Luận văn stress nghề nghiệp và một số yếu tố liên quan của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa tỉnh gia lai năm 2015

Chuyên khảo y tế phân tích Luận văn stress nghề nghiệp và một số yếu tố liên quan của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa tỉnh, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn

2015

94
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Stress Nghề Nghiệp Điều Dưỡng Gia Lai Tổng Quan Tác Động

Stress nghề nghiệp là một vấn đề sức khỏe nghề nghiệp quan trọng, đặc biệt đối với điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Gia Lai. Theo Viện Nghiên cứu Quốc gia Hoa Kỳ về Sức khỏe và An toàn Nghề nghiệp (NIOSH), stress xảy ra khi yêu cầu công việc vượt quá khả năng đáp ứng của người lao động. Điều này dẫn đến những phản ứng tiêu cực về thể chất và cảm xúc. Nhiều nghiên cứu chỉ ra các yếu tố và hậu quả của stress nghề nghiệp, bao gồm áp lực cao, thời gian làm việc kéo dài, và quá tải công việc. Hậu quả có thể là các vấn đề sức khỏe, rối loạn tâm lý và hành vi, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và hiệu quả công việc. Bài viết này đi sâu vào tình trạng stress của điều dưỡng Gia Lai, tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất giải pháp.

1.1. Định nghĩa và khái niệm cơ bản về stress điều dưỡng

Stress trong bối cảnh điều dưỡng được hiểu là phản ứng của cơ thể trước những áp lực và đòi hỏi quá mức từ công việc. Nó không chỉ là áp lực về thời gian, khối lượng công việc, mà còn bao gồm cả áp lực về cảm xúc khi tiếp xúc với bệnh nhân và gia đình. Hans Selye định nghĩa stress là nhịp sống luôn có mặt ở bất kỳ thời điểm nào của sự tồn tại. Một tác động bất kỳ tới một cơ quan nào đó đều gây stress. Việc hiểu rõ định nghĩa này giúp nhận diện sớm các dấu hiệu và có biện pháp can thiệp kịp thời.

1.2. Tầm quan trọng của nghiên cứu stress điều dưỡng tại Gia Lai

Nghiên cứu về stress của điều dưỡng tại Gia Lai có ý nghĩa quan trọng vì nó cung cấp cái nhìn sâu sắc về những thách thức mà đội ngũ này đang đối mặt. Kết quả nghiên cứu có thể giúp bệnh viện và các cơ quan quản lý y tế đưa ra các chính sách và biện pháp hỗ trợ phù hợp, cải thiện môi trường làm việc và nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân. Việc quan tâm đến sức khỏe tinh thần điều dưỡng là đầu tư vào chất lượng cuộc sống điều dưỡng và hiệu quả hoạt động của hệ thống y tế.

II. Thách Thức Vấn Đề Áp Lực Công Việc Điều Dưỡng Gia Lai

Điều dưỡng viên tại bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai thường xuyên đối mặt với nhiều áp lực, bao gồm ca trực dài, nguy cơ lây nhiễm bệnh tật, và giao tiếp với bệnh nhân và gia đình trong tình trạng căng thẳng. Theo tài liệu nghiên cứu, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Gia Lai có công suất giường bệnh cao, gây áp lực lớn lên đội ngũ y tế. Áp lực này có thể dẫn đến tình trạng kiệt sức (burnout) ở điều dưỡng và ảnh hưởng tiêu cực đến sự hài lòng công việc của điều dưỡng. Tình trạng thiếu nhân lực cũng là một yếu tố quan trọng, khiến mỗi điều dưỡng phải đảm nhận nhiều công việc hơn, tăng gánh nặng công việc điều dưỡng.

2.1. Các yếu tố gây áp lực công việc điều dưỡng tại Gia Lai

Nghiên cứu chỉ ra rằng nhiều yếu tố góp phần vào áp lực công việc của điều dưỡng tại Gia Lai. Các yếu tố này bao gồm: thiếu trang thiết bị, môi trường làm việc căng thẳng, giao tiếp khó khăn với bệnh nhân và gia đình, và chính sách đãi ngộ chưa thỏa đáng. Đặc biệt, việc phải đối mặt với những tình huống khẩn cấp và chứng kiến sự đau khổ của bệnh nhân cũng gây ra stress lớn cho điều dưỡng. Hiểu rõ các yếu tố này là bước đầu tiên để xây dựng các giải pháp giảm tải.

