CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Đặc điểm thực vật của cây lông cu li Hình 1. Tiêu bản cây Lông cu li 1. Tên gọi Cây Lông cu li (cẩu tích), có tên khoa học là Cibotium Barometz (L) J.Sm thuộc họ lông cu ly Dicksoniaceae ngoài ra còn có các tên khác phụ thuộc vào vị trí địa lí và đồng bào địa phương gọi nó như: Cây kim mao cẩu tích, nhung nô, xích tiết, co cút pá (Tiếng Thái), cút báng (Tiếng Tày), cây lông khỉ, nhải cù viằng (Tiếng Dao).
Chi Cibotium Kaulfuss là một chi có 12 loài mọc hoang ở các vùng nhiệt đới châu Á, châu Mỹ. Ở nước ta chỉ có 1 loài đó là Cibotium Barometz [2][3]. Mô tả thực vật Cây Lông cu li có thân thường yếu, nhưng cũng có thể cao 2,5-3m. Lá lớn có cuống dài 1-2m, màu nâu, ở phía gốc có vẩy hình dải rất dài màu vàng và bóng phủ dày đặc.
Phiến dài tới 3m, rộng 600cm. Các lá lông chim ở phía dưới hình trái xoan ngọn giáo dài 30-60cm. Lá lông chim bậc hai hình dải - ngọn giáo, nhọn lại chia thành nhiều đoạn thuôn, hẹp; mặt trên lá màu lục sẫm, mặt dưới màu lục lơ; trục lá không lông; các gân của các lá chét bậc hai có lông len. Ở túi bào tử 1 hay 2, có khi 5 3 hay 4 ở về mỗi bên của gân giữa bậc 3; các túi màu nâu, có 2 môi không đều nhau; cái ở ngoài hình cầu, cái ở trong hẹp hơn, thuôn.
Thân và lá cây Lông cu li Thu hái và chế biến của các nhà thuốc Đông Y: Cây lông cu li có thể thu hái thân rễ quanh năm, tốt nhất vào mùa Thu – Đông. Khi thu hái về, đầu tiên cắt bỏ rễ con và cuống lá, cạo hết lông vàng để riêng. Rễ củ đã cạo hết lông, rửa sạch, thái phiến hay cắt từng đoạn dài 4-10mm, phơi, sấy khô, bảo quản nơi khô ráo. Khi dùng tẩm dược liệu với rượu để một đêm rồi sao vàng [3][4].
Sự phân bố trên thế giới và Việt Nam Cây Lông cu li là một loại thực vật được dùng làm dược liệu thuộc họ dương xỉ mọc nhiều ở Đông Nam Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Myanmar, Indonesia, Việt Nam và Nhật Bản [3]. Ở Việt Nam, cây Lông cu li được phân bố rất rộng rãi ở ven rừng tái sinh, sau nương rẫy và trên các tràng cây bụi hoặc nơi đất ẩm gần bờ khe suối, rừng núi ở khắp các tỉnh miền núi nước ta từ Lào Cai, Hà Giang (phía Bắc) đến qua Quảng Nam - Đà Nẵng, Lâm Đồng (miền Trung) và vùng núi tỉnh Tây Ninh, Phú Quốc, Côn Đảo (miền Nam). Giá trị sử dụng của cây lông cu li 1. Những nghiên cứu ứng dụng lông cu li trên thế giới Theo Y học truyền thống Trung Quốc dùng cây Lông cu li có tác dụng bổ gan và thận, tăng cường xương và gân, đau dây thần kinh tọa, phong hàn.
Do đó, nó thường được sử dụng như là thành phần chính với các thuốc thảo dược Trung Quốc ngâm rượu để uống bồi bổ cơ thể và điều trị bệnh như mỏi lưng, thấp khớp. Trong 6 các ứng dụng lâm sàng hiện đại ở Trung Quốc, cây cẩu tích được sử dụng để điều trị đau thắt lưng, chân tê liệt, liệt nửa người, xuất tinh sớm, xuất huyết ở phụ nữ và các loại khối u như u xương, u xương ác tính, u não, u đa tủy, chống viêm gan virus [14]. Năm 2009, Qi Wu, Xiu –Wei Yang nghiên cứu thành phần cấu tạo cây Lông cu li và thử lâm sàng trên người và kết luận onitin có độc tính thấp, an toàn khi uống, dễ được hấp thu qua đường tiêu hóa, có hoạt tính chống co thắt như papaverine, nhưng cơ chế hoạt động khác với papaverine. Onitin là một thuốc thử leishmanicidal mạnh [13].
