Chương 1 TÓNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nghĩa vụ nghề nghiệp của điều dưỡng viên đối vói người bệnh Trong chăm sóc NB, ĐDV có bốn trách nhiệm cơ bản: nâng cao sức khỏe, phòng bệnh và tật, phục hồi sức khỏe và làm giảm bớt đau đớn cho NB. Trách nhiệm nghề nghiệp của ĐDV đối với NB phải dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau đây: - Không bao giờ được từ chối giúp đỡ NB: Ý thức trách nhiệm trước cuộc sống của NB đòi hỏi ĐDV một sự quan tâm đặc biệt và một sự sẵn sàng quên mình để giúp đỡ NB. Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng cần nhớ rằng NB đang gặp tai họa và đang cần sự giúp đỡ của người cán bộ y tế.
Sự từ chối giúp đỡ NB là vi phạm nghĩa vụ xã hội của mình, phải chịu sự lên án về mặt đạo đức và khi cần phải xử phạt về hành chính. - Giúp đỡ NB loại trừ các đau đớn về thể chất: Trước NB đang bị đau đớn vì bệnh tật, ĐDV phải luôn thể hiện một sự thông cảm và quan tâm đặc biệt, xem nỗi đau của NB như nỗi đau của chính mình để tìm mọi cách cứu giúp. Khi tiến hành các kỹ thuật chăm sóc và điều trị phải nhẹ nhàng để hạn chế tới mức thấp nhất sự đau đớn cho NB. - Không bao giờ được bỏ mặc NB: ĐDV có nhiệm vụ đấu tranh cho sự sống của NB đến cùng, luôn dành sự quan tâm tối đa cho NB với tinh thần “còn nước còn tát”, không bao giờ xa rời vị trí để NB một mình đối phó với bệnh tật.
- Hỗ trợ về tinh thần cho NB: Trong khi nằm viện, tinh thần của NB chịu ảnh hưởng của bản thân bệnh tật, sự cách ly người thân, môi trường bệnh viện và nhiều yếu tố khác. Vì vậy, tình trạng về tinh thần và thể chất của NB, thực tế khác với tình trạng của người khỏe. Do đó khi tiếp xúc với NB, ĐDV phải gây được lòng tin của NB vào hiệu quả điều trị. - Tôn trọng nhân cách NB: Bản chất của y đức học được thể hiện trong câu “phải đối xử với NB như anh muốn người ta đối xử với anh”.
Khi tiếp xúc với NB, ĐDV phải tạo ra một môi trường trong đó mọi giá trị, mọi phong tục tập quán và tự do tín ngưỡng của mồi cá nhân đều được tôn trọng. Khi tiếp xúc với NB cần gọi cả I 5 họ và tên, không nên gọi “ông kia”, “bà kia” và đặc biệt là không được cáu gắt, quát mắng NB [10]. Việc thực hiện chuẩn đạo đức nghề nghiệp của ĐDV sẽ tạo ra một môi trường chăm sóc thân thiện và chuyên nghiệp. Người dân, NB khi tham gia vào hoạt động khám, chữa bệnh tại các bệnh viện sẽ cảm nhận được sự ân cần, tận tình và thỏa lòng hon với dịch vụ y tể ngày càng hoàn thiện về chất lượng và đậm tính nhân văn.
Các thành phần cùa chăm sóc CO' bản Nguyên tắc thực hành điều dưỡng của Viginia Henderson liên quan tới các nhu cầu cơ bản của con người. Những nhu cầu dưới đây được gọi là 14 nhu câu của Henderson giúp chúng ta xác định khung nội dung về thực hành điều dưỡng. ĐDV khi tiếp cận với NB cần phải đánh giá và chẩn đoán những nhu cầu của họ, trên cơ sở đó hồ trợ họ đáp ứng được các nhu cầu cơ bản của con người: - Đáp ứng nhu cầu về hô hấp: ĐDV phải đánh giá sự thở bình thường hay bất thường, tìm nguyên nhân để giải quyết và đáp ứng nhu cầu ngay cho NB (cho thở ôxy, hút cho thông thoáng đường hô hấp. đặt tư thế thích hợp, thông báo bác sĩ.
