Đặt vấn đề Đinh lăng lá nhỏ (Polyscias fruticosa (L.) Harm) là cây dược liệu quý, toàn cây đinh lăng bao gồm rễ, thân, lá đều có thể sử dụng làm thuốc. Theo y học cổ truyền, rễ cây có vị ngọt, tính bình, hơi đắng, tính mát, có tác dụng bồi bổ, thông huyết mạch, lợi tiểu, tăng cường sức khỏe cho người suy nhược cơ thể. Thân và cành giúp giảm đau nhức cho người bị các bệnh về xương khớp. Lá có vị đắng, tính mát, có tác dụng giải độc thức ăn, chống dị ứng, chữa ho ra máu, tiêu chảy, kiết lỵ.
(Đỗ Huy Bích & cs. Đinh lăng có đặc tính dễ trồng, dễ sống, ít bị sâu bệnh hại, dễ sử dụng lại mang nhiều tác dụng tốt. Vì thế ngày nay cây đinh lăng lá nhỏ ngày càng được trồng phổ biến và rộng rãi trên cả nước. Sản xuất đinh lăng nói riêng và sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam nói chung còn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, đặc biệt là tưới tiêu chủ yếu dựa vào nước trời.
Việt Nam là một trong những quốc gia được Ủy ban Quốc tế về Biến đổi Khí hậu (IPCC) xác định có chịu ảnh hưởng nhiều nhất của biến đổi khí hậu (Ha Thi Nguyen & cs. Hiện tượng thời tiết cực đoan như mưa lớn, lũ lụt, bão, hạn hán trong những năm gần đây ngày càng phức tạp. Trong khi đó, lượng nước tưới ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, sinh lý và sự phát triển của cây, nước vừa tham gia cấu trúc cơ thể thực vật, vừa tham gia các biến đổi hóa sinh và các hoạt động sinh lý của cây, cũng như quyết định khả năng chống chịu và năng suất cây trồng (Hoàng Minh Tấn & cs. Đứng trước vấn đề trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của thiếu và dư thừa nước tưới đến sinh trưởng và sinh lý của cây đinh lăng (Polyscias fruticosa (L.
Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích Nghiên cứu ảnh hưởng của thiếu và dư thừa nước tưới đến sinh trưởng và sinh lý của cây đinh lăng từ đó góp phần làm cơ sở khoa học cho việc áp dụng những kỹ thuật nhằm nâng cao khả năng chịu hạn, chịu úng cho cây đinh lăng. Yêu cầu - Đánh giá ảnh hưởng của thiếu hụt nước tưới đến các chỉ tiêu sinh trưởng và sinh lý của cây đinh lăng. - Đánh giá ảnh hưởng của dư thừa nước tưới đến các chỉ tiêu sinh trưởng và sinh lý của cây đinh lăng.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan về cây đinh lăng 2. Vài nét sơ lược về cây đinh lăng 2. Phân loại Theo mô tả của Nguyễn Thượng Dong & cs.
(2007), cây đinh lăng lá nhỏ tên khoa học là Polyscias fruticosa (L. Tên tiếng Anh là Ginseng tree, tên tiếng Pháp là Polyscias. Đinh lăng thuộc bộ Hoa tán Apiales, họ Ngũ gia bì Araliaceae, chi Đinh lăng (Polyscias). Trong các loài thuộc chi Polyscias, đinh lăng lá nhỏ Polyscias fruticosa được trồng và sử dụng phổ biến nhất.
Nguồn gốc và phân bố Đinh lăng có nguồn gốc ở vùng đảo Polynésie ở Thái Bình Dương. Cây phân bố ở Campuchia, Lào, Malaysia, Indonesia, miền nam Trung Quốc. Chi thực vật Polyscias bao gồm khoảng 116 loài được sử dụng rộng rãi để làm cảnh và một số loài có giá trị làm thuốc tiềm năng. Các loài Polyscias được đại diện là cây bụi lâu năm và thường được trồng ở đông nam châu Á và khu vực Thái Bình Dương (Naglaa & cs., 2020) Ở Việt Nam, đinh lăng cũng có từ lâu trong nhân dân và được trồng khá phổ biến ở vườn gia đình, đình chùa, trạm xá, bệnh viện, vườn thuốc để làm cảnh, làm thuốc và rau gia vị (Đỗ Huy Bích & cs.
Cây phân bố đồng đều các vùng trên cả nước: Đồng bằng, trung du Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ. Ở miền Bắc, trồng nhiều nhất ở Nam Định, Thái Bình, Vĩnh Phúc, Bắc Giang. Ngoài ra, đinh lăng còn được trồng ở Tây Nguyên và miền Nam. Đặc điểm thực vật học Cây đinh lăng lá nhỏ thuộc loại cây bụi, chiều cao cây khoảng 0,5 – 2m, xanh tốt quanh năm.
