ĐẶT VẤN ĐỀ Trong cuộc sống ngày nay trạng thái căng thẳng (stress) nghề nghiệp ngày càng trở nên phổ biến, là một vấn đề quan trọng về sức khỏe nghề nghiệp mà nhiều nước trên thế giới đã tập trung nghiên cứu. Stress do nghề nghiệp được Viện nghiên cứu quốc gia Hoa Kỳ về sức khỏe và an toàn nghề nghiệp (NIOSH) định nghĩa là “những phản ứng về thể chất và cảm xúc tiêu cực xảy ra khi có những đòi hỏi của công việc nhưng chưa tương xứng với năng lực hoặc nhu cầu của người làm việc”[18]. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố nguyên nhân và hậu quả của tình trạng stress nghề nghiệp [9,20,21]. Các yếu tố thường được nói đến như: đặc điểm nghề nghiệp có áp lực cao, thời gian làm việc kéo dài có nhiều nguy cơ đối với sức khoẻ; quá nhiều công việc phải đảm nhận… Hậu quả của tình trạng stress nghề nghiệp gây ra có thể là gia tăng các vấn đề sức khoẻ, các rối nhiễu tâm lý và rối nhiễu hành vi là ba biểu hiện chính khi người lao động mắc phải stress trầm trọng [19].
Cũng theo NIOSH nghề luật sư và điều dưỡng là những nghề dễ bị stress nhiều nhất trong các nghành nghề có áp lực cao[9]. Vấn đề này đặc biệt nghiêm trọng đối với những người làm việc trong môi trường chịu nhiều áp lực nghề nghiệp như điều dưỡng viên tại bệnh viện. Họ phải làm việc cả ngày lẫn đêm, đối mặt với các nguy cơ lây nhiễm, đối mặt với những phản ứng không phù hợp của người bệnh, người nhà của người bệnh, hay đối mặt với cái chết của bệnh nhân… Ở Việt Nam, chưa có nhiều nghiên cứu về chủ đề stress của Nhân viên y tế (NVYT) nói chung và stress nghề nghiệp của điều dưỡng nói riêng, nên kĩ năng ứng phó của NVYT cũng như sự tư vấn, hỗ trợ của tổ chức, người quản lý về tình trạng stress chưa được quan tâm và đầu tư thoả đáng. Có thể kể đến một số nghiên cứu mà chúng tôi đã tham khảo như nghiên cứu của tác giả Lê Thành Tài, và cộng sự (2008) về stress nghề nghiệp của nhân viên điều dưỡng tại 3 bệnh viện đa khoa (BVĐK), BVĐK Trung ương Cần Thơ, BVĐK thành phố Cần Thơ và BVĐK Châu 2 Thành- Hậu Giang.
Kết quả nghiên cứu cho thấy đối tượng nghiên cứu có tỷ lệ stress khá cao (45,2%), chủ yếu là mức độ stress nhẹ và trung bình. Nghiên cứu của tác giả Đậu Thị Tuyết (2013) xác định tình trạng stress, lo âu, trầm cảm của đối tượng cán bộ y tế khối lâm sàng ở hai BVĐK thành phố Vinh và BVĐK 115, Nghệ An. Kết quả cho thấy tỷ lệ stress chung ở hai bệnh viện này là 20,4%. Hay nghiên cứu mới đây của tác giả Ngô Thị Kiều My (2014) về stress, lo âu, trầm cảm trên đối tượng là nhân điều dưỡng và hộ sinh khối lâm sàng bệnh viên phụ sản- nhi Đà Nẵng.
