Khóa Luận Tốt Nghiệp: Khảo Sát Thành Phần Hóa Học Của Lá Cây Chùm Ngây Moringaceae

Khóa luận tốt nghiệp đại học khảo sát thành phần hóa học của lá cây chùm ngây Moringaceae, phân tích chi tiết các hợp chất có lợi cho sức khỏe.

Trường đại học

Trường ĐH Sư Phạm TP.HCM

Chuyên ngành

Hóa Hữu Cơ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2012

70
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. ĐẠI CƯƠNG VỀ CÂY CHÙM NGÂY

1.1. Khái quát

1.2. Sinh thái và phân bố

1.3. Công dụng – Lợi ích

1.3.1. Theo y học cổ truyền

1.3.2. Theo y học hiện đại

2. THÀNH PHẦN HÓA HỌC

3. THỰC NGHIỆM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Hóa chất, thiết bị, phương pháp

3.2. Phương pháp nghiên cứu

3.3. Phương pháp phân lập các hợp chất

3.4. Phương pháp xác định cấu trúc hóa học các hợp chất

3.5. Giới thiệu chung

3.6. Quá trình phân lập các chất

3.6.1. Phân lập các hợp chất từ cao thô

3.6.2. Phân lập các hợp chất từ cao EtoAc

3.7. Hằng số vật lý và các số liệu phổ nghiệm các hợp chất phân lập được

3.7.1. Hợp chất MO7

3.7.2. Hợp chất MO12

4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Xác định cấu trúc các hợp chất

4.1.1. Xác định cấu trúc hợp chất MO7

4.1.2. Hợp chất MO12

5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC

Phụ lục 1. Các phổ của MO7

Phụ lục 1.1. Phổ ESI-MS của MO7

Phổ 1H-NMR của MO7. Phổ 1H-NMR của MO7

Phổ 13C-NMR của MO7. Phổ 13C-NMR của MO7

Phổ DEPT 90 và 135 của MO7. Phổ DEPT 90 và 135 của MO7

Phổ HMBC của MO7. Phổ HMBC của MO7

Phổ HSQC của MO7. Phổ HSQC của MO7

Phụ lục 2. Các phổ của MO12

Phụ lục 2.1. Phổ ESI-MS của MO12

Phổ 1H-NMR của MO12. Phổ 1H-NMR của MO12

Phổ 13C-NMR của MO12. Phổ 13C-NMR của MO12

Phổ DEPT 90 và 135 của MO12. Phổ DEPT 90 và 135 của MO12

Phổ HMBC của MO12. Phổ HMBC của MO12

Phổ HSQC của MO12. Phổ HSQC của MO12

Tóm tắt

I. Giới thiệu chung

Khóa luận tốt nghiệp 'Khảo sát thành phần hóa học cao etyl axetat của lá cây chùm ngây Moringa oleifera Lam, họ Moringaceae' tập trung vào việc phân tích các hợp chất hóa học có trong lá chùm ngây. Khảo sát thành phần hóa học là phương pháp chính được sử dụng để xác định cấu trúc và tính chất của các hợp chất này. Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc khám phá tiềm năng dược liệu của cây chùm ngây, một loại cây được sử dụng rộng rãi trong y học cổ truyền và hiện đại.

1.1. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chính của nghiên cứu là phân lập và xác định cấu trúc các hợp chất hóa học từ cao etyl axetat của lá chùm ngây. Thành phần hóa học của lá chùm ngây được đánh giá qua các phương pháp sắc ký và phổ nghiệm hiện đại như NMR, MS. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm sáng tỏ giá trị dược liệu của cây chùm ngây trong việc điều trị các bệnh lý khác nhau.

1.2. Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu này không chỉ có giá trị khoa học mà còn mang lại lợi ích thực tiễn trong việc ứng dụng các hợp chất tự nhiên vào y học. Cây chùm ngây được biết đến với khả năng chống oxy hóa, kháng khuẩn và hỗ trợ điều trị các bệnh mãn tính. Kết quả nghiên cứu có thể mở ra hướng phát triển các sản phẩm dược phẩm từ nguồn nguyên liệu tự nhiên.

II. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng các phương pháp hiện đại để phân tích thành phần hóa học của lá chùm ngây. Quy trình bao gồm chiết xuất cao etyl axetat, phân lập các hợp chất bằng sắc ký cột và xác định cấu trúc thông qua các kỹ thuật phổ nghiệm như NMR, MS. Các phương pháp này đảm bảo độ chính xác cao trong việc xác định cấu trúc và tính chất của các hợp chất.