2.2. Hậu quả của áp lực công việc đối với điều dưỡng

Áp lực công việc kéo dài có thể dẫn đến nhiều hậu quả tiêu cực cho điều dưỡng. Về mặt sức khỏe thể chất, có thể gặp các vấn đề như đau đầu, mất ngủ, và các bệnh về tiêu hóa. Về mặt sức khỏe tinh thần điều dưỡng, có thể dẫn đến lo âu, trầm cảm, và kiệt sức (burnout). Ngoài ra, áp lực công việc còn ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc và sự hài lòng công việc của điều dưỡng, có thể dẫn đến tình trạng bỏ việc. Tác động của stress đến hiệu quả công việc là một vấn đề cần được quan tâm.

III. Cách Đánh Giá Stress Nghề Nghiệp Điều Dưỡng Tại Bệnh Viện

Để đánh giá mức độ stress của điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Gia Lai, nghiên cứu sử dụng bộ công cụ chuẩn DASS 21 của Lovibond. Phương pháp này cho phép xác định tỷ lệ stress và phân loại theo các mức độ khác nhau. Việc sử dụng các thang đo chuẩn như DASS 21 giúp đảm bảo tính khách quan và so sánh được với các nghiên cứu khác. Khảo sát stress điều dưỡng là một phần quan trọng của quá trình đánh giá, thu thập thông tin trực tiếp từ đối tượng nghiên cứu. Kết quả đánh giá stress nghề nghiệp cung cấp cơ sở để xây dựng các chương trình can thiệp và hỗ trợ.

3.1. Sử dụng thang đo DASS 21 để xác định mức độ stress

Thang đo DASS 21 (Depression, Anxiety and Stress Scale) là một công cụ được sử dụng rộng rãi để đánh giá các triệu chứng trầm cảm, lo âu và stress. Nó bao gồm 21 câu hỏi, mỗi câu hỏi đánh giá một khía cạnh khác nhau của các trạng thái tâm lý này. Người tham gia sẽ đánh giá mức độ mà họ trải qua các triệu chứng này trong tuần vừa qua. Kết quả sẽ được tổng hợp để xác định mức độ stress của từng cá nhân. Đây là một phương pháp đánh giá stress nghề nghiệp hiệu quả.

3.2. Quy trình thực hiện khảo sát stress cho điều dưỡng

Quy trình khảo sát stress điều dưỡng bao gồm các bước sau: (1) Chuẩn bị bộ câu hỏi và giải thích rõ mục đích của nghiên cứu cho người tham gia. (2) Thu thập thông tin từ điều dưỡng thông qua bộ câu hỏi tự điền. (3) Đảm bảo tính bảo mật của thông tin cá nhân. (4) Xử lý và phân tích dữ liệu thu thập được. (5) Báo cáo kết quả và đưa ra các khuyến nghị. Việc thực hiện đúng quy trình giúp đảm bảo tính chính xác và tin cậy của kết quả khảo sát stress điều dưỡng.

IV. Kết Quả Tình Trạng Stress Yếu Tố Liên Quan Tại Gia Lai

Nghiên cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Gia Lai cho thấy 25.2% điều dưỡng có biểu hiện stress. Các yếu tố liên quan đến tình trạng stress bao gồm: hợp đồng làm việc ngắn hạn, nhiệt độ môi trường làm việc không phù hợp, và thu nhập không tương xứng với mức độ lao động. Phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy các yếu tố này có ý nghĩa thống kê trong việc dự đoán tình trạng stress. Kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cải thiện môi trường làm việc điều dưỡng và chính sách đãi ngộ.

4.1. Mức độ stress của điều dưỡng tại bệnh viện Gia Lai

Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ điều dưỡng viên lâm sàng của BVĐK tỉnh Gia Lai không có biểu hiện stress là 74,8% và có biểu hiện stress là 25,2%. Trong đó các mức độ nhẹ, vừa, nặng lần lượt là (10,4%, 8,8%, 6%), không có mức độ rất nặng. Điều này cho thấy rằng một phần đáng kể điều dưỡng đang trải qua stress và cần được hỗ trợ.

4.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến stress điều dưỡng

Qua phân tích hồi quy logistic đa biến, nghiên cứu tìm thấy 3 yếu tố liên quan có ý nghĩa thông kê với tình trạng stress như sau: Yếu tố nội dung công việc: đối tượng là hợp đồng ngắn hạn (OR=2,81, p<0,05). Yếu tố môi trường làm việc điều dưỡng: nhiệt độ khoa phòng nơi làm việc quá nóng hay quá lạnh (OR=2, p<0,05). Yếu tố động viên khuyến khích và phát triển nghề nghiệp: thu nhập không phù hợp so với mức lao động (OR= 2,14, p<0,05). Đây là những yếu tố cần được ưu tiên giải quyết.

V. Giải Pháp Giảm Stress Điều Dưỡng Ứng Dụng Thực Tiễn

Dựa trên kết quả nghiên cứu, bệnh viện cần triển khai các giải pháp giảm stress cho điều dưỡng. Các giải pháp bao gồm: tổ chức khám sàng lọc sức khỏe tinh thần điều dưỡng, cải thiện môi trường làm việc điều dưỡng (đảm bảo nhiệt độ phù hợp), điều chỉnh chính sách đãi ngộ (tăng thu nhập), và cung cấp các chương trình tư vấn tâm lý. Quản lý stress cho điều dưỡng là một quá trình liên tục, đòi hỏi sự phối hợp giữa bệnh viện, điều dưỡng, và các chuyên gia tâm lý. Phòng ngừa stress nghề nghiệp nên được ưu tiên hàng đầu.

5.1. Các biện pháp can thiệp giảm stress hiệu quả

Một số biện pháp can thiệp giảm stress hiệu quả bao gồm: đào tạo kỹ năng quản lý stress cho điều dưỡng, cải thiện giao tiếp giữa điều dưỡng và bệnh nhân, cung cấp hỗ trợ tâm lý, và khuyến khích điều dưỡng tham gia các hoạt động thư giãn và giải trí. Quan trọng là tạo ra một môi trường làm việc điều dưỡng hỗ trợ, nơi điều dưỡng cảm thấy được lắng nghe và tôn trọng.

5.2. Áp dụng các giải pháp vào thực tế tại bệnh viện Gia Lai

Để áp dụng các giải pháp vào thực tế, bệnh viện cần: (1) Thành lập một nhóm công tác chuyên trách về sức khỏe tinh thần điều dưỡng. (2) Xây dựng kế hoạch hành động cụ thể, bao gồm các mục tiêu, hoạt động và nguồn lực. (3) Triển khai các hoạt động theo kế hoạch, đảm bảo sự tham gia của điều dưỡng. (4) Đánh giá hiệu quả của các giải pháp và điều chỉnh khi cần thiết. (5) Duy trì một hệ thống hỗ trợ liên tục cho điều dưỡng.

VI. Kết Luận Tương Lai Nâng Cao Sức Khỏe Điều Dưỡng Gia Lai

Nghiên cứu về stress nghề nghiệp của điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Gia Lai cung cấp những thông tin quan trọng để cải thiện sức khỏe tinh thần điều dưỡng. Việc giải quyết các yếu tố gây stress không chỉ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của điều dưỡng mà còn góp phần vào việc nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân. Tương lai của ngành điều dưỡng Gia Lai phụ thuộc vào sự quan tâm và đầu tư vào sức khỏe tinh thần điều dưỡng.

6.1. Tóm tắt kết quả và ý nghĩa của nghiên cứu

Nghiên cứu đã xác định được tỷ lệ stress và các yếu tố liên quan của điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Gia Lai. Kết quả cho thấy rằng cần có những biện pháp can thiệp để giảm stress và cải thiện môi trường làm việc điều dưỡng. Nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng các chính sách và chương trình hỗ trợ phù hợp.

6.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo và khuyến nghị

Hướng nghiên cứu tiếp theo nên tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp giảm stress. Ngoài ra, cần nghiên cứu sâu hơn về các yếu tố cá nhân và tổ chức ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần điều dưỡng. Khuyến nghị cho bệnh viện là tiếp tục đầu tư vào các chương trình hỗ trợ điều dưỡng, đảm bảo một môi trường làm việc điều dưỡng an toàn và thân thiện.

23/05/2025
Luận văn stress nghề nghiệp và một số yếu tố liên quan của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa tỉnh gia lai năm 2015

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Trong cuộc sống ngày nay trạng thái căng thẳng (stress) nghề nghiệp ngày càng trở nên phổ biến, là một vấn đề quan trọng về sức khỏe nghề nghiệp mà nhiều nước trên thế giới đã tập trung nghiên cứu. Stress do nghề nghiệp được Viện nghiên cứu quốc gia Hoa Kỳ về sức khỏe và an toàn nghề nghiệp (NIOSH) định nghĩa là “những phản ứng về thể chất và cảm xúc tiêu cực xảy ra khi có những đòi hỏi của công việc nhưng chưa tương xứng với năng lực hoặc nhu cầu của người làm việc”[18]. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố nguyên nhân và hậu quả của tình trạng stress nghề nghiệp [9,20,21]. Các yếu tố thường được nói đến như: đặc điểm nghề nghiệp có áp lực cao, thời gian làm việc kéo dài có nhiều nguy cơ đối với sức khoẻ; quá nhiều công việc phải đảm nhận… Hậu quả của tình trạng stress nghề nghiệp gây ra có thể là gia tăng các vấn đề sức khoẻ, các rối nhiễu tâm lý và rối nhiễu hành vi là ba biểu hiện chính khi người lao động mắc phải stress trầm trọng [19].

Cũng theo NIOSH nghề luật sư và điều dưỡng là những nghề dễ bị stress nhiều nhất trong các nghành nghề có áp lực cao[9]. Vấn đề này đặc biệt nghiêm trọng đối với những người làm việc trong môi trường chịu nhiều áp lực nghề nghiệp như điều dưỡng viên tại bệnh viện. Họ phải làm việc cả ngày lẫn đêm, đối mặt với các nguy cơ lây nhiễm, đối mặt với những phản ứng không phù hợp của người bệnh, người nhà của người bệnh, hay đối mặt với cái chết của bệnh nhân… Ở Việt Nam, chưa có nhiều nghiên cứu về chủ đề stress của Nhân viên y tế (NVYT) nói chung và stress nghề nghiệp của điều dưỡng nói riêng, nên kĩ năng ứng phó của NVYT cũng như sự tư vấn, hỗ trợ của tổ chức, người quản lý về tình trạng stress chưa được quan tâm và đầu tư thoả đáng. Có thể kể đến một số nghiên cứu mà chúng tôi đã tham khảo như nghiên cứu của tác giả Lê Thành Tài, và cộng sự (2008) về stress nghề nghiệp của nhân viên điều dưỡng tại 3 bệnh viện đa khoa (BVĐK), BVĐK Trung ương Cần Thơ, BVĐK thành phố Cần Thơ và BVĐK Châu 2 Thành- Hậu Giang.

Kết quả nghiên cứu cho thấy đối tượng nghiên cứu có tỷ lệ stress khá cao (45,2%), chủ yếu là mức độ stress nhẹ và trung bình. Nghiên cứu của tác giả Đậu Thị Tuyết (2013) xác định tình trạng stress, lo âu, trầm cảm của đối tượng cán bộ y tế khối lâm sàng ở hai BVĐK thành phố Vinh và BVĐK 115, Nghệ An. Kết quả cho thấy tỷ lệ stress chung ở hai bệnh viện này là 20,4%. Hay nghiên cứu mới đây của tác giả Ngô Thị Kiều My (2014) về stress, lo âu, trầm cảm trên đối tượng là nhân điều dưỡng và hộ sinh khối lâm sàng bệnh viên phụ sản- nhi Đà Nẵng.

Kết quả của nghiên cứu cho thấy tỷ lệ điều dưỡng, hộ sinh khối lâm sàng của bệnh viện này bị stress là 18,1%. Bệnh viên đa khoa tỉnh Gia Lai là bệnh viện hạng 2 theo phân loại của Bộ Y tế, với số giường biên chế 720 giường, số giường thực kê :1011 giường và luôn trong tình trạng quá tải thể hiện qua công suất giường bệnh 125% (năm 2014)[12]. Đi đôi với nhu cầu khám chữa bệnh của người dân địa phương ngày càng cao là gia tăng áp lực công việc cho NVYT trong đó phải kể đến đối tượng điều dưỡng. Đây là lực lượng lao động chiếm phần lớn trong tổng số nhân viên bệnh viện, là những người trực tiếp có mặt điều trị, chăm sóc cho người bệnh từ lúc nhập viện cho đến khi ra viện, đặc biệt là các điều dưỡng ở khối lâm sàng họ thường xuyên phải đối mặt với nhiều nguy cơ nghề nghiệp như trực đêm, nguy cơ lây nhiễm bệnh tật, nguy cơ tổn thương do các vật sắc nhọn, thái độ không tốt của bệnh nhân và người nhà….trong môi trường làm việc với nhiều áp lực như vậy, làm cho người điều dưỡng có nguy cơ bị stress rất cao.