Kết quả của nghiên cứu cho thấy tỷ lệ điều dưỡng, hộ sinh khối lâm sàng của bệnh viện này bị stress là 18,1%. Bệnh viên đa khoa tỉnh Gia Lai là bệnh viện hạng 2 theo phân loại của Bộ Y tế, với số giường biên chế 720 giường, số giường thực kê :1011 giường và luôn trong tình trạng quá tải thể hiện qua công suất giường bệnh 125% (năm 2014)[12]. Đi đôi với nhu cầu khám chữa bệnh của người dân địa phương ngày càng cao là gia tăng áp lực công việc cho NVYT trong đó phải kể đến đối tượng điều dưỡng. Đây là lực lượng lao động chiếm phần lớn trong tổng số nhân viên bệnh viện, là những người trực tiếp có mặt điều trị, chăm sóc cho người bệnh từ lúc nhập viện cho đến khi ra viện, đặc biệt là các điều dưỡng ở khối lâm sàng họ thường xuyên phải đối mặt với nhiều nguy cơ nghề nghiệp như trực đêm, nguy cơ lây nhiễm bệnh tật, nguy cơ tổn thương do các vật sắc nhọn, thái độ không tốt của bệnh nhân và người nhà….trong môi trường làm việc với nhiều áp lực như vậy, làm cho người điều dưỡng có nguy cơ bị stress rất cao.
Việc hiểu rõ tình trạng stress, kiến thức về stress nói chung và các yếu tố liên quan với tình trạng stress nghề nghiệp ở NVYT như thế nào giúp cho người quản lý có chiến lược cải thiện môi trường làm việc, nâng cao năng lực ứng phó với stress, thúc đẩy người lao động làm việc hiệu quả, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người bệnh. Từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Stress nghề nghiệp và một số yếu tố liên quan của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai, năm 2015”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Xác định tỷ lệ stress nghề nghiệp của điều dưỡng lâm sàng bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai, năm 2015.
Xác định mối liên quan của yếu tố công việc với tình trạng stress nghề nghiệp của điều dưỡng lâm sàng bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai, năm 2015. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các khái niệm cơ bản 1. Căng thẳng (stress) Trong tiếng Anh từ “stress” bắt nguồn từ chữ La tinh “stringi”, có nghĩa là “ bị kéo căng ra”, được dùng trong vật lý học để chỉ một sức nén mà vật liệu phải chịu đựng.
Đến thế kỷ thứ 17 từ ý nghĩa sức ép trên vật liệu stress được chuyển sang dùng cho người với ý nghĩa một sức ép hay một xâm phạm nào đó tác động vào con người gây ra một phản ứng căng thẳng [28]. Hiện nay “stress” là một thuật ngữ được dùng rộng rãi, tuy nhiên mỗi tác giả sử dụng với những sắc thái khác nhau. Theo Claude Bernard nhắc đến stress là nói về môi trường nội tại của cơ thể (nội mô-milieu interiur). Trong khái niệm ông miêu tả về nguyên lý của sự cần bằng động trong đó tính hằng định- một trạng thái bền vững của môi trường trong cơ thể là yếu tố của sự sống còn.
Vì vậy những thay đổi hay những tác động ngoại cảnh làm đảo lộn sự cân bằng nội tại khiến cơ thể sinh ra những phản ứng[14]. Tiếp theo đó Walter Cannon đã đặt ra thuật ngữ “sự cân bằng nội môi”(homeostasis) để định nghĩa rõ nét hơn khái niệm cân bằng động của Bernard. Ông cũng là người đầu tiên phát hiện ra các yếu tố gây ra stress không chỉ là tác động của lý tính mà còn từ những tác động của cảm xúc. Qua các thí nghiệm của mình, ông đã chứng minh con người hay bất kỳ động vật nào khác đều có đáp ứng “chiến đấu hay tháo chạy” khi gặp nguy hiểm[26].
Nhà khoa học người Canada Hans Selye đã mở rộng thêm những quan sát của Cannon. Ông theo dõi khả năng kiểm soát quá trình tiết hormôn (như cortisol) một loại hormôn gây stress của tuyến yên thông qua vùng vỏ của tuyến thượng thận[13,26]. Ông đưa ra định nghĩa: “Stress là nhịp sống luôn có mặt ở bất kỳ thời điểm nào của sự tồn tại của chúng ta. Một tác động bất kỳ tới một cơ quan nào đó đều gây stress.
Stress không phải lúc nào cũng là kết quả của sự tổn thương, ngược 5 lại có hai loại stress khác nhau, đối lập nhau: stress bình thường khỏe mạnh là Unstress, stress độc hại hay tiêu cực là Dystress”[12]. Như vậy có thể xem stress như sự đáp ứng của con người trước một nhu cầu hoặc là sự tương tác trong mối quan hệ giữa con người với môi trường xung quanh. Trong điều kiện bình thường, stress là một đáp ứng thích nghi về mặt tâm lý, sinh học và tập tính. Stress đặt con người vào quá trình sắp xếp thích ứng với môi trường xung quanh, tạo cho cơ thể một cân bằng mới sau khi chịu đựng những tác động của môi trường.
Nói theo cách khác, stress bình thường góp phần làm cho cơ thể thích nghi. Nếu đáp ứng của cá nhân với stress không đầy đủ, không thích hợp và cơ thể không tạo ra được một cân bằng mới thì những chức năng của cơ thể ít nhiều bị rối loạn, dẫn đến những thay đổi về sinh lý, tâm lý, hành vi tạo ra những stress bệnh lý cấp tính hoặc kéo dài[11]. Các dấu hiệu của stress: Stress tiêu cực có thể phá vỡ cân bằng trong cuộc sống của con người làm nảy sinh nhiều vấn đề về sức khỏe như suy kiệt, lo âu, trầm cảm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bản thân và xã hội.[7] Nhưng nếu nhìn nhận ở khía cạnh tích cực, thì stress là phản ứng không thể thiếu ở con người, là biểu hiện đáp ứng của cá nhân đối với những yếu tố tác nhân, hay tình huống trong cuộc sống con người phải đối mặt. Stress tích cực giúp chúng ta thích nghi, hòa hợp để cùng sống chung với stress, biến nó thành động lực giúp con người phát triển[9].
Các dấu hiệu của stress bao gồm những bất thường về thể chất, cảm xúc, nhận thức và hành vi. Có thể là sự kiệt sức, tự dưng thèm ăn hoặc bỏ ăn, đau đầu rối loạn giấc ngủ cùng những biểu hiện khó chịu khác. Stress còn đi kèm với cảm giác bất an, giận dữ hoặc sợ hãi. Người bị stress thường có các biểu hiện thực thể( như tăng nhịp tim, tăng huyết áp, nhức đầu, mệt mỏi, thở ngắn hơi, ra mồ hôi.
Biểu hiện về cảm xúc( như cảm thấy khó chịu, dễ cấu gắt, buồn bã, chán nản, thờ ơ, không thân thiện, sa sút tinh thần…Có những hành vi như lạm dụng chất kích thích( rượu, bia, thuốc lá…) dễ gây hấn, bất cần đời, xáo trộn các sinh hoạt hàng ngày( ăn uống, giấc ngủ), mất tập trung, hay quên, xa lánh mọi người, có vấn đề về tình dục…Nếu 6 stress kéo dài sẽ tổn hại hệ miễn dịch và các chức năng sinh lý khác, làm suy yếu khả năng chống lại bệnh tật của cơ thể cũng như sự xâm nhập của vi khuẩn và làm tăng nguy cơ tử vong[5]. Hậu quả của stress: Tổng hợp từ nhiều nghiên cứu cho thấy, stress không những tác động xấu cho cá nhân mà còn cho xã hội. Stress được xem là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất của nhiều căn bệnh như [2,5]: - Bệnh tâm thần kinh: mất ngủ, đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, buồn phiền, cáu gắt, loạn trí nhớ,. - Bệnh tim mạch: tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, loạn nhịp tim, hồi hộp đánh trống ngực… - Các bệnh về da: như mụn sưng đỏ, phồng rộp hay bệnh Zona, da dễ bị mẫn ngứa, phát ban, hay chàm… hay các bệnh về da có tính kinh niên, mãn tính rất khó điều trị.