đặt vấn đề “Nghiên cứu thành phần hóa học theo định hướng chống oxy hóa và độc tính tế bào của cây Hồng quân (Flacourtia rukam Zoll.)” với những mục tiêu cụ thể sau: 1. Xác định tên khoa học nguyên liệu nghiên cứu qua khảo sát hình thái thực vật, vi phẫu và định danh mẫu bằng giải trình tự ADN. Khảo sát hóa học theo định hướng tác dụng chống oxy hóa và độc tính tế bào của thân cây Hồng quân. TỔNG QUAN VỀ CHI FLACOURTIA 1.
Thực vật học chi Flacourtia Flacourtia rukam Zollinger et Moritzi là một loài thực vật có hoa trong họ Liễu (Salicaceae), loài này được mô tả khoa học đầu tiên vào năm 1846 [20], [142]. Theo hệ thống phân loại dựa trên cơ sở phát sinh loài phân tử do Angiosperm Phylogeny Group thiết lập (2010), vị trí của họ Salicaceae được phân loại như sau: Giới (Plantae) (Kingdom) Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) (Phylum) Lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) (Class) Bộ Sơ ri (Malpighiales) (Order) Họ Liễu (Salicaceae) (Family) Chi Flacourtia (Genus) Loài Flacourtia rukam (Species) Chi Flacourtia thuộc họ Flacourtaceae được phân loại theo hệ thống phân loại của A. Họ Mùng quân hay họ Bồ quân (Flacourtiaceae) là một họ thực vật có hoa trong hệ thống Cronquist và một vài hệ thống phân loại thực vật khác. Họ Flacourtiaceae rất đa dạng về chủng loại khi xem xét ở cấp độ họ.
Trong phân loại Cronquist, họ này bao gồm 89 chi và trên 800 loài, trong số này, nhiều chi kể cả chi điển hình Flacourtia hiện nay đã được chuyển sang họ Liễu (Salicaceae) trong phân loại dựa trên cơ sở phát sinh loài phân tử do Angiosperm Phylogeny Group thiết lập, được gọi là hệ thống APG II [137]. Trong hệ thống Cronquist cũ thì họ Salicaceae được xếp vào một bộ riêng của chính nó là bộ Liễu (Salicales) chỉ chứa có 3 chi là: Salix, Populus và Chosenia, nhưng APG II lại đưa họ này vào trong bộ Sơ ri (Malpighiales) gồm các chi Azara, Bennettiodendron, Dovyalis, Flacourtia, Idesia, Ludia, Xylosma thuộc họ Salicaeae [20],[137]. 5 Salicaceae gồm 55 chi và khoảng 1.210 loài, một số trong những loài này đã được sử dụng làm thuốc trong y học cổ truyền, các loài có quả ăn được như Flacourtia indica, Flacourtia inermis, Flacourtia jangomas, Flacourtia rukam. Các loài trong họ Salicaceae chủ yếu là cây thân gỗ thường rụng lá và một số cây bụi, phân bố ở vùng nhiệt đới đến ôn đới và vùng Bắc cực [77], [137].
Đặc điểm các loài thuộc chi Flacourtia tại Việt Nam Chi Flacourtia có một số loài sau: F. zipelli [142] Chi Flacourtia gồm khoảng 15 loài của các vùng nóng châu Phi và châu Á. Cây nhỡ hay cây gỗ thường có gai nhất là lúc còn non. Lá mọc so le, đơn, thường có răng, gân lông chim, cuống ngắn.
Lá kèm bên nhỏ, dễ rụng. Cụm hoa chùm hay xim co, hoặc chùy nách tận cùng. Hoa đơn tính, ít khi đa tính, cỡ nhỏ. Có 4-6 lá đài, hơi dính ở gốc, lợp lên nhau.
Không có cánh hoa, đĩa mật dạng vòng hoặc nhiều tuyến đối diện với các lá đài, bao quanh nhị và bầu. Hoa đực có nhiều nhị, nhụy lép không có hoặc tiêu giảm. Hoa cái bầu trên 2 - 6 ô. Quả hạch dạng quả mọng có một đến nhiều hạt, hạt hơi dẹp, có vỏ cứng, phôi nhũ nạc bao bởi các hạt mỏng màu đỏ [3], [6].
