣởng trực tiếp đến sức khỏe của ngƣời bệnh, ảnh hƣởng đến chất lƣợng điều trị, chăm sóc và hình ảnh của bệnh viện.
2 Bệnh viện Ung bƣớu thành phố Hồ Chí Minh là bệnh viện hạng một tuyến cuối về chuyên khoa ung bƣớu trực thuộc Sở Y tế thành phố, đƣợc giao chỉ tiêu 1300 giƣờng kế hoạch, với gần 1600 cán bộ viên chức, tiếp nhận điều trị cho bệnh nhân không chỉ của thành phố Hồ Chí Minh mà còn của các tỉnh, thành phố phía Nam và khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long. Vì vậy, áp lực bệnh nhân đến khám và điều trị tại bệnh viện luôn rất lớn, nhất là khu vực các khoa Nội. Nhân viên y tế, đặc biệt là các điều dƣỡng, tại các khoa nội luôn đƣợc đánh giá là phải chịu nhiều áp lực nhất từ quá tải công việc, lƣợng bệnh nhân quá đông, điều kiện làm việc thiếu thốn… Điều này có thể là nguyên nhân dẫn đến stress nghề nghiệp của điều dƣỡng tại đây. Do đó, Ban giám đốc và các cán bộ lãnh đạo, quản lý tại bệnh viện đang rất quan tâm nội dung này, với mong muốn sớm tìm ra thực trạng stress nghề nghiệp của điều dƣỡng tại các khoa Nội nói riêng và của nhân viên y tế trong bệnh viện nói chung, từ đó làm cơ sở để đề ra giải pháp giúp các điều dƣỡng bớt căng thẳng trong công việc và an tâm công tác.
Dù rằng đã có rải rác các báo cáo tại một số bệnh viện tuyến tỉnh, nhƣng tiếc rằng đến nay vẫn chƣa có số liệu minh họa cho tình hình và các yếu tố ảnh hƣởng đến stress nghề nghiệp của điều dƣỡng chuyên khoa Ung bƣớu, đặc biệt là điều dƣỡng tại các khoa Nội bệnh viện Ung Bƣớu TP.HCM để có thể xem xét, hỗ trợ giải pháp giảm stress nghề nghiệp cho họ. Xuất phát từ nhu cầu này chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Stress nghề nghiệp của điều dƣỡng tại các khoa Nội Bệnh viện Ung bƣớu thành phố Hồ Chí Minh năm 2019”. Mô tả thực trạng stress nghề nghiệp của điều dƣỡng các khoa Nội bệnh viện Ung Bƣớu thành phố Hồ Chí Minh năm 2019. Phân tích một số yếu tố ảnh hƣởng đến stress nghề nghiệp của điều dƣỡng các khoa Nội bệnh viện Ung Bƣớu thành phố Hồ Chí Minh năm 2019.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các nội dung cơ bản về stress và stress nghề nghiệp 1. Khái niệm về stress Thuật ngữ stress có nguồn gốc từ tiếng La tinh là “stringere” có nghĩa là kéo căng, đè nén. Trong tiếng Anh, stress có nghĩa là nhấn mạnh - lúc đầu đƣợc sử dụng trong vật lý học để chỉ sức nén mà vật liệu phải chịu.Cannon lần đầu tiên đã sử dụng thuật ngữ stress trong các nghiên cứu về sinh lý học.
Tuy nhiên, ngƣời có công lớn trong việc đƣa ra khái niệm stress một cách khoa học đó là H. Ông đã sử dụng thuật ngữ stress để mô tả hội chứng của quá trình thích nghi với mọi loại bệnh tật (GAS) [31]. Ông đã đƣa ra định nghĩa: “Stress là một phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể trƣớc những tình huống căng thẳng”. Về sau, trong các nghiên cứu của mình, H.Selye nhấn mạnh: stress có tính chất tổng hợp chứ không phải chỉ thể hiện trong một trạng thái bệnh lý.
Stress là phản ứng sống, là phản ứng không đặc hiệu của cơ thể với bất kỳ tác động nào.Selye đã nêu lên đƣợc bản chất sinh học của stress, tuy nhiên ông cũng chƣa đề cập đến khía cạnh tâm lý-xã hội của vấn đề này. Theo từ điển y học Anh-Việt, stress đƣợc hiểu là “bất cứ nhân tố nào đe dọa đến sức khỏe cơ thể hay có tác động phƣơng hại đến các chức năng cơ thể nhƣ tổn thƣơng, bệnh tật hay tâm trạng lo lắng”. Định nghĩa này đã xem stress nhƣ là các tác nhân. Trong tâm thần học, stress đƣợc xem là tất cả những sự việc, hoàn cảnh trong các điều kiện sinh hoạt xã hội, trong mối liên quan phức tạp giữa ngƣời với ngƣời tác động vào tâm thần gây nên những cảm xúc mạnh.