Thân nhám, không gai, ít phân nhánh, mang nhiều vết sẹo màu xám to do lá rụng để lại, các cành non có nhiều lỗ bì lồi. Lá kép 2 – 3 lần xẻ lông chim dài 20 – 40 cm, có mùi thơm, mọc so le. 3 Cuống lá dài, tròn, có đốm xanh nhạt, có bẹ lá do đáy cuống phình to tạo thành. Lá chét chia thùy không đều, dài 3 – 5 cm, rộng 0,5 – 1,5 cm, có cuống gầy dài 3 – 10 mm, phiến lá chét có răng cưa không đều, chóp nhọn, lá chét và các đoạn đều có cuống, gân lông chim.
Lá kèm dính hai bên bẹ lá, dạng phiến mỏng. Cụm hoa hình chuỳ ngắn 7 – 18 mm gồm nhiều tán, màu trắng xám. Hoa nhỏ, đều, lưỡng tính. Tràng 5, nhị 5 với chỉ nhị gầy, bầu hạ 2 ngăn có dìa trắng nhạt.
Lá bắc hình tam giác nhọn. Cuống hoa hình trụ, màu xanh, dài 0,3 – 0,4 cm. Đài hoa thu hẹp còn 5 răng, đều, rời, dạng vảy màu xanh. Quả hình trứng dẹt, dày 1 mm, dài 3 – 4 mm, có vòi tồn tại, vỏ quả màu xanh đậm có những nốt tròn màu xanh nhạt hơn, dài 4 – 6 mm, rộng 3 – 4 mm.
Yêu cầu sinh thái của cây đinh lăng Đinh lăng là cây sống lâu năm, có thể sống đến vài chục năm, chịu hạn khá tốt, ưa sáng, ưa ẩm nhưng sẽ phát triển kém hoặc chết khi gặp úng. Đinh lăng ưa đất cao ráo, hơi ẩm (Võ Văn Chi, 2012). Cây phát triển mạnh nhất khi nhiệt độ dưới 28oC. Cây tồn tại và phát triển tốt ở những vùng có đặc trưng khí hậu nhiệt đới mưa mùa.
Một năm có 2 mùa rõ rệt mùa khô và mùa mưa, thường được trồng chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc. Yêu cầu nhiệt độ của cây đinh lăng từ 22,2 – 23,1oC, cây đinh lăng chịu được nhiệt độ tối thấp -2,8oC và tối cao 41,4oC. Độ ẩm không khí trung bình từ 82 – 89%. Lượng mưa bình quân năm từ 1420,7 – 2574,2 mm (Ngô Ứng Long, 1986).
Đinh lăng ưa ẩm, có thể chịu hơi bóng, trồng được trên nhiều loại đất, có thể trồng trong chậu làm bonsai. Cây có khả năng tái sinh vô cùng khỏe từ đoạn thân hoặc cành (Đỗ Huy Bích & cs. Tuyệt đối không trồng ở những nơi đất úng, bí chặt và không thoát được nước, trường hợp trồng trong vườn và ruộng nơi đất thấp cần lên luống cao trước khi trồng. Đinh lăng phát triển tốt trên các loại đất ẩm mát và thoát nước tốt, thành phần cơ giới trung bình (cát pha đến thịt), tầng đất dày trên 1 m, nhiều mùn, tơi xốp, cây thích hợp với đất feralit đỏ vàng và đất feralit giàu mùn trên 4 núi.
Cây có khả năng tái sinh dinh dưỡng cao nên người dân trồng chủ yếu bằng cách giâm cành bánh tẻ hoặc cành già vào tháng 2 – 4 hoặc tháng 8 – 10. Trong năm, mùa thu và mùa xuân thuận lợi cho cây sinh trưởng phát triển nhanh nhất (Nguyễn Hữu Tiền, 2015). Thành phần hoá học Rễ và lá đinh lăng chứa saponin, alkaloid, 20 acid amin, tanin, acid hữu cơ, tinh dầu, nhiều nguyên tố vi lượng, các vitamin B1, B2, C và 21,1% đường (Ngô Ứng Long, 1986). Trong thành phần rễ, thân và lá có các glycosis, alkaloid, tanin, vitamin B1 và khoảng 20 loại acid amin như arginin, alanin, asparagin, acid glutamic, leucin, lysin, phenylalanin, prolin, threonin, tyrosin, cystein, tryptophan, metionin.
