Luận Văn Thạc Sĩ: Chiết Tách Và Xác Định Thành Phần Hóa Học Từ Lông Cu Li Cibotium Barometz Ở Đà Lạt

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu chiết tách và xác định thành phần hóa học từ dịch chiết lông cu li Cibotium barometz L tại Đà Lạt, ứng dụng trong y học và dược liệu.

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Hóa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2018

76
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Đặc điểm thực vật của cây lông cu li

1.2. Mô tả thực vật

1.3. Sự phân bố trên thế giới và Việt Nam

1.4. Giá trị sử dụng của cây lông cu li

1.4.1. Những nghiên cứu ứng dụng lông cu li trên thế giới

1.4.2. Các axit béo được các nhà khoa học tìm thấy ở cây Lông cu li

1.4.3. