Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Nền y dược học cổ truyền tại Việt Nam sở hữu nguồn tài nguyên dược liệu phong phú từ thảm thực vật nhiệt đới. Việc nghiên cứu các hợp chất thiên nhiên từ cây cỏ không chỉ giúp giải thích cơ sở khoa học của các bài thuốc dân gian mà còn là hướng đi quan trọng nhằm tìm kiếm các hoạt chất sinh học mới phục vụ y học, nông nghiệp và bảo quản thực phẩm. Cây chùm ngây (Moringa oleifera Lam., họ Moringaceae) là loài thực vật có giá trị dinh dưỡng và dược tính cao, được sử dụng phổ biến trong y học dân gian tại nhiều quốc gia để hỗ trợ điều trị tăng huyết áp, viêm nhiễm, u xơ, bệnh gan và lọc nước sinh hoạt. Mặc dù trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của các bộ phận cây chùm ngây, tại Việt Nam ở thời điểm năm 2012, các khảo sát chuyên sâu về thành phần hóa thực vật của loài cây này vẫn còn hạn chế.

Đề tài khóa luận tốt nghiệp cử nhân hóa học chuyên ngành Hóa Hữu cơ của tác giả Võ Tấn Thanh Mai tập trung giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Thu thập, xử lý mẫu lá cây chùm ngây và điều chế cao chiết tổng cùng các cao phân đoạn dung môi có độ phân cực tăng dần.
  2. Ứng dụng các kỹ thuật sắc ký để cô lập, tinh chế các hợp chất hữu cơ sạch từ phân đoạn cao etyl axetat (EtOAc).
  3. Sử dụng các phương pháp phổ nghiệm hiện đại (phổ khối lượng ESI-MS, phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1D và 2D NMR) kết hợp so sánh tài liệu tham khảo để xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất phân lập được.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Mẫu lá cây chùm ngây (Moringa oleifera Lam., họ Moringaceae) sau khi phơi khô, xay mịn với khối lượng ban đầu là 7 kg.
  • Nguồn gốc mẫu vật: Thu hái tại huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, do Công ty TNHH SX TM Hạnh Thông cung cấp và được giám định tên khoa học tại Trung tâm Sâm và Dược liệu TP. Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi không gian và thời gian: Thực nghiệm chiết tách, đo đạc phổ nghiệm và biện luận cấu trúc được thực hiện tại Phòng Công nghệ các hợp chất có hoạt tính sinh học thuộc Viện Công nghệ Hóa học (TP. Hồ Chí Minh) phối hợp với Khoa Hóa học - Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, hoàn thành vào tháng 5 năm 2012.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên nền tảng lý thuyết hóa học các hợp chất thiên nhiên, tập trung vào các nhóm chất chuyển hóa thứ cấp có hoạt tính sinh học thường gặp ở chi Moringa như alkaloid, phenolic glycoside, flavonoid, glucosinolate và isothiocyanate. Cơ sở định danh phân tử dựa trên nguyên lý tương tác từ hạt nhân và phân mảnh ion trong hóa học hữu cơ thực nghiệm.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm bao gồm:

  • Phương pháp chiết tách: Mẫu bột lá khô (7 kg) được ngâm chiết hồi lưu ngắt quãng với cồn (ethanol 96°) 4 lần (mỗi lần 2 ngày). Dịch chiết gom lại và cô cạn dưới áp suất thấp bằng máy cô quay chân không để thu được 1,5 kg cao cồn thô. Tiến hành chiết phân bố pha rắn trên silica gel với các dung môi có độ phân cực tăng dần gồm hexane, chloroform ($\text{CHCl}_3$), etyl axetat ($\text{EtOAc}$) và methanol ($\text{MeOH}$).
  • Phương pháp phân lập và tinh chế: Sử dụng kỹ thuật sắc ký cột (SKC) silica gel pha thường (cỡ hạt 40–60 µm), silica gel pha đảo $\text{RP-18}$ (cỡ hạt 30–50 µm) và gel lọc phân tử Sephadex LH-20. Quá trình tách được theo dõi liên tục bằng sắc ký lớp mỏng (SKLM) trên bản mỏng tráng sẵn silica gel DC-Alufolien $\text{F}{254}$ và $\text{RP-18 F}{254\text{s}}$ (Merck). Vết chất được phát hiện dưới đèn tử ngoại ở hai bước sóng 254 nm và 365 nm, hoặc hiện màu bằng thuốc thử dung dịch $\text{H}_2\text{SO}_4$ 10% trong ethanol và dung dịch $\text{FeCl}_3/\text{EtOH}$.
  • Phương pháp xác định cấu trúc hóa học:
    • Đo điểm nóng chảy trên máy Electrothermal IA 9000 series (dùng mao quản không hiệu chỉnh).
    • Phổ khối lượng phun mù điện tử ($\text{ESI-MS}$) đo tại Viện Hóa học, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (Hà Nội).
    • Phổ cộng hưởng từ hạt nhân ($^1\text{H-NMR}$ ở tần số 500 MHz, $^{13}\text{C-NMR}$ ở tần số 125 MHz, DEPT 90, DEPT 135, HMBC, HSQC) đo trên thiết bị Bruker AM500 FT-NMR Spectrometer trong dung môi DMSO-$d_6$.