(Nguyễn Thới Nhâm & cs. Năm 1991, Võ Xuân Minh cùng cộng sự đã khảo sát hàm lượng saponin toàn phần trong các bộ phận của cây đinh lăng với kết quả: Rễ (0,49%), vỏ rễ (1,00%), lõi rễ (0,11%) và lá (0,38%). Năm 1992, trong nghiên cứu tiếp theo, Võ Xuân Minh cho biết trong cây đinh lăng có các alcaloid, glucosid, saponin, các vitamin tan trong nước như B1, B2, B6, C. Nghiên cứu cũng cho thấy rễ cây đinh lăng có chứa tới 20 acid amin (Võ Xuân Minh, 1992).
Năm 1992, Lutomski và cộng sự đã cô lập từ rễ 5 hợp chất thuộc loại hợp chất polyacetylen: (8E)-heptadeca-1,8-dien-4,6-diyn-3,10-diol; (8E)-heptadeca- 1,8-dien-4,6-diyn-3-ol-10-on; (8Z)-heptadeca-1,8-dien-4,6-diyn-3-ol-10-on; falcarinol và panaxydol (Lutomski & cs. Bên cạnh đó, năm 2007, tác giả Nguyễn Trần Châu và cộng sự đã xác định được hàm lượng acid oleanoic saponin triterpene (1,65%) có trong lá của đinh lăng. Năm 2012, Viện hóa sinh biển - Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam đã phân lập được 3 hợp chất flavonoid từ lá đinh lăng là quercitrin, afzelin và kaempferol-3-Orutinosid (Nguyễn Thị Luyến & cs, 2012). Trần Thị Hồng Hạnh cùng cộng sự đã phân lập được 3 saponin triterpen từ 5 lá đinh lăng.
Trong đó 3-O-{𝛽-D-glucopyranosyl-(1→2)-[𝛽-D-glucopyranosyl- (1→4)]-𝛽-D-glucuronopyranosyl} oleanolic acid 28-O-𝛽-D-glucopyranosyl- (1→2)-𝛽-D-galactopyranosyl ester là saponin được phân lập lần đầu tiên, và được đặt tên là polyscioside I (Tran Thi Hong Hanh & cs. (2019) phân lập từ lá cây đinh lăng được 3 năm tuổi trồng tại An Giang và nhận danh cấu trúc 3 hợp chất là: 3-o-β-D- glucuronopyranosyloleanolic 28-o-β-D-glu-copyranosyl ester; ladyginosid A và đặc biệt là acid 3-o-[β-D-glucopyranosyl-(14)]-β-D-(6-o-methyl) glucuronopyranosyloleanolic lần đầu tiên được tìm thấy. Caroten trong lá đinh lăng gồm có 18,376% β-caroten và 50,762% lutein, tỷ lệ lutein này cao hơn so với nhiều loại rau củ khác như lá hành (33,326%), rau đay (28,988%), lá diếp cá (25,943%). Lutein chủ yếu có màu da cam, thường gặp trong rau quả.
Lutein có khả năng phản ứng với các gốc tự do, bảo vệ tế bảo khỏi bị oxi hóa, chống ung thư da, lão hóa da, lão hóa thủy tinh thể, làm giảm hiện tượng xơ vữa động mạch (Hà Thị Bích Ngọc, 2007). Tác dụng dược lý và công dụng Đinh lăng có tác dụng tăng lực. Tất cả các liều thử nghiệm 1 – 2 viên/kg đối với viên nang đinh lăng (100 mg cao chiết cồn phối hợp rễ - lá đinh lăng) và 1 – 2 gói/kg đối với trà đinh lăng (một gói gồm 1,5 g bột lá tẩm cao chiết nước từ lá đinh lăng) đều thể hiện tác dụng tăng lực – chống nhược sức sau 7 ngày và 14 ngày dùng (Trần Công Luận & cs. Đinh lăng tăng sức dẻo dai của cơ thể, giúp người suy nhược nhanh chóng hồi phục, ngủ ngon và ăn uống tốt hơn.
Rễ có tác dụng tăng lực tốt hơn thân và lá (Ngô Ứng Long & Nguyễn Khắc Viện, 1993). Đinh lăng tác dụng kháng khuẩn và kháng tốt trên các chủng Gram (+) như Staphylococcus, yếu ở vi khuẩn Gram (-) và nấm mốc (Nguyễn Trần Châu & Đỗ Mai Anh, 2007). Nước sắc đinh lăng có tác dụng đối kháng trùng roi Euglena viridis, trùng viêm mao Paramoecium caudatum và một số động vật nguyên sinh khác trong nước ngâm rơm và nước ao (Đỗ Huy Bích & cs.