Phân bố rộng ở các vùng nhiệt đới của châu Phi và châu Á: Campuchia, Lào, Việt Nam, Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ, Myanma và Malaysia. Ở Việt Nam, cây Hồng quân mọc từ Lai Châu, Bắc Kạn vào tới Ninh Thuận, Khánh Hòa, Lâm Đồng. Thường gặp ở những môi trường và độ cao thay đổi từ 0-1200 m, trong rừng thưa quanh các làng, gần các đường đi và các sông [3], [4]. Ở Việt Nam có các loài: Flacourtia indica, Flacourtia inermis, Flacourtia jangomas, Flacourtia rukam [6].
Thân, lá, hoa, quả của Flacourtia indica “Nguồn: Võ Văn Chi, 2003 [3], Chatterjee Mousumi, 2015 [29] Hardik, 2010 [51], Lim T. Lá, hoa, quả của Flacourtia jangomas “Nguồn: Võ Văn Chi, 2003 [3], Lim T. Thân, lá, hoa, quả của Flacourtia rukam “Nguồn: Võ Văn Chi, 2003 [3], Lim T. Thân, lá, hoa, quả của Flacourtia montana “Nguồn: Võ Văn Chi, 2003 [3]”.
Điểm khác biệt giữa các loài mang tên Hồng quân ở Việt Nam Flacourtia Flacourtia Flacourtia Flacourtia indica jangomas rukam montana Thân Cây nhỡ hay cây Cây bụi hay cây Cây nhỡ hay cây Cây gỗ nhỏ, gỗ đỏ, gỗ, có gai đơn hay nhỡ có gai đơn hay gỗ có gai chắc nhánh non có màu phân nhánh. Vỏ phân nhánh. khỏe, đơn hay sét. thân màu nâu đỏ.
phân nhánh có thể dài tới 10 cm. Vỏ thân màu trắng xám, dễ bong tróc. Lá Lá nhẵn hay có Lá có hình xoan, Lá thuôn bầu dục, Lá có phiến dày, lông nhung ở cả nhọn dài ở đầu mép hơi lượn thành to, dài đến 20 cm, hai mặt, ngọn lá ngọn lá, mép lượn hình răng, gân con mép có răng to. xoan hình bầu dục, thành răng.
thành mạng dày. mép hơi lượn sóng. Hoa Hoa nhỏ màu vàng Hoa trắng hay Hoa nhỏ màu vàng Hoa không có cánh xanh, vàng hồng- trắng lục, cuống lục, đầu nhụy ít hoa. 30 - 50 nhị, đỏ, bầu phình to, ngắn, rất mảnh, 4 - xòe, hoa vô cánh, bầu có 7 vòi nhụy.
đầu nhụy xòe ra, 5 lá đài dính nhau ở không mùi, cuống hoa vô cánh. Hoa cái có đĩa ngắn, 3 - 4 lá đài có cuống ngắn, mật nguyên hay hơi dính ở gốc. Bầu lông mịn. Hoa đực chia thùy, bầu hình nhụy hình cầu có 4 có đĩa mật gồm cầu với 4 - 6 ô, 4 - - 7 giá noãn mang nhiều tuyến lượn 5 vòi nhụy, đầu 2 noãn, 4 - 7 vòi tai bèo, chỉ nhị có nhụy ngắn.
nhụy, rời xếp thành chỉ mảnh. Hoa có vòng ở đỉnh bầu. đĩa mật hầu như nguyên, bầu hình cầu với 4 - 6 giá noãn 2 noãn, 4 - 6 vòi nhụy. Quả Quả mọng.
Hạt Quả nạc, có cạnh. Hạt Quả hạch. Hạt dẹp màu vàng nâu Hạt vàng nâu, hình thận, dẹp, màu vàng phồng hai mặt, vân nhám màu vàng có vân nhám nổi rõ hai mờ. mặt, có rìa và đuôi nhọn.
