MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cây Ngũ Gia Bì được xem là cây cảnh đẹp thuộc loại cao cấp. là loại thuốc quý thuộc dòng nhân sâm. Cây vừa có ý nghĩa phong thủy vừa đem lại nhiều tác dụng đối với sức khỏe con người.
Cây Ngũ Gia Bì có tên khoa học là Scheffera octophylla (Lour). còn có tên gọi khác là cây chân chim, cây lằng, sâm nam. Lợi ích không ngờ của cây Ngũ Gia Bì : Nghiên cứu cho thấy ngũ gia bì có những tác dụng tốt trong điều trị các bệnh về nội khoa. Trong Đông y, nó là một vị thuốc quý có tác dụng làm mạnh gân cốt, trừ phong, đau nhức xương khớp, đau bụng, trẻ em vận động cơ bắp yếu, hạn chế đi lại, chống suy nhược thần kinh,tăng trí nhớ, kháng viêm, giảm đau, hạ sốt… Theo y học cổ truyền, Ngũ Gia Bì có vị đắng, chát, mùi thơm nhẹ, tính mát, có tác dụng làm ra mồ hôi, giải biểu.
Nhiều vùng người ta dùng lá tươi hoặc khô nấu canh ăn thay rau giúp tiêu hóa tốt hơn; rượu Ngũ Gia Bì tăng lực, trừ phong thấp, Hiện nay, Ngũ Gia Bì đã được sản xuất thành viên thuốc bổ (phối hợp với cao kim anh và vài loại khoáng vi lượng) chữa hạ đường huyết, suy nhược, kém ăn, thiếu máu… Đặc biệt hơn nữa, Ngũ Gia Bì xanh là loại cây “khắc tinh của muỗi”. Tại các vùng quê, người ta thường hay trồng cây Ngũ Gia Bì xung quanh nhà để xua đuổi muỗi, bảo vệ sức khỏe. Ở nhiều gia đình ở vùng quê, hoặc có diện tích rộng thường trồng cây Ngũ Gia Bì xung quanh tường nhà, hàng rào vừa làm cây cảnh, vừa để xua đuổi muỗi không vào nhà. 2 Cây Ngũ Gia Bì còn có khả năng hút bụi, các vi khuẩn, chất gây ô nhiễm ở trong nhà, cơ quan.
Cây ngũ gia bì thích hợp với khí hậu nóng ẩm, chịu được hạn và có khả năng thích ứng với môi trường sống cao, Để có cây giống trồng, có thể tạo cây con bằng hạt hoặc giâm hom. Nhân giống bằng hom là phương thức nhân giống được dùng rộng rãi cho một số loài cây như cây rừng, cây cảnh và cây ăn quả. Là phương pháp có hệ số nhân giống cao, phù hợp với quy mô lớn và sản phẩm cuối cùng cho một số lượng cây giống đồng đều về mặt chất lượng di truyền. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả của việc giâm hom, nhưng phụ thuộc bởi ba yếu tố chính là: khả năng ra rễ của hom giâm (cá thể, giai đoạn và vị trí của hom), các chất kích thích ra rễ và môi trường giâm hom (giá thể, độ ẩm, ánh sáng.
Xuất phát từ thực tế trên, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố ngoại cảnh đến khả năng hình thành cây hom Ngũ Gia Bì (Schefflera Octophylla (Lour,) Harms) tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên” 1.2 Mục tiêu nghiên cứu Lựa chọn được loại giá thể, chế độ ánh sáng phù hợp cho nhân giống cây Ngũ gia bì bằng phương pháp giâm hom. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Kết quả nghiên cứu đề tài là tài liệu trong học tập. Giúp cho sinh viên củng cố và hệ thống lại toàn bộ những kiến thức đã học, áp dụng vào thực tiễn, tạo điều kiện cho sinh viên nâng cao được kỹ năng nghề nghiệp.