2.1. Chiết xuất và phân lập

Quá trình chiết xuất bắt đầu bằng việc thu thập lá chùm ngây và chiết xuất bằng dung môi etyl axetat. Cao etyl axetat sau đó được phân lập bằng sắc ký cột để thu được các hợp chất tinh khiết. Phương pháp này cho phép tách các hợp chất có hoạt tính sinh học cao từ hỗn hợp phức tạp.

2.2. Xác định cấu trúc

Các hợp chất phân lập được xác định cấu trúc thông qua phổ NMR và MS. Phổ nghiệm là công cụ quan trọng để xác định cấu trúc phân tử và liên kết hóa học. Kết quả phổ nghiệm được so sánh với dữ liệu tham khảo để xác nhận cấu trúc của các hợp chất.

III. Kết quả và thảo luận

Nghiên cứu đã phân lập và xác định được hai hợp chất chính từ cao etyl axetat của lá chùm ngây, bao gồm MO7MO12. Các hợp chất này được đánh giá về hoạt tính sinh học và tiềm năng ứng dụng trong y học. Kết quả cho thấy các hợp chất này có khả năng chống oxy hóa và kháng khuẩn đáng kể.

3.1. Hợp chất MO7

Hợp chất MO7 được xác định là một flavonoid có cấu trúc phức tạp. Flavonoid là nhóm hợp chất có hoạt tính sinh học cao, đặc biệt trong việc chống oxy hóa và kháng viêm. Kết quả phổ nghiệm cho thấy MO7 có tiềm năng ứng dụng trong việc phát triển các sản phẩm dược phẩm.

3.2. Hợp chất MO12

Hợp chất MO12 là một alkaloid với cấu trúc đặc trưng. Alkaloid là nhóm hợp chất có tác dụng dược lý mạnh, đặc biệt trong việc điều trị các bệnh liên quan đến hệ thần kinh. Kết quả nghiên cứu cho thấy MO12 có khả năng ức chế sự phát triển của vi khuẩn và nấm.

IV. Kết luận và kiến nghị

Nghiên cứu đã thành công trong việc phân lập và xác định cấu trúc của hai hợp chất từ lá chùm ngây. Khảo sát thành phần hóa học đã làm sáng tỏ tiềm năng dược liệu của cây chùm ngây. Các hợp chất MO7 và MO12 có thể được ứng dụng trong việc phát triển các sản phẩm dược phẩm mới.

4.1. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về hoạt tính sinh học của các hợp chất MO7 và MO12. Ứng dụng thực tiễn của các hợp chất này trong y học cần được đánh giá thông qua các thử nghiệm lâm sàng. Ngoài ra, việc mở rộng nghiên cứu sang các bộ phận khác của cây chùm ngây cũng là hướng đi tiềm năng.

4.2. Đề xuất ứng dụng

Các hợp chất từ lá chùm ngây có thể được sử dụng để phát triển các sản phẩm chăm sóc sức khỏe và dược phẩm. Cây chùm ngây là nguồn nguyên liệu tự nhiên giàu tiềm năng, cần được khai thác và bảo tồn hợp lý để phục vụ cho các nghiên cứu và ứng dụng trong tương lai.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Nền y dược học cổ truyền ở Việt Nam đã có từ bao đời nay, hiện nay vẫn được coi là một hệ thống kho báu duy nhất có vai trò và tiềm năng to lớn trong sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ và phòng chống các loại dịch bệnh phục vụ cho nhân dân. Từ nhiều thế kỷ nay, những chế phẩm y học cổ truyền được coi như một kho tàng dược liệu quí báu. Đảng và Nhà nước đã xây dựng một chiến lược phát triển y học cổ truyền trong đó y tế phối hợp với các ngành khoa học tự nhiên, các tổ chức xã hội nghiên cứu, kế thừa, bảo tồn và phát triển nhằm xây dựng nền y dược học Việt Nam ngày càng khoa học hiện đại nhằm nâng cao tính khoa học và phát huy y học cổ truyền trong công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nên được thừa hưởng nguồn thiên nhiên vô cùng phong phú và đa dạng sinh học với nhiều loài dược liệu quí.