Việc hiểu rõ tình trạng stress, kiến thức về stress nói chung và các yếu tố liên quan với tình trạng stress nghề nghiệp ở NVYT như thế nào giúp cho người quản lý có chiến lược cải thiện môi trường làm việc, nâng cao năng lực ứng phó với stress, thúc đẩy người lao động làm việc hiệu quả, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người bệnh. Từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Stress nghề nghiệp và một số yếu tố liên quan của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai, năm 2015”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Xác định tỷ lệ stress nghề nghiệp của điều dưỡng lâm sàng bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai, năm 2015.

Xác định mối liên quan của yếu tố công việc với tình trạng stress nghề nghiệp của điều dưỡng lâm sàng bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai, năm 2015. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các khái niệm cơ bản 1. Căng thẳng (stress) Trong tiếng Anh từ “stress” bắt nguồn từ chữ La tinh “stringi”, có nghĩa là “ bị kéo căng ra”, được dùng trong vật lý học để chỉ một sức nén mà vật liệu phải chịu đựng.

Đến thế kỷ thứ 17 từ ý nghĩa sức ép trên vật liệu stress được chuyển sang dùng cho người với ý nghĩa một sức ép hay một xâm phạm nào đó tác động vào con người gây ra một phản ứng căng thẳng [28]. Hiện nay “stress” là một thuật ngữ được dùng rộng rãi, tuy nhiên mỗi tác giả sử dụng với những sắc thái khác nhau. Theo Claude Bernard nhắc đến stress là nói về môi trường nội tại của cơ thể (nội mô-milieu interiur). Trong khái niệm ông miêu tả về nguyên lý của sự cần bằng động trong đó tính hằng định- một trạng thái bền vững của môi trường trong cơ thể là yếu tố của sự sống còn.

Vì vậy những thay đổi hay những tác động ngoại cảnh làm đảo lộn sự cân bằng nội tại khiến cơ thể sinh ra những phản ứng[14]. Tiếp theo đó Walter Cannon đã đặt ra thuật ngữ “sự cân bằng nội môi”(homeostasis) để định nghĩa rõ nét hơn khái niệm cân bằng động của Bernard. Ông cũng là người đầu tiên phát hiện ra các yếu tố gây ra stress không chỉ là tác động của lý tính mà còn từ những tác động của cảm xúc. Qua các thí nghiệm của mình, ông đã chứng minh con người hay bất kỳ động vật nào khác đều có đáp ứng “chiến đấu hay tháo chạy” khi gặp nguy hiểm[26].

Nhà khoa học người Canada Hans Selye đã mở rộng thêm những quan sát của Cannon. Ông theo dõi khả năng kiểm soát quá trình tiết hormôn (như cortisol) một loại hormôn gây stress của tuyến yên thông qua vùng vỏ của tuyến thượng thận[13,26]. Ông đưa ra định nghĩa: “Stress là nhịp sống luôn có mặt ở bất kỳ thời điểm nào của sự tồn tại của chúng ta. Một tác động bất kỳ tới một cơ quan nào đó đều gây stress.

Stress không phải lúc nào cũng là kết quả của sự tổn thương, ngược 5 lại có hai loại stress khác nhau, đối lập nhau: stress bình thường khỏe mạnh là Unstress, stress độc hại hay tiêu cực là Dystress”[12]. Như vậy có thể xem stress như sự đáp ứng của con người trước một nhu cầu hoặc là sự tương tác trong mối quan hệ giữa con người với môi trường xung quanh. Trong điều kiện bình thường, stress là một đáp ứng thích nghi về mặt tâm lý, sinh học và tập tính. Stress đặt con người vào quá trình sắp xếp thích ứng với môi trường xung quanh, tạo cho cơ thể một cân bằng mới sau khi chịu đựng những tác động của môi trường.