Giúp cho sinh viên biết phương pháp bố trí thí nghiệm, phương pháp đo đếm, thu thập, xử lý số liệu, viết báo cáo khoa học. 3 Thông qua quá trình thực hiện đề tài, sinh viên có điều kiện học hỏi những kiến thức thực tiễn nâng cao kiến thức và kỹ năng cho bản thân để thực hiện tốt công tác sau này. Kết quả nghiên cứu đề tài là cơ sở trong những đề tài nghiên cứu trong các lĩnh vực có liên quan. Ý nghĩa trong thực tiễn Có được kỹ năng nhân giống cây bằng phương pháp giâm hom.
Áp dụng kết quả nghiên cứu trong nhân giống cây Ngũ Gia Bì bằng phương pháp giâm hom. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của giâm hom Theo nghĩa rộng thì nhân giống sinh dưỡng bao gồm nhân giống bằng hom, chiết cành, ghép cây, nuôi cấy mô phân sinh,.Dương Mộng Hùng, 2001[1]. Nhân giống bằng hom là phương pháp có hệ số nhân giống lớn tương đối rẻ tiền nên được dùng phổ biến trong nhân giống cây rừng, cây cảnh và cây ăn quả.
Thực vật có hai hình thức sinh sản chủ yếu là sinh sản vô tính và sinh sản hữu hình. Sinh sản hữu hình là hình thức sinh sản trong đó có sự kết hợp giữa hai giao tử đực và cái đơn bội để trở thành hợp tử lưỡng bội. Hợp tử phát triển thành cá thể mới. Sinh sản vô tính là hình thức sinh sản không qua thụ tinh, nó bao gồm sự kết hợp vô tính và các dạng khác của sinh sản dinh dưỡng.
Cơ sở tế bào học Dựa vào đơn vị cấu trúc cơ bản của cây rừng, trong đó tế bào là cơ sở quan trọng mang đầy đủ thông tin di truyền cho các quá trình phát triển của thực vật. Khả năng hình thành rễ và thân phụ thuộc vào đặc điểm di truyền của loài cây, bộ phận của cây lấy làm giống cũng như loài tế bào đã phân hóa của cây. Cơ sở di truyền học Dựa vào các đặc tính di truyền của cây mẹ truyền cho đời con nhờ quá trình nguyên nhiễm hay nguyên phân, mà ta tiến hành dùng các cành, thân để giâm hom. Cơ sở phát sinh phát triển cá thể Quá trình sinh trưởng và phát triển của cá thể đều do bộ gen và môi 5 trường xung quanh quyết định, môi trường ở đây là môi trường bên ngoài và môi trường bên trong ảnh hưởng đến tế bào chất.
Quá trình phát triển của cá thể được thể hiện qua các giai đoạn: Non trẻ, chuyển tiếp, thành thục, khả năng ra chồi rễ của các bộ phận là rất khác nhau. Sự hình thành rễ của hom giâm Rễ bất định là rễ sinh ra ở bất kỳ bộ phận nào của cây ngoài hệ rễ của nó, rễ bất định có thể sinh ra tự nhiên (Ví dụ: Đa, Si khi ra rễ là mọc từ cành và đâm dài xuống đất, còn cây Cau, Dừa thì rễ lại mọc ra từ giữa các thân) Dương Mộng Hùng, 2001 [1]. Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom Ánh sáng Ánh sáng đóng vai trò sống còn trong quá trình ra rễ của hom giâm, không có ánh sáng và không có lá thì hom không có hoạt động quang hợp, quá trình trao đổi chất khó xảy ra, do đó không có hoạt động ra rễ, hầu hết các loài cây không thể ra rễ trong điều kiện che tối hoàn toàn, bất kể đó là nhóm cây ưa sáng hay chịu bóng. Trong điều kiện nhiệt đới, ánh sáng tự nhiên mạnh thường kèm theo nhiệt độ cao nên giảm đáng kể tỉ lệ ra rễ.