Nội dung chính theo từng chương

Mở đầu và Đại cương về cây chùm ngây

Phần tổng quan cung cấp hệ thống dữ liệu thực vật học, sinh thái, phân bố và giá trị sử dụng của cây chùm ngây. Về mặt phân loại, họ Moringaceae chỉ gồm duy nhất một chi Moringa với khoảng 10 loài phân bố tại các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Cây có nguồn gốc từ khu vực tây bắc Ấn Độ (nam dãy Himalaya), thích nghi tốt với điều kiện khô hạn, đất cát ven biển hoặc đất đỏ bazan. Tại Việt Nam, cây mọc và được trồng rải rác từ Quảng Nam trở vào các tỉnh phía Nam như Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hòa, Phú Quốc.

Về công dụng y học cổ truyền và dược lý học hiện đại:

  • Y học cổ truyền: Rễ cây có vị đắng, dùng trị nóng sốt, phong thấp, sưng gan lách, kích thích tuần hoàn; lá tươi dùng hạ huyết áp, giã đắp vết thương, trị viêm sưng hạch, kiểm soát đường huyết; hoa giúp kích thích sinh dục, giảm mỡ máu; hạt dùng giảm peroxyde lipid gan và lọc trong nước đục.
  • Dược lý hiện đại: Các công trình quốc tế chứng minh dịch chiết và các hợp chất tinh khiết từ chùm ngây có tác dụng hạ huyết áp (các glycoside thiocarbamate, isothiocyanate, niazinin), giảm cholesterol máu ($\beta$-sitosterol), bảo vệ gan, chống loét dạ dày, kháng khuẩn Gram (+) và Gram (-), kháng nấm, ức chế virus Epstein-Barr và chống oxy hóa.
  • Thành phần hóa học đã công bố: Toàn cây chứa pterygospermin, glucosinolate, sterol ($\beta$-sitosterol, stigmasterol), flavonoid (quercetin, kaempferol, isoquercetin), cùng hàm lượng cao acid amin không thay thế, vitamin A, C, khoáng chất sắt, canxi.

Thực nghiệm và phương pháp nghiên cứu

Chương này mô tả chi tiết quy trình hóa chất, thiết bị và các bước phân tách phân đoạn sắc ký từ cao etyl axetat ($\text{m} = 360\text{ g}$):