Nguồn gốc của các yếu tố stress này có thể là các biến cố trong gia đình, nghề nghiệp và xã hội [14]. Nhƣ vậy, có thể thấy stress đƣợc hiểu dƣới rất nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau. Stress vừa đƣợc xem nhƣ là những nguyên nhân, hậu quả vừa có thể là cách đáp ứng của chủ thể trƣớc những yêu cầu nảy sinh trong cuộc sống, lao động. Stress không chỉ đƣợc khai thác ở góc độ y học, sinh học, tâm lý học mà nó còn đƣợc xem xét, phân tích dƣới góc độ của các khoa học liên ngành.
Khái niệm về stress nghề nghiệp Theo Viện nghiên cứu Sức khỏe và An toàn nghề nghiệp Quốc gia Hoa Kỳ, stress nghề nghiệp có thể đƣợc định nghĩa nhƣ là: những đáp ứng có hại về mặt cảm xúc và cơ thể xảy ra khi yêu cầu công việc không phù hợp với khả năng, nhu cầu và nguồn lực của ngƣời lao động [46]. Nhƣ vậy, có thể hiểu stress nghề nghiệp nhƣ là những đáp ứng về mặt sinh học và tâm lý xảy ra khi các yêu cầu của công việc không phù hợp với khả năng, nhu cầu và nguồn lực của ngƣời lao động. Stress nghề nghiệp thƣờng liên quan đến cả tổ chức (cơ quan, xí nghiệp…) và ngƣời lao động, chứ không phải chỉ là vấn đề riêng tƣ, mang tính cá nhân. Stress nghề nghiệp ảnh hƣởng đến cả tổ chức và bản thân ngƣời lao động trên nhiều khía cạnh.
Việc ứng phó với stress nghề nghiệp đòi hỏi các giải pháp cả về phía cơ quan, đơn vị và cá nhân ngƣời lao động. Biểu hiện của stress nghề nghiệp Có thể nói, stress nghề nghiệp biểu hiện ở nhiều góc độ, khía cạnh và đa dạng, phức tạp. Nhìn chung, khi ngƣời lao động bị stress trong công việc, ở họ có những thay đổi về mặt thể chất và tâm lý (nhận thức, xúc cảm và hành vi) [22]. Mức độ stress nghề nghiệp Việc phân loại mức độ Stress nghề nghiệp cũng dựa trên cách phân loại mức độ stress nói chung.
Thực tế, có nhiều cách phân loại khác nhau: Theo H.Selye [15], stress có hai mức độ: - Mức độ eustress: là mức độ stress bình thƣờng, là phản ứng thích nghi bình thƣờng của cơ thể, đây là stress tích cực, nó huy động khả năng của cơ thể để vƣợt qua tác nhân gây stress và lấy lại sự cân bằng. - Mức độ dystress: là mức độ stress bệnh lý, phản ứng thích nghi của cơ thể bị thất bại, con ngƣời không thể vƣợt qua đƣợc tác nhân gây stress và dẫn đến tình trạng ốm đau, bệnh tật… Cách phân loại của H.Selye đã chỉ ra mức độ có lợi và có hại cho cơ thể của stress nhƣng chƣa chỉ rõ những dấu hiệu tâm sinh lý của từng mức độ stress nên tác dụng dự báo để phòng ngừa còn hạn chế. Đặng Phƣơng Kiệt khi dịch và giới thiệu trong cuốn sách “Stress và sức khỏe” đã phân chia mức độ stress nhƣ sau [46]: 5 - Stress mức độ thấp: Là mức độ mà chủ thể có thể cảm nhận nhƣ một thách thức làm tăng thành tích. - Stress mức độ vừa: Là mức độ phá vỡ ứng xử và có thể dẫn đến những hành động rập khuôn, lặp đi lặp lại.
- Stress mức độ cao: là mức độ dẫn đến ngăn chặn ứng xử gây ra những phản ứng lệch lạc, dễ bối rối, giận dữ và trầm nhƣợc. Cách phân loại này đã chỉ ra đƣợc dấu hiệu tâm lý của một số mức độ stress. Ảnh hƣởng của stress nghề nghiệp Stress luôn hiện diện trong hoạt động nghề nghiệp, nó ảnh hƣởng rất lớn không chỉ đến bản thân ngƣời lao động, mà còn ảnh hƣởng đến gia đình và xã hội trên nhiều khía cạnh: Ảnh hƣởng đến cá nhân; Ảnh hƣởng tích cực; Ảnh hƣởng tiêu cực; Ảnh hƣởng đến gia đình, cơ quan, tổ chức, xã hội 1. Ứng phó với stress nghề nghiệp Theo Lazarus và Folkman (Stress, appraisal and coping, New York: Springer), ứng phó là “những nỗ lực không ngừng thay đổi về nhận thức và hành vi của cá nhân để giải quyết các yêu cầu cụ thể, tồn tại bên trong cá nhân và trong môi trƣờng mà cá nhân nhận định chúng có tính chất đe dọa, thách thức hoặc vƣợt quá nguồn lực của họ” [39],[44],[46].