Các hợp chất thiên nhiên thể hiện hoạt tính sinh học rất phong phú và là một trong những định hướng để con người có thể tổng hợp tìm ra nhiều loại thuốc mới chống lại các bệnh hiểm nghèo, các chất bảo quản thực phẩm cũng như các chế phẩm phục vụ nông nghiệp có hoạt tính cao mà không ảnh hưởng đến môi sinh. Việc sử dụng các loại thuốc thảo dược theo cách cổ truyền hay từ các hợp chất nguồn gốc tự nhiên có xu hướng ngày càng tăng đã chiếm một vị trí quan trọng trong nền y học. Chế phẩm thảo dược dù chỉ có một loại dược liệu nhưng lại là hỗn hợp của nhiều hợp chất khác nhau và trong mọi trường hợp hầu hết đều chưa xác định rõ hoạt chất của từng chất. Vì vậy, những bài thuốc sử dụng thảo dược là đối tượng để cho các nhà khoa học nghiên cứu một cách đầy đủ về bản chất các hoạt chất có trong cây cỏ thiên nhiên.

Từ đó định hướng cho việc nghiên cứu, chiết xuất để tìm ra các loại thuốc mới hay bằng con đường tổng hợp để tạo ra những chất có hoạt chất trong việc chữa trị nhiều loại bệnh. Chính vì vậy việc nghiên cứu thành phần hóa học từ những cây cỏ thiên nhiên có một ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao. Nhằm đóng góp một phần hiểu biết thêm về thành phần hóa học của cây thuốc dân gian, đề tài “Khảo sát thành phần hóa học của lá cây chùm ngây (Moringacaeae)” là nội dung chính của luận văn. ĐẠI CƯƠNG VỀ CÂY CHÙM NGÂY 1.1 Khái quát Tên khoa học: Moringa oleifera Lam, Moringa pterygosperma Gaertn, thuộc họ Chùm ngây (Moringaceae).

Họ Chùm ngây chỉ gồm 1 chi duy nhất là chi Chùm ngây (Moringa) bao gồm khoảng 10 loài phân bố ở các vùng nhiệt đới trên thế giới (Mabberley, 1987). Các loài trong chi có hoa lưỡng tính, không đối xứng ở hai bên, bộ nhị 7 - 10, nhị đơn bào có cấu tạo uốn ngược, quả nang thuôn dài. Tên nước ngoài: drumstick tree, horseradish tree, ben tree (Anh), moringe à graine ailée, Morungue (Pháp), ángela, ben, moringa (Tây Ban Nha). Mô tả Cây Chùm ngây là cây lá xanh quanh năm, cây gỗ nhỏ phát triển nhanh từ 5- 10m trong vòng 1 năm, khi trồng lâu năm chiều cao tối đa đến 10-12m, đường kính thân cây 20-40cm.

Cây rủ theo hình vương miện, cành khẳng khiu, lá có lông tơ, có 6 - 9 đôi lá chét hình trứng. Hoa trắng có cuống mọc thành chùy ở nách lá, có lông tơ, lá bắc hình sợi. Quả mọc treo, có 3 cạnh, dài 25 - 30 cm, hơi gồ lên ở chỗ có hạt, khía rãnh dọc. Hạt màu đen, to bằng hạt đậu Hà Lan, tròn có cạnh và 3 cánh màu trắng dạng màng.

Cây chùm ngây lúc nhỏ Hình 2. Cây chùm ngây lúc lớn Hình 3. Hoa chùm ngây Hình 4. Lá chùm ngây tươi Hình 5.

Quả chùm ngây 1. Sinh thái và phân bố Chùm ngây vốn được coi có nguồn gốc ở Agra và Oudh, khu vực phía tây bắc của Ấn Độ, phía nam dãy núi Hymalaya, sau được đưa vào trồng rộng rãi ở Ấn Độ, Pakistan, Singapore, Cuba, Thái Lan. Cây phổ biến ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới như Sri Lanka, Mexico và các quốc gia Đông Nam Á. Hiện nay tồn tại quần thể chùm ngây mọc hoang ở cận Hymalaya, từ vùng Chenab đến phía Đông của Sarda (Ấn Độ).

Ở Việt Nam, chùm ngây được trồng rải rác ở các tỉnh phía Nam, từ Quảng Nam trở vào, đặc biệt ở các tình Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Phú Quốc. Cây ưa sáng và ưa khí hậu nhiệt đới nóng ẩm. Chùm ngây có thể sống và phát triển tốt trên nhiều loại đất, từ loại đất đỏ bazan ở Tây Nguyên đến đất sét pha cát hoặc trên đất cát vùng ven biển. Cây trồng bằng hạt hay bằng cành, sau 2 năm bắt đầu có hoa.