Bước sắc ký Phân đoạn nạp Khối lượng mẫu Hệ dung môi rửa giải (Tỷ lệ thể tích) Số phân đoạn thu được Kết quả chọn lọc
SKC Cấp 1 Cao $\text{EtOAc}$ thô $360\text{ g}$ Hexane:$\text{EtOAc}$ (10:1 $\rightarrow$ 1:1 $\rightarrow$ 100% $\text{EtOAc}$); $\text{EtOAc}$:$\text{MeOH}$ (1:1 $\rightarrow$ 1:5 $\rightarrow$ 100% $\text{MeOH}$) 7 phân đoạn (E1 – E7) Phân đoạn E5 ($49,8209\text{ g}$) cho vết SKLM rõ
SKC Cấp 2 Phân đoạn E5 $49,8209\text{ g}$ Hexane:$\text{EtOAc}$ (5:1 $\rightarrow$ 1:1 $\rightarrow$ 100% $\text{EtOAc}$); $\text{EtOAc}$:$\text{MeOH}$ (1:1 $\rightarrow$ 1:5 $\rightarrow$ 1:10 $\rightarrow$ 100% $\text{MeOH}$) 6 phân đoạn (E51 – E56) Phân đoạn E54 ($6,8797\text{ g}$) có 2 vết chính màu đen
SKC Cấp 3 Phân đoạn E54 $6,8797\text{ g}$ Hexane:$\text{EtOAc}$ (5:1 $\rightarrow$ 2:1 $\rightarrow$ 1:1 $\rightarrow$ 100% $\text{EtOAc}$); $\text{EtOAc}$:$\text{MeOH}$ (1:1 $\rightarrow$ 1:5 $\rightarrow$ 1:10) 5 phân đoạn (E541 – E545) Chọn phân đoạn E544 ($1,739\text{ g}$) và E545 ($0,8787\text{ g}$)
SKC Cấp 4a Phân đoạn E544 $1,739\text{ g}$ $\text{CHCl}_3$:$\text{MeOH}$ (50:1 $\rightarrow$ 30:1 $\rightarrow$ 20:1 $\rightarrow$ 10:1 $\rightarrow$ 5:1 $\rightarrow$ 1:1 $\rightarrow$ 100% $\text{MeOH}$) lặp lại Thu phân đoạn E5443 Phân lập được hợp chất MO7 ($7,4\text{ mg}$)
SKC Cấp 4b Phân đoạn E545 $0,8787\text{ g}$ Hexane:$\text{EtOAc}$ và $\text{EtOAc}$:$\text{MeOH}$, sau đó $\text{CHCl}_3$:$\text{MeOH}$ qua các phân đoạn trung gian Thu phân đoạn E5453332 ($25\text{ mg}$) SKC pha thường $\text{CHCl}_3$:$\text{MeOH}$:$H_2O$ (10:1:0,1) thu MO12 ($9\text{ mg}$)

Kết quả và thảo luận

Chương 3 trình bày chi tiết quá trình giải đoán và biện luận cấu trúc phân tử của hai hợp chất phân lập được:

  1. Hợp chất MO7: Thu được dưới dạng bột vô định hình màu trắng.

    • Phổ khối $\text{ESI-MS}$: Cho mũi ion $[\text{M}-\text{H}+\text{H}2\text{O}]^-$ tại $m/z = 394,1$, phù hợp với công thức phân tử $\text{C}{19}\text{H}_{23}\text{O}_7\text{N}$.
    • Phổ $^1\text{H-NMR}$ và $^{13}\text{C-NMR}$/DEPT: Nhận diện một đơn vị đường $\alpha\text{-L-rhamnopyranose}$ với proton anomer tại $\delta_{\text{H}}\ 5,30\text{ ppm}$ ($1\text{H}, \text{d}, J=1,5\text{ Hz}$), nhóm methyl đường tại $\delta_{\text{H}}\ 1,07\text{ ppm}$ ($3\text{H}, \text{d}, J=7\text{ Hz}$; $\delta_{\text{C}}\ 17,8\text{ ppm}$); một dị vòng pyrrole mang nhóm aldehyde $-\text{CHO}$ tại $\text{C-2}$ ($\delta_{\text{H}}\ 9,46\text{ ppm}, 1\text{H}, \text{s}$; $\delta_{\text{C}}\ 179,3\text{ ppm}$), hai proton thơm trên vòng pyrrole ghép cặp liên vị ortho gồm $\text{H-3}$ ($\delta_{\text{H}}\ 7,04\text{ ppm}, 1\text{H}, \text{d}, J=4\text{ Hz}$) và $\text{H-4}$ ($\delta_{\text{H}}\ 6,27\text{ ppm}, 1\text{H}, \text{d}, J=4\text{ Hz}$); nhóm $-\text{CH}2\text{OH}$ gắn tại $\text{C-5}$ ($\delta{\text{H}}\ 4,40\text{ ppm}, 2\text{H}, \text{d}, J=5\text{ Hz}$; $\delta_{\text{C}}\ 54,9\text{ ppm}$); một vòng benzene 1,4-thế đối xứng ($\delta_{\text{H}}\ 6,95\text{ ppm}, 4\text{H}, \text{br s}$; các carbon thơm $\delta_{\text{C}}\ 116,4; 127,4; 131,3; 155,2\text{ ppm}$) nối với dị vòng pyrrole qua cầu methylene $\text{C-1'}$ ($\delta_{\text{H}}\ 5,56\text{ ppm}, 2\text{H}, \text{s}$; $\delta_{\text{C}}\ 47,0\text{ ppm}$).
    • Tương tác HMBC: Proton anomer $\text{H-1'''}$ tương quan với $\text{C-4''}$ ($\delta_{\text{C}}\ 155,2\text{ ppm}$) khẳng định gốc đường rhamnose liên kết tại vị trí $\text{C-4''}$ của nhân thơm; proton $-\text{CHO}$ tương quan với $\text{C-2}$ ($\delta_{\text{C}}\ 131,6\text{ ppm}$). Hợp chất được xác định là pyrrolemarumine 4''-O-$\alpha$-L-rhamnopyranoside.
  2. Hợp chất MO12: Thu được dưới dạng chất bột màu trắng, nhiệt độ nóng chảy $121\text{–}122^\circ\text{C}$.