Chất lượng ánh sáng cũng ảnh hưởng đến tỉ lệ ra rễ của hom giâm, theo Komisarov, 1964 thì ánh sáng tự nhiên cần thiết cho ra rễ, còn ánh sáng đỏ và ánh sáng xanh làm giảm tỉ lệ ra rễ của hom giâm ở một số loài cây ưa sáng. Tewary (1993) cho rằng thời gian chiếu sáng cũng có ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm. Ánh sáng tán xạ cần thiết cho hom và độ sáng thích hợp khoảng 40-50% ánh sáng toàn phần, ánh sáng đầy đủ thời gian ra rễ ngắn hơn và tỷ lệ ra rễ cũng cao hơn [15]. Nhiệt độ không khí và nhiệt độ giá thể Cùng với ánh sáng nhiệt độ là một trong những nhân tố quyết định tốc độ ra rễ của hom giâm, ở nhiệt độ quá thấp, hom nằm ở trạng thái tiềm ẩn và 6 không ra rễ, còn ở nhiệt độ quá cao lại tăng cường hô hấp và bị nóng, từ đó cũng làm giảm tỷ lệ ra rễ của hom.
Độ ẩm không khí và độ ẩm giá thể Độ ẩm không khí và độ ẩm giá thể là nhân tố hết sức quan trọng trong quá trình giâm hom. Các hoạt động quang hợp, hô hấp, phân chia tế bào và chuyển hóa vật chất trong cây đều cần nước, thiếu nước thì hom bị héo, nhiều nước quá thì hoạt động của men thủy giải tăng lên, quá trình quang hợp bị ngừng trệ, khi giâm hom mỗi loài cây cần một độ ẩm thích hợp, làm mất độ ẩm của hom từ 15-20% thì hom hoàn toàn mất khả năng ra rễ. Giá thể cắm hom Giá thể cắm hom là nơi cắm hom sau khi đã sử lý chất kích thích ra rễ. Giá thể được dùng làm thí nghiệm này là đất vàng trong vườn ươm.
Một giá thể cắm hom tốt là có độ thoát khí tốt và duy trì được độ ẩm trong thời gian dài mà không ứ nước, tạo điều kiện cho rễ phát triển tốt, đồng thời làm sạch không bị nhiễm nấm, không có nguồn sâu bệnh, độ pH khoảng 6. Sử dụng chất điều hòa sinh trưởng Trong các chất điều hòa sinh trưởng thì auxin được coi là những chất quan trọng nhất trong quá trình ra rễ của cây hom. Song nhiều chất khác tác động cùng auxin và thay đổi hoạt tính của auxin cũng tồn tại một cách tự nhiên trong các mô của hom giâm và tác động đến quá trình ra rễ của chúng. Những chất quan trọng nhất là Rhirocalin, đồng nhân tố ra rễ và các chất kích thích và kìm hãm ra rễ.
Xử lý bằng chất điều hòa sinh trưởng dạng nước: Khi lựa chọn nồng độ chất kích thích ra rễ cần chú ý đến nhiệt độ không khí và mức độ hóa gỗ của hom. Trong quá trình giâm hom khi nhiệt độ cao cần phải xử lý với nồng độ thấp hơn và ngược lại. Hom quá non (chưa hóa gỗ) phải xử lý với nồng độ thấp, ngược lại hom hơi già (gần hóa gỗ hoàn toàn) phải xử lý với nồng độ 7 cao hơn. Thời gian xử lý Cùng một loại chất, cùng một nồng độ, nhưng thời gian xử lý khác nhau cũng cho kết quả khác nhau.
Cần chú ý là giữa thời gian xử lý, nồng độ và nhiệt độ không khí có mối quan hệ nhất định nên cần phải điều chỉnh sao cho thích hợp thì kết quả ra rễ của hom mới được cải thiện, nếu nồng độ chất kích thích cao, cần xử lý với thời gian ngắn và ngược lại. Nếu nhiệt độ không khí cao cần xử lý với nồng độ thấp và thời gian ngắn hơn. Phương pháp xử lý hom Thông thường hom được xử lý bằng cách ngâm hom trong dung dịch chất kích thích ra rễ.