Năm 2009, Nguyễn Xuân Cường và cộng sự đã nghiên cứu “Chất ức chế hình thành tế bào hủy xương từ thân rễ của Cibotium Barometz” kết quả có hai chất sau: M eO HO 6 '' O HO 2 4 '' 5 O 3 HO O OMe O 9 '' ' H O 3 '' 1 '' 1' 2 ''' OH 1 ''' O HO 4 ''' 6 ''' 7 ''' 3-[(4-O-caffeoyl-β-D-glucopyranosyloxy)methyl]-2,5-dimethoxy- 3hydroxytetrahydrofuran OH OH H OH O O OR HO OH R= 9Z,12Z-octadecadienoylglucosid (2S)-3-O-(9Z,12Z-octadecadienoyl)glyceryl- β-D-galactopyranoside 7 Hai chất trên có khả năng ức chế sự hình thành tế bào hủy xương và không có tác dụng gây độc tế bào tiền thân của tế bào hủy xương, do đó chất có tiềm năng lớn trong việc bào chế thuốc chống loãng xương ở người. Năm 2011, Xiong Zhao và đồng nghiệp đã tiến hành nghiên cứu khả năng chống loãng xương của dịch chiết cây cẩu tích trên chuột, kết quả cho thấy uống hàng ngày dịch chiết xuất từ cây Lông cu li đã góp phần đáng kể để phòng ngừa hoặc điều trị của sự phát triển mất xương gây ra bởi sự cắt bỏ buồng trứng ở chuột. Dịch chiết xuất từ cây Lông cu li có thể ngăn chặn sự mất mát khối lượng xương và sự suy giảm của vi kiến trúc trabecular OVX gây ra, do đó duy trì sự toàn vẹn về cấu trúc và chất lượng cơ sinh học của xương. Dịch chiết xuất từ cây Lông cu li có thể là một thuốc thay thế tiềm năng để phòng ngừa và điều trị loãng xương sau mãn kinh [16].
Năm 2011, Xican Li và các cộng sự nghiên cứu hoạt động chống oxi hóa của axit Protocatechuic được chiết từ cây Lông cu li và kết luận, axit protocatechuic được chứng minh là hiệu quả hơn nhiều so với trolox trong việc đánh giá hoạt động của chất chống oxy hóa trong ống nghiệm của lipid và các phương pháp truyền dung dịch nước, do đó nó có thể được sử dụng trong ngành công nghiệp dược hoặc thực phẩm như chất chống oxy hóa tự nhiên [15][16]. Năm 2011, Chih-Chun Wen và các cộng sự đã nghiên cứu hoạt tính ức chế SARS-CoV và nhận thấy rằng hai hợp chất chiết xuất từ cây Lông cu li có hoạt tính ức chế SARS-CoV ở nồng độ từ 25 đến 200 mg/ml và ức chế đáng kể sự hoạt động của protease 3CL SARS-CoV với IC50 giá trị là 39 mg/ml và 44 mg/ml [6]. Năm 2011, Jiewen Zhang và các đồng nghiệp nghiên cứu hoạt tính của các hợp Perosin là một nhóm lớn thuộc Secquitecpen có trong cây Lông cu li và nhận thấy chúng có các hoạt tính chống tiểu đường Type 1, Type 2, chống béo phì [9]. Năm 2012, Wenqiong Mai và các đồng nghiệp đã nghiên cứu thân cây lông cu li và nhận thấy thân cây Lông cu li chủ yếu chứa axit béo (ví dụ như axit oleic, acid palmitic, và axit octadecaonic), acid phenolic (ví dụ như axit caffeic, axit 8 protocatechuic).
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, axit palmitic có tác dụng chống viêm và axit octadecaonic có thể làm giảm mỡ máu, axit phenolic tan trong nước như axit caffeic và axit protocatechuic này là thành phần hoạt động chống viêm khớp dạng thấp và viêm xương khớp. Flavonoids như kaempferol và onychin có hoạt tính chống oxy hóa và các hiệu ứng chống ung thư [14]. Năm 2012, Nova Syafni và các đồng nghiệp đã phân lập được hai hợp chất là: axit 3,4-dihydroxybenzoic (1) and 3,4-dihydroxybenzaldehyde, ông và các cộng sự đã nghiên cứu hoạt tính chống oxi hóa của hai chất này và nhận thấy chúng có hoạt tính chống oxi hóa mạnh, chúng tham gia vào quá trình đào thải các gốc tự do do quá trình đồng hóa, dị hóa trong cơ thể gây ra [10][12]. Một số bài thuốc của cây Lông cu li được dùng ở Việt Nam Theo y học cổ truyền Việt Nam cây lông cu li có vị đắng ngọt, tính ấm, có tác dụng bổ can thận, mạnh gân cốt, trừ phong thấp, chống viêm.