Cây trồng ở miền Nam thường ra hoa quả một vụ trong năm. Ở vùng nam Ấn Độ, hàng năm có 2 vụ hoa quả thậm chí có hoa quả rải rác quanh năm. Người ta có thể thu hái quả non làm rau sau 55 - 70 ngày kể từ ngày hoa nở và quả chín sau 100 - 115 ngày. Theo một số báo cáo thì Chi Chùm ngây chịu được nhiệt độ từ 18,7- 28,5 độ C và pH khoảng 4,5- 8.

Công dụng – Lợi ích Gỗ cây chùm ngây rất nhẹ, có thể dùng làm củi, nhưng năng lượng không cao. Nó được xem là nguồn nguyên liệu tiềm năng cho kỹ nghệ giấy và còn dùng để chế phẩm màu xanh. Vỏ cây có khả năng cung cấp tannin, nhựa dầu và sợi thô. Khả năng phòng hộ: Cây chùm ngây thuộc loại cây mọc nhanh và dễ tính, sống được ở những điều kiện đất đai khô cằn và trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt, chịu được hạn hán.

Do vậy, nhiều nơi trên thế giới, cây chùm ngây được trồng làm hàng rào xanh che chắn cho các khu sản xuất nông nghiệp, che bóng cho các cây công nghiệp dài ngày, chắn gió, chắn cát bay. Ngoài ra, cây có khả năng cải tạo đất, lá dùng làm phân xanh và làm thức ăn bổ sung cho gia súc rất tốt, cây có lá nhỏ, thân thon, tán đẹp nên được trồng làm cảnh. Theo y học cổ truyền Chùm ngây vừa là dược liệu, vừa là một thực phẩm rất tốt. Ngoài khả năng thanh lọc nước và cho giá trị dinh dưỡng cao, Chùm ngây còn là một dược thảo quan trọng trong việc điều trị một số bệnh như: Rễ: có vị đắng, tác dụng chống sỏi thận, long đàm, điều kinh, lợi tiểu nhẹ, gây trung tiện, ức chế sự sinh sản, kháng viêm, chất kích thích trong các trường hợp liệt, thuốc kích thích tim và tuần hoàn.

Rễ tươi của cây non dùng trị nóng sốt, phong thấp, gout, sưng gan và lá lách. [30, 47] Lá: dùng điều trị vết cắt ở da hay cho các vết thương, trị chứng hạ huyết áp và vò xát vùng thái dương khi đau đầu, dùng chữa bệnh trĩ, sốt, đau họng, viêm phế quản, nhiễm trùng mắt, tai, scorbut và các bệnh viêm xổ, dịch ép lá có khả năng kiểm soát mức đường huyết, giảm sưng hạch. Lá non dùng riêng hoặc phối hợp với các dược liệu khác làm thuốc lợi sữa. Lá già phơi khô sắc có tác dụng lợi tiểu nhẹ.Dùng lá giã nát đắp lên vết thương bị sưng, trộn với mật ong để đắp lên bên ngoài mắt trị sưng đỏ.[47] Vỏ thân: điều trị chứng thiếu vitamin C, chứng đau bụng, tiểu ra máu, dùng cho những bệnh nhân về mắt và chữa trị cho những bệnh nhân hôn mê, ngăn ngừa sự phình to của lách và sự hình thành các hạch lao ở cổ, phá hủy các khối u và chữa khỏi những chỗ loét, dịch vỏ rễ được nhỏ vào tai có tác dụng làm dịu các cơn đau tai, đồng thời đặt vào hốc răng để giảm đau và có hoạt tính kháng lao.[26] Hoa: có giá trị y học cao như một chất kích thích, kích dục, tác nhân gây sẩy thai, thông mật dùng để chữa viêm, những bệnh về cơ, hội chứng rối loạn phân ly, khối u, sự phình to của lách, làm giảm cholesterol huyết thanh, phospholipid, trigliceride trong máu, tỉ lệ VLDL, LDL cholesterol thành phospholipid và làm giảm chỉ số xơ vữa động mạch, giảm thành phần lipid ở gan, tim và động mạch chủ trong bệnh cao cholesterol máu ở thỏ và giảm sự thải ra các cặn cholesterol.[45] Hạt: các phân đoạn dịch chiết hạt có tác dụng bảo vệ bằng cách giảm các lipid peroxyde ở gan.