    • Phổ khối $\text{ESI-MS}$: Cho mũi ion phân tử $[\text{M}-\text{H}+\text{H}2\text{O}]^-$ tại $m/z = 287,2$, tương ứng với công thức phân tử $\text{C}{13}\text{H}_{18}\text{O}_6$.
    • Phổ $^1\text{H-NMR}$ và $^{13}\text{C-NMR}$/DEPT: Thể hiện tín hiệu của vòng thơm benzyl đơn thế đối xứng với các proton $\text{H-2,6}$ ($\delta_{\text{H}}\ 7,38\text{ ppm}, 2\text{H}, \text{d}, J=7,5\text{ Hz}$), $\text{H-3,5}$ ($\delta_{\text{H}}\ 7,32\text{ ppm}, 2\text{H}, \text{t}, J=7,5\text{ Hz}$), $\text{H-4}$ ($\delta_{\text{H}}\ 7,29\text{ ppm}, 1\text{H}, \text{t}, J=7,0\text{ Hz}$); nhóm oxymethylene $\text{C-7}$ ($\delta_{\text{H}}\ 4,56\text{ và }4,81\text{ ppm}, 2\text{H}, \text{d}, J=12,0\text{ Hz}$; $\delta_{\text{C}}\ 69,4\text{ ppm}$); một phân tử đường $\beta\text{-D-glucose}$ đặc trưng với proton anomer $\text{H-1'}$ ($\delta_{\text{H}}\ 4,22\text{ ppm}, 1\text{H}, \text{d}, J=8,0\text{ Hz}$; $\delta_{\text{C}}\ 102,0\text{ ppm}$).
    • Tương tác HMBC: Proton anomer $\text{H-1'}$ tương quan trực tiếp với carbon methylene $\text{C-7}$ ($\delta_{\text{C}}\ 69,4\text{ ppm}$), proton methylene $\text{H-7}$ tương quan ngược lại với carbon thơm bậc bốn $\text{C-1}$ ($\delta_{\text{C}}\ 138,0\text{ ppm}$) và $\text{C-1'}$ của phân tử đường. Hợp chất được xác định là benzyl-7-O-$\beta$-D-glucopyranoside (benzyl glucoside).

Kết luận và kiến nghị

Phần cuối của khóa luận tổng kết các kết quả thực nghiệm đạt được về mặt hóa thực vật, đồng thời đưa ra các đề xuất khoa học nhằm hoàn thiện và mở rộng hướng nghiên cứu cho cây chùm ngây tại Việt Nam.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã hoàn thành quy trình chiết tách và xác định cấu trúc hóa học của 2 hợp chất tinh khiết từ phân đoạn cao etyl axetat của lá cây chùm ngây.

Bảng tổng hợp dữ liệu phổ nghiệm và đặc tính hóa lý của các hợp chất:

Đặc tính / Thông số Hợp chất MO7 Hợp chất MO12
Tên hợp chất Pyrrolemarumine 4''-O-$\alpha$-L-rhamnopyranoside Benzyl-7-O-$\beta$-D-glucopyranoside
Dạng tồn tại Bột vô định hình màu trắng Bột vô định hình màu trắng
Nhiệt độ nóng chảy Không xác định $121\text{–}122^\circ\text{C}$
Khối lượng phân lập $7,4\text{ mg}$ $9,0\text{ mg}$
Công thức phân tử $\text{C}{19}\text{H}{23}\text{O}_7\text{N}$ $\text{C}{13}\text{H}{18}\text{O}_6$
Phổ ESI-MS ($m/z$) $394,1\ [\text{M}-\text{H}+\text{H}_2\text{O}]^-$ $287,2\ [\text{M}-\text{H}+\text{H}_2\text{O}]^-$
Độ dịch chuyển nổi bật ($^1\text{H-NMR}$) $\delta_{\text{H}}\ 9,46\ (\text{s}, -\text{CHO});\ 5,30\ (\text{d}, \text{H-1'''});\ 1,07\ (\text{d}, \text{CH}_3)$ $\delta_{\text{H}}\ 4,22\ (\text{d}, J=8\text{ Hz}, \text{H-1'});\ 4,56\text{ và }4,81\ (\text{d}, \text{H-7})$
Độ dịch chuyển nổi bật ($^{13}\text{C-NMR}$) $\delta_{\text{C}}\ 179,3\ (-\text{CHO});\ 155,2\ (\text{C-4''});\ 98,4\ (\text{C-1'''})$ $\delta_{\text{C}}\ 138,0\ (\text{C-1});\ 102,0\ (\text{C-1'});\ 69,4\ (\text{C-7})$

Đóng góp khoa học của đề tài:

  • Khẳng định sự hiện diện của hợp chất alkaloid pyrrole gắn đường (pyrrolemarumine 4''-O-$\alpha$-L-rhamnopyranoside) trong lá cây chùm ngây thu hái tại Đồng Nai, Việt Nam.
  • Ghi nhận lần đầu tiên hợp chất benzyl-7-O-$\beta$-D-glucopyranoside (MO12) được tìm thấy và phân lập trong toàn bộ chi Chùm ngây (Moringa).

Kiến nghị từ tác giả:

  • Tiếp tục thực hiện phân lập các hợp chất hữu cơ trong các phân đoạn cao $\text{CHCl}_3$, phân đoạn cao $\text{EtOAc}$ còn lại (E1–E4, E6, E7) và các cao dung môi khác từ lá chùm ngây.
  • Đánh giá hoạt tính sinh học (kháng khuẩn, kháng nấm, chống oxy hóa, độc tính tế bào) của các hợp chất tinh khiết đã phân lập được khi tích lũy đủ lượng mẫu.
  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu hóa thực vật sang các bộ phận khác của cây chùm ngây trồng tại Việt Nam như thân, rễ, hoa và quả.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Đề tài mới chỉ tập trung phân lập chuyên sâu trên một nhánh phân đoạn nhỏ của cao etyl axetat (các phân đoạn phụ E544 và E545), chưa thể khảo sát toàn diện toàn bộ 7 phân đoạn lớn thu được từ sắc ký cột ban đầu.
  • Khối lượng các hợp chất sạch thu được còn nhỏ ($7,4\text{ mg}$ đối với MO7 và $9,0\text{ mg}$ đối với MO12), do đó khóa luận chỉ dừng lại ở bước giải đoán cấu trúc hóa học mà chưa tiến hành thử nghiệm hoạt tính sinh học in vitro.

Hướng nghiên cứu mở rộng:

  • Mở rộng quy mô chiết tách để thu hồi lượng lớn các phân đoạn phân cực trung bình và cao từ lá chùm ngây.
  • Thiết lập quy trình khảo sát thành phần hóa thực vật cho các bộ phận rễ, thân, vỏ và hạt của cây chùm ngây tại các vùng sinh thái khác nhau ở Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu viên thuộc các chuyên ngành Hóa Hữu cơ, Hóa học các hợp chất thiên nhiên, Dược học và Công nghệ Hóa học.
  • Những người thực hiện đề tài nghiên cứu về chiết tách, phân lập các glycoside, alkaloid thực vật và hóa thực vật chi Moringa.

Các nội dung có giá trị tham khảo cao trong văn bản:

  • Sơ đồ phân tách phân đoạn sắc ký cột silica gel đa cấp với hệ dung môi biến đổi độ phân cực chi tiết.
  • Bảng quy kết đầy đủ các số liệu phổ cộng hưởng từ hạt nhân ($^1\text{H-NMR}$, $^{13}\text{C-NMR}$, HSQC, HMBC) và phân tích các tương tác dị hạt nhân tầm xa phục vụ biện luận cấu trúc các phân tử glycoside tự nhiên.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Khối lượng nguyên liệu lá chùm ngây ban đầu và khối lượng cao thô thu được là bao nhiêu?