- Đáp ứng nhu cầu về ăn uống: ĐDV cần giúp đỡ NB ăn đủ lượng calo/ngày và thực hiện chế độ ăn theo đủng bệnh, an toàn vệ sinh thực phẩm. Nếu tình trạng bệnh không thể ăn được đường miệng thì cần thực hiện các biện pháp đưa dinh dưỡng vào cơ thể để đảm bảo năng lượng cho NB. - Giúp đỡ NB trong sự bài tiết (dịch bài tiết từ trong cơ thể): ĐDV cần phải theo dõi sát dịch tiết của NB về sổ lượng, tính chất, màu sắc để đánh giá và can thiệp đáp ứng đúng nhu cầu khi bị bất thường. - Giúp đỡ NB về tư thế, vận động và tập luyện: ĐDV cần giúp NB các tư thế mà họ yêu cầu, hướng dẫn và hồ trợ NB vận động, luyện tập.
- Đáp ứng nhu cầu ngủ và nghỉ - Giúp NB mặc và thay quần áo - Giúp NB duy trì thân nhiệt: Neu thân nhiệt người bệnh bất thường, cần phải tìm rõ nguyên nhân để giải quyết hoặc báo ngay bác sĩ để cùng can thiệp. I 6 - Giúp NB vệ sinh cá nhân hằng ngày: Tùy theo tình trạng bệnh nặng hay nhẹ, nếu bệnh nặng (hôn mê, gãy xương, sau mổ,.) ĐDV cần thực hiện tắm gội, thay quần áo, thay ga trải giường cho NB hằng ngày tại giường. - Giúp NB tránh được các nguy hiểm trong khi nằm viện: Tránh để NB ngã, bị các tai biến trong điều trị, chăm sóc như: nhầm lẫn NB, nhầm thuốc, sót dụng cụ khi mổ, nhiễm khuẩn khi thực hiện kỹ thuật, lây chéo. - Giúp NB trong sự giao tiếp: ĐDV thường xuyên gần gũi, tiếp xúc NB với thái độ niềm nở thân mật.
- Giúp NB thoải mái về tinh thần, tự do tín ngưỡng. - Giúp NB lao động, làm một việc gì đó để tránh mặc cảm là người vô dụng. - Giúp NB trong những hoạt động vui chơi giải trí: Khi tình trạng bệnh cho phép, ĐDV giúp đờ họ thực hiện để đáp ứng nhu cầu. - Giúp NB có kiến thức về y học: ĐDV cần cung cấp thông tin có liên quan đến bệnh, hướng dẫn chế độ ăn, theo dõi thuốc điều trị và tai biến của thuốc, giáo dục sức khỏe giúp NB có những kiến thức về y tế, cách tự theo dõi, chăm sóc bản thân sau khi ra viện [11].
Chức năng nhiệm vụ của điều dưỡng viên về thực hành chăm sóc, có thể nói chương trình đào tạo có ảnh hưởng và tác động rất lớn tới thực hành nghề nghiệp. Lâu nay, chương trình đào tạo điều dưỡng được xây dựng dựa trên mô tả công việc và xác định chức năng, nhiệm vụ của người y tá là thực hiện y lệnh, phụ thuộc vào chỉ định của thầy thuốc nên công tác chăm sóc của diều dưỡng chưa đáp ứng được nhu cầu cơ bản của NB. Hầu hết công tác chăm sóc cơ bản cho NB được người nhà đảm nhiệm. Đe khắc phục tình trạng này, năm 1993, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ra Quyết định 526/QĐ-BYT ban hành chế độ trách nhiệm của y tá trong việc chăm sóc NB tại bệnh viện và công văn số 3722/BYT-ĐTr hướng dẫn triển khai quyết định trên.