Lông vàng tác dụng cầm máu dùng dịt vào vết thương. Dùng chữa phong hàn, tê thấp, đau lưng nhức mỏi, chứng tiểu tiện són không cầm, di tinh, bạch đới, đau dây thần kinh tọa. Liều dùng: 12g - 20g, dùng với các vị thuốc khác [4]. Bài thuốc chữa phong thấp, tê bì chân tay không muốn cử động Lông cu li 20g, Ngưu tất 8g, Mộc qua 12g, Tang chi 8g, Tùng tiết 4g, Tục đoạn 8g, Đỗ trọng 8g, Tầm giao 12g, Quế chi 4g, đun với 600ml nước chia hai lần uống trong một ngày [1].
Rượu bổ thận tráng dương Lông cu li 18g, đỗ trọng 15g, tục đoạn 15g, uy linh tiên 15g, ngưu tất 15g, ngũ gia bì 15g, rượu 30 độ 1000ml. Ngâm 7 ngày, ép chiết lấy nước. Mỗi lần uống 20ml, ngày 2 lần: sáng, chiều. Dùng cho các bệnh chứng phong thấp, đau mỏi lưng gối.
9 Lông cu li còn có tác dụng bổ thận, trừ thấp Trường hợp gan và thận suy nhược, lưng đau buốt, đái vặt không nín được, phụ nữ đới hạ. Lông cu li 16g, ngưu tất 12g, thỏ ty tử 12g, sơn thù du 12g, đỗ trọng 12g, thục địa 16g, cao ban long 12g. Cao ban long để riêng; sắc các vị khác lấy nước, hoà cao ban long vào để uống. Chữa thận hư, đau lưng, đi tiểu nhiều lần, bạch đới, di tinh Lông cu li 15g, thục địa 12g, đỗ trọng 10g, dây tơ hồng 8g, kim anh tử 8g.
Sắc uống trong ngày. Chữa phong thấp, đau nhức khớp xương, chân tay yếu mỏi hoặc bại liệt Lông cu li 15g, tục đoạn 12g, bổ cốt toái 12g, bạch chỉ 4g, đương quy 10g, xuyên khung 4g. Những nghiên cứu hóa học cây lông cu li ở nước ngoài Theo các tác giả đã nghiên cứu trên đối tượng Cibotium Barometz và đã công bố cho hấy các lớp chất chủ yếu có trong cây lông cu li gồm các axit béo, các hợp chất phenolnic tan trong nước, steroit, secquitecpen và các glycozit và các nhóm chất khác. Các axit béo được các nhà khoa học tìm thấy ở cây Lông cu li Người ta đã tìm thấy nhiều axít béo có trong thành phần hóa học của cây lông cu li, phổ biến hơn cả là axit palmitic, axit oleic, axit linoleic, axit stearic, este của axit palmitic, este của axit stearic [5][7] Axit palmitic C16H32O2 (hay CH3(CH2)14COOH), điểm nóng chảy 62,9°C.
Hexadecanoic 10 Axít oleic là một axít béo có một nối đôi (hay axit béo omega-9); Công thức: C18H34O2 (hay CH3(CH2)7CH=CH(CH2)7COOH). Tên khoa học là axít cis-9 octadecenoic, và tên ngắn gọn là 18:1 cis-9. Nhiệt độ nóng chảy: 130-1400C; Nhiệt độ sôi: 3600C (760mm Hg). Axít cis-9-octadecenoic Axit linoleic gồm có: (3) Axit alpha-linolenic (omega-3) tên IUPAC axit 9,12,15-octadecatrienoic (tất cả dạng cis) hay 18:3(n-3); (4) Axit béo omega-6 tên IUPAC axit 9,12-octadecadienoic (tất cả dạng cis).
OH Axit béo omega-9 Este metylpalmitat có công thức phân tử CH3(CH2)14COOCH3. O Este metylpalmitat Este etylstearat có công thức phân tử C17H35COOC2H5, công thức cấu tạo. Este etylstearat 11 Năm 2003 Cheng QH cùng các đồng nghiệp đã phân lập được hợp chất 1mono-panmitin của glyxerol có công thức phân tử C19H38O4, từ cây lông cu li.