Những hợp chất được phân lập từ dịch chiết cồn của hạt Chùm ngây như thiocarbamate và isothiocyanate có tác dụng hạ huyết áp. Dầu hạt điều trị nấm da[40] Các bộ phận của cây chứa nhiều khoáng chất quan trọng, giàu chất đạm, vitamin, beta-caroten, acid amin và nhiều hợp chất phenol. Cây chùm ngây cung cấp một hỗn hợp gồm nhiều hợp chất quý hiếm như zeatin, quercetin, alpha-sitosterol, caffeoylquynic acid và kaemferol. Theo các nghiên cứu khoa học của nước ngoài, trong lá và hoa còn tươi của cây chùm ngây được đánh giá như sau: lượng vitamin C cao hơn gấp 7 lần so với lượng vitamin C có trong quả cam; gấp 4 lần lượng canxi và 2 lần lượng protein trong sữa, hơn 4 lần vitamin trong cà rốt; hơn 3 lần potassium trong chuối.

Như vậy, cây chùm ngây là nguồn thực phẩm có giá trị cao. [18] Nhiều nước đã sử dụng chùm ngây làm thực phẩm và làm thuốc. Lương y Nguyễn Công Đức Đức - giảng viên khoa Y học cổ truyền (ĐH Y Dược, TP.HCM), cho biết: Chùm ngây được dùng chữa các bệnh như: trị u xơ tiền liệt tuyến - bằng cách, dùng 100gr rễ chùm ngây tươi và 80gr lá trinh nữ hoàng cung tươi (hoặc dùng rễ chùm ngây khô 30gr và lá trinh nữ hoàng cung khô 20gr). Đem nấu với 2 lít nước, nấu còn lại nửa lít thuốc.

Uống ấm 3 lần trong ngày; trị suy nhược cơ thể, suy nhược thần kinh, giúp ổn định huyết áp, ổn định đường huyết, bảo vệ gan - bằng cách, mỗi ngày dùng 150gr lá chùm ngây non rửa sạch, giã nát, thêm 300ml nước sạch vắt lấy nước cốt (hoặc dùng máy xay sinh tố), thêm 2 muỗng canh mật ong trộn đều, chia uống 3 lần dùng trong ngày; trị tăng cholesterol, tăng lipid máu, tăng triglycerid, hoặc làm giảm acid uric, ngăn ngừa sỏi oxalate - bằng cách, mỗi ngày dùng 100gr rễ chùm ngây tươi (hoặc 30gr khô) rửa sạch, nấu với 1 lít nước, nấu sôi 15 phút, để uống cả ngày.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Khảo Sát Thành Phần Hóa Học Lá Chùm Ngây Moringaceae Trong Khóa Luận Tốt Nghiệp" tập trung vào việc phân tích và xác định các thành phần hóa học có trong lá chùm ngây, một loại cây được biết đến với nhiều lợi ích sức khỏe. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn chi tiết về các hợp chất quan trọng trong lá chùm ngây mà còn mở ra tiềm năng ứng dụng trong y học và thực phẩm chức năng. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến lĩnh vực hóa học thực vật và dược liệu tự nhiên.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu tương tự, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu chiết tách và xác định thành phần hóa học chính trong tinh dầu cây gai xanh, nơi phân tích sâu về các hợp chất hóa học trong tinh dầu thực vật. Ngoài ra, bài Luận văn thạc sĩ đánh giá sự biến đổi thành phần hóa học của fucoidan được phân lập từ rong nâu sargassum mcclurei theo các phương pháp chiết khác nhau cũng là một tài liệu tham khảo giá trị về biến đổi hóa học trong quá trình chiết xuất.

Nếu bạn quan tâm đến ứng dụng công nghệ sinh học trong nghiên cứu thực vật, hãy khám phá Luận án nghiên cứu tạo rễ tơ cây bạch hoa xà plumbago zeylanica l và khảo sát khả năng tạo plumbagin trong nuôi cấy in vitro, nơi tập trung vào việc tạo rễ tơ và khả năng tổng hợp hợp chất sinh học. Những bài viết này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực nghiên cứu hóa học và sinh học thực vật.