Hai văn bản nói trên đã đề cập đến khái niệm “Chăm sóc NB toàn diện” và quy định trách nhiệm của y tá là chăm sóc NB cả về thể chất chứ không chỉ tập trung vào việc thực hiện y lệnh điều trị. Năm 1996, do nhu cầu chất lượng chăm sóc NB và củng cổ phát triển hệ thống I 7 quản lý điều dưỡng, Thông tư 11/1996/TT-BYT về hướng dẫn tổ chức thực I 8 hiện CSNBTD và củng cố hệ thống điều dưỡng trưởng được ra đời. Một năm sau (1997), công tác CSNBTD được thể chế hoá thành Quy chế CSNBTD trong Quy chế bệnh viện. Tại Quy chế này, Bộ Y tế đã đưa ra khái niệm CSNBTD là sự chăm sóc, theo dõi NB của bác sĩ và điều dưỡng trong suốt thời gian nằm viện tại bệnh viện nhàm đáp ứng nhu cầu cơ bản của nguời bệnh cả về thể chất, tinh thần và xã hội.
Quy chế cũng quy định nội dung CSNBTD dựa vào mức độ phụ thuộc của NB tới nhân viên y tể theo phân cấp chăm sóc và giao trách nhiệm cụ thể của từng cá nhân trong chăm sóc, bao gồm cả bác sĩ, điều dưỡng, hộ lý, y công, NB và người nhà NB. Năm 2003, Chỉ thị 05/2003/BYT-CT của Bộ trưởng Bộ Y tế đã yêu cầu mọi cán bộ y tế đều có trách nhiệm thực hiện CSNBTD, các bệnh viện phải tăng cường công tác chăm sóc NB toàn diện thông qua 5 hoạt động chính: (1) Kiện toàn mạng lưới điều dưỡng trưởng từ Sở Y tế đến tận khoa-phòng trong bệnh viện, (2) Thành lập Ban chỉ đạo chăm sóc NB toàn diện bao gồm các thành phần liên quan đế tăng cường chỉ đạo chăm sóc toàn diện, (3) Yêu cầu Giám đốc bệnh viện phải đầu tư cho công tác chăm sóc toàn diện qua đào tạo, bổ sung nguồn lực và phát động phong trào thi đua, (4) Giao trách nhiệm cho các trưởng khoa lâm sàng tổ chức thực hiện CSNBTD, xoá bỏ mô hình phân công chăm sóc theo công việc mà thay vào đó là mô hình phân công chăm sóc theo đội hoặc nhóm và (5) Giao trách nhiệm cho các khoa, đơn vị cận lâm sàng (xét nghiệm, dược, vật tư-trang thiết bị, kiểm soát nhiễm khuẩn, dinh dưỡng) cung cấp dịch vụ tại các khoa lâm sàng để giành thời gian cho ĐDV chăm sóc NB nhiều hơn [22]. Ngày 26/01/2011, Bộ Y tế đã ra thông tư số 07/2011/TT-BYT về việc “Hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc NB trong bệnh viện” [13]. Thông tư 07 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 3 năm 2011 mang ý nghĩa hết sức quan trọng trong công tác điều dưỡng, là cơ sở pháp lý cho sự phát triển của ngành điều dưỡng và tăng cường chất lượng chăm sóc NB ngày càng tốt hơn, phù hợp với xu the phát triển chung của toàn xã hội.
Với nguyên tắc lấy NB làm trung tâm của công tác chăm sóc, nên phải được chăm sóc toàn diện, liên tục, đảm bảo hài lòng, chất lượng và an toàn. Thông tư qui định cụ thể các nhiệm vụ chuyên môn chăm sóc trong 9 bệnh viện cũng như các điều kiện đảm bảo thực hiện các nội dung của thông tư như về tổ chức nhân lực, cơ sở vật chất, trách nhiêm cụ thể của từng cá nhân trong việc thực hiện thông tư. Theo thông tư nhiệm vụ chuyên môn chăm sóc NB của ĐDV/ỈIỘ sinh viên gồm: - Tư vẩn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe. - Chăm sóc về tinh thần.
- Chăm sóc vệ sinh cá nhân. - Chăm sóc dinh dưỡng. - Chăm sóc NB có chỉ định phẫu thuật, thủ thuật. - Dùng thuốc và theo dõi dùng thuốc cho NB.
- Chăm sóc NB giai đoạn hấp hối và NB tử vong. - Thực hiện các kỹ thuật điều dường. - Theo dõi, đánh giá NB. - Bảo đảm an toàn và phòng ngừa sai sót chuyên môn kỹ thuật trong chăm sóc NB.
- Ghi chép hồ sơ bệnh án.