Tác giả đã sử dụng $7\text{ kg}$ lá chùm ngây phơi khô xay mịn, sau 4 lần ngâm chiết với ethanol 96° và cô cạn dung môi dưới áp suất thấp đã thu được $1,5\text{ kg}$ cao cồn thô. Sau đó, $360\text{ g}$ cao phân đoạn etyl axetat ($\text{EtOAc}$) được trích ly để thực hiện sắc ký cột phân lập.

Câu hỏi 2: Cấu trúc hóa học của hợp chất MO7 được xác định là gì và có các nhóm chức đặc trưng nào?

Hợp chất MO7 có khối lượng phân lập $7,4\text{ mg}$, công thức phân tử $\text{C}{19}\text{H}{23}\text{O}7\text{N}$, được xác định là pyrrolemarumine 4''-O-$\alpha$-L-rhamnopyranoside. Cấu trúc gồm một dị vòng pyrrole 1,2,5-thế mang nhóm $-\text{CHO}$ ($\delta{\text{C}}\ 179,3\text{ ppm}$), nhóm $-\text{CH}2\text{OH}$ ($\delta{\text{C}}\ 54,9\text{ ppm}$), liên kết qua cầu methylene ($\delta_{\text{C}}\ 47,0\text{ ppm}$) với một nhân benzene 1,4-thế gắn phân tử đường $\alpha\text{-L-rhamnose}$ tại vị trí $\text{C-4''}$ ($\delta_{\text{C}}\ 155,2\text{ ppm}$).

Câu hỏi 3: Hợp chất MO12 có đặc điểm gì nổi bật và được định danh là chất nào?

Hợp chất MO12 ($9,0\text{ mg}$, nhiệt độ nóng chảy $121\text{–}122^\circ\text{C}$, công thức $\text{C}{13}\text{H}{18}\text{O}_6$) được xác định là benzyl-7-O-$\beta$-D-glucopyranoside (benzyl glucoside). Đây là hợp chất lần đầu tiên được ghi nhận và phân lập trong chi Moringa.

Câu hỏi 4: Những phương pháp phổ nghiệm nào đã được sử dụng để xác định cấu trúc hai hợp chất MO7 và MO12?

Cấu trúc phân tử của hai hợp chất được xác định thông qua sự kết hợp của phổ khối lượng ion hóa phun mù điện tử ($\text{ESI-MS}$), phổ cộng hưởng từ hạt nhân một chiều ($^1\text{H-NMR}$ ở tần số 500 MHz, $^{13}\text{C-NMR}$ ở tần số 125 MHz, DEPT 90 và DEPT 135) và phổ cộng hưởng từ hạt nhân hai chiều (HSQC, HMBC) đo trong dung môi DMSO-$d_6$.

Câu hỏi 5: Tác giả đã phân lập hai hợp chất trên từ các phân đoạn sắc ký cụ thể nào của cao etyl axetat?

Từ $360\text{ g}$ cao $\text{EtOAc}$ ban đầu, sắc ký cột thu được 7 phân đoạn chính (E1–E7). Phân đoạn E5 ($49,8209\text{ g}$) được chọn để tiếp tục sắc ký tách thành 6 phân đoạn phụ (E51–E56). Trong đó, phân đoạn E54 ($6,8797\text{ g}$) được tách tiếp thu E544 và E545: phân đoạn E544 qua sắc ký cột thu được MO7 ($7,4\text{ mg}$); phân đoạn E545 qua nhiều lần tách thu được MO12 ($9,0\text{ mg}$).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Võ Tấn Thanh Mai đã thực hiện quy trình chiết xuất, phân lập và định danh thành công hai hợp chất hữu cơ sạch từ phân đoạn cao etyl axetat của mẫu lá cây chùm ngây (Moringa oleifera Lam.) thu hái tại tỉnh Đồng Nai. Bằng hệ thống phương pháp phổ nghiệm $\text{ESI-MS}$, $^1\text{H-NMR}$, $^{13}\text{C-NMR}$, DEPT và phổ tương tác hai chiều HSQC, HMBC, hai cấu trúc được xác định chính xác là pyrrolemarumine 4''-O-$\alpha$-L-rhamnopyranoside (MO7) và benzyl-7-O-$\beta$-D-glucopyranoside (MO12). Kết quả ghi nhận MO12 lần đầu tiên xuất hiện trong chi Moringa, đóng góp dữ liệu thực nghiệm quan trọng vào việc nghiên cứu thành phần hóa thực vật của nguồn dược liệu chùm ngây tại Việt Nam.