Nhận xét: Có sự khác biệt rõ rệt về hình thái lá, hoa, quả và hạt giữa các loài Flacourtia nên có thể dựa vào đặc điểm hình thái để nhận dạng các loài Hồng quân. Thành phần hóa học chi Flacourtia Thành phần hóa học chính của các loài thuộc chi Flacourtia chủ yếu chứa các hợp chất chuyển hóa thứ cấp như terpenoid, steroid và các hợp chất phenolic như 8 flavonoid, coumarin, lignan, phenolic glycosid. Báo cáo cho thấy các chất chuyển hóa tập trung chủ yếu ở các loài F. Dẫn xuất phenol Các dẫn xuất phenol thực vật bao gồm các flavonoid, stilben, các lignan, các acid phenolic, tannin.
Nhóm Flavonoid Flavonoid là thành viên của nhóm phenol thực vật, thể hiện hoạt tính chống oxy hóa nhờ vào khả năng loại bỏ gốc tự do [24]. Flavon: mới chỉ tìm thấy có 2 báo cáo về sự hiện diện nhóm flavon trong 2 cây F. indica là apigenin được phân lập từ cao cloroform vỏ thân F. cataphracta và chrysoeriol-7-O-β-D-glucopyranosid được phân lập từ dịch chiết ethanol lá và cành F.
Flavon được phân lập từ các loài thuộc chi Flacourtia STT Tên hợp chất R1 R2 Tên loài TLTK 1 Apigenin H H F. cataphracta [117] 2 Chrysoeriol-7-O-β-D-glucopyranosid OMe Glu F. indica [113] Flavonol Năm 2014 nhóm nghiên cứu của Alakolanga đã phân tích và xác định được các flavonol là kaempferol, quercetin và các dẫn xuất từ dịch chiết methanol quả của F. Flavonol được phân lập từ các loài thuộc chi Flacourtia STT Tên hợp chất R1 R2 Tên loài TLTK 1 Kaempferol H H F.
cataphracta [117] 2 Kaempferol 3-O-galactosid H Gal F. inermis [14] 3 Kaempferol 3-O-glucosid H Glu F. inermis, 4 Kaempferol 3-O-rutinosid H Rut [14], [28] F. inermis, 5 Rutin OH Rut [14], [28] F.
ramontchi 6 Quercetin OH H F. inermis [14] 7 Quercetin 3-O-galactosid OH Gal F. inermis [14] 8 Quercetin 3-O-glucosid OH Glu F. inermis [14] Gal = galactopyranose; Glu = glucopyranose; Rut = rutinose Flavanol Sashidhara K.
và cộng sự (2012) đã phân lập từ cao ethanol lá và cành Flacourtia indica thu được một phenolic glycosid mới là 2-(2-benzoyl-β-D- glucopyranosyloxy)-7-(1α, 2α, 6α-trihydroxy-3-oxocyclohex-4-enoyl)-5- hydroxybbenzyl alcol cùng với 5 hợp chất đã công bố là poliothrysosid, catechin- [5,6-e]-4-β-(3,4-dihydroxyphenyl) dihydro-2-(3H)-pyranon, 2-(6-benzoyl-β-D- glucopyranosyloxy)-7-(1α, 2α, 6α-trihydroxy-3-oxocyclohex-4-enoyl)-5- hydroxybbenzyl alcol, chrysoeriol 7-O-β-D-glucopyranosid, mururin A [113]. (+)-Catechin [80] Catechine-[5,6-e]-4β-(3,4- Mururin A [113] dihydroxyphenyl) dihydro- 2(3H)-pyranon [113] Chalcon Hợp chất 4,4’-dihydroxychalcon được phân lập từ lá và vỏ thân F. 10 4,4’-Dihydroxychalcon [117] Nhóm Coumarin Từ dịch chiết ether lá F. jangomas phân lập được chất ostruthin [11] và chất esculin từ quả F.