Nói theo cách khác, stress bình thường góp phần làm cho cơ thể thích nghi. Nếu đáp ứng của cá nhân với stress không đầy đủ, không thích hợp và cơ thể không tạo ra được một cân bằng mới thì những chức năng của cơ thể ít nhiều bị rối loạn, dẫn đến những thay đổi về sinh lý, tâm lý, hành vi tạo ra những stress bệnh lý cấp tính hoặc kéo dài[11]. Các dấu hiệu của stress: Stress tiêu cực có thể phá vỡ cân bằng trong cuộc sống của con người làm nảy sinh nhiều vấn đề về sức khỏe như suy kiệt, lo âu, trầm cảm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bản thân và xã hội.[7] Nhưng nếu nhìn nhận ở khía cạnh tích cực, thì stress là phản ứng không thể thiếu ở con người, là biểu hiện đáp ứng của cá nhân đối với những yếu tố tác nhân, hay tình huống trong cuộc sống con người phải đối mặt. Stress tích cực giúp chúng ta thích nghi, hòa hợp để cùng sống chung với stress, biến nó thành động lực giúp con người phát triển[9].

Các dấu hiệu của stress bao gồm những bất thường về thể chất, cảm xúc, nhận thức và hành vi. Có thể là sự kiệt sức, tự dưng thèm ăn hoặc bỏ ăn, đau đầu rối loạn giấc ngủ cùng những biểu hiện khó chịu khác. Stress còn đi kèm với cảm giác bất an, giận dữ hoặc sợ hãi. Người bị stress thường có các biểu hiện thực thể( như tăng nhịp tim, tăng huyết áp, nhức đầu, mệt mỏi, thở ngắn hơi, ra mồ hôi.

Biểu hiện về cảm xúc( như cảm thấy khó chịu, dễ cấu gắt, buồn bã, chán nản, thờ ơ, không thân thiện, sa sút tinh thần…Có những hành vi như lạm dụng chất kích thích( rượu, bia, thuốc lá…) dễ gây hấn, bất cần đời, xáo trộn các sinh hoạt hàng ngày( ăn uống, giấc ngủ), mất tập trung, hay quên, xa lánh mọi người, có vấn đề về tình dục…Nếu 6 stress kéo dài sẽ tổn hại hệ miễn dịch và các chức năng sinh lý khác, làm suy yếu khả năng chống lại bệnh tật của cơ thể cũng như sự xâm nhập của vi khuẩn và làm tăng nguy cơ tử vong[5]. Hậu quả của stress: Tổng hợp từ nhiều nghiên cứu cho thấy, stress không những tác động xấu cho cá nhân mà còn cho xã hội. Stress được xem là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất của nhiều căn bệnh như [2,5]: - Bệnh tâm thần kinh: mất ngủ, đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, buồn phiền, cáu gắt, loạn trí nhớ,. - Bệnh tim mạch: tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, loạn nhịp tim, hồi hộp đánh trống ngực… - Các bệnh về da: như mụn sưng đỏ, phồng rộp hay bệnh Zona, da dễ bị mẫn ngứa, phát ban, hay chàm… hay các bệnh về da có tính kinh niên, mãn tính rất khó điều trị.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Về Stress Nghề Nghiệp Của Điều Dưỡng Tại Bệnh Viện Đa Khoa Tỉnh Gia Lai" cung cấp cái nhìn sâu sắc về vấn đề stress trong nghề điều dưỡng, một vấn đề ngày càng trở nên nghiêm trọng trong môi trường y tế hiện đại. Nghiên cứu này không chỉ phân tích nguyên nhân gây ra stress mà còn đề xuất các biện pháp giảm thiểu hiệu quả, từ đó giúp cải thiện sức khỏe tâm lý và hiệu suất làm việc của điều dưỡng viên. Độc giả sẽ nhận thấy rằng việc hiểu rõ về stress nghề nghiệp không chỉ có lợi cho bản thân các điều dưỡng viên mà còn góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn stress nghề nghiệp của điều dưỡng các khoa nội bệnh viện ung bướu thành phố hồ chí minh. Tài liệu này sẽ cung cấp thêm thông tin về stress nghề nghiệp trong bối cảnh khác, giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này.