Ostruthin [11] Esculin [14] Nhóm Phenolic glycosid Nhiều hợp chất glucose được tìm thấy trong chi Flacourtia chủ yếu là este phenolic và phenylpropan, hoặc heterosid phenolic glucopyranose. Năm 1987, (-) flacourtin được phân lập từ phân đoạn EtOAc vỏ thân F. Đây là một ester glycosid mới có cấu trúc 3-hydroxy-4-hydroxymethylphenyl-6-O- benzoyl-β-D-glucopyranosid [22]. Năm 2007, nhóm nghiên cứu đã phân lập cao n-butanol dịch chiết quả thu được một chất mới là flacoursid (4-oxo-2-cyclopentenylmethy 6-O-(E)-p-coumaroyl β-D- glucopyranosid) cùng với hai chất đã được công bố là methyl 6-O-(E)-p-coumaroyl glucopyranosid và 6-O-(E)-p-coumaroyl glucopyranosid [15].
Năm 2010, Kaul và cộng sự đã phân lập từ dịch chiết nước của thân, cành, lá F. indica được 3 hợp chất là pyrocatechol, homalosid D và poliothrysosid [63]. Năm 2012, từ cao chiết EtOAc của vỏ thân Flacourtia ramontchi nhóm nghiên cứu của Melanie Bourjot và cộng sự đã phân lập được 6 hợp chất phenolic glycosid mới, đặt tên là flacourtosid A-F và các hợp chất phenolic khác như itosid H, xylosmin, scolochinenosid D, poliothrysosid và betulinic acid 3-β-caffeat [26]. Sashidhara và cộng sự (2013) khảo sát và phân lập từ cao ethanol lá, cành F.
indica thu được một phenolic glycosid mới là 2-(2-benzoyl-β-D- glucopyranosyloxy)-7-(1α, 2α, 6α-trihydroxy-3-oxocyclohex-4-enoyl)-5- hydroxybbenzyl alcol cùng với 5 chất đã được công bố là poliothrysosid, catechin- [5,6-e]-4-β-(3,4-dihydroxyphenyl) dihydro-2-(3H)-pyranon, 2-(6-benzoyl-β-D- glucopyranosyloxy)-7-(1α, 2α, 6α-trihydroxy-3-oxocyclohex-4-enoyl)-5- hydroxybbenzyl alcol, chrysoeriol 7-O-β-D-glucopyranosid, mururin A [113]. và cộng sự (2009) đã phân lập được một hợp chất phenolic glucosid mới từ vỏ thân F. Năm 2011, từ dịch nước ép quả phân lập được một phenolic glucosid ít gặp là (rel)-6-benzoyloxy-1,2-dihydroxy-5-oxocyclohex-3-encarboxylic acid 2-(6-O- benzoyl-D-glucopyranosyloxy)-5-hydroxybenzyl ester [58]. Năm 2019, Muharni và cộng sự phân lập từ cao ethyl acetat vỏ thân F.
rukam được 3 hợp chất: Friedelin, poliothrysosid và β-sitosteryl-3β- glucopyranosid [88]. Các hợp chất phenolic glycosid STT Tên hợp chất R1 R2 R3 R4 Tên loài TLTK F. 1 6-O-p-coumaroyl-β-glucose H H H A2 [14], [15] inermis F. 2 6-O-caffeoyl-β-glucose H H H A3 [14], [15] inermis Methyl 6-O-(E)-p-coumaroyl 3 Me H H A2 F.
indica [15] glucopyranosid 4 Flacourtosid B A4 H H A1 F. ramonchi [14] trimethoxybenzen 13 Flacoursid A12 H H A2 F. indica [80] hydroxy benzyl alcohol (4’- 2 A1 H H A1 A13 F. 7 Flacourtosid D H H H A1 H [14] [26], ramonchi [63] STT Tên hợp chất R1 R2 R3 R4 R5 R6 Tên loài TLTK 1 Xylosmin A1 H H A1 H H F.
ramonchi [26] (rel)-6-benzoyloxy-1,2- dihydroxy-5- oxocyclohex-3- 4 encarboxylic acid 2-(6-O- H H H A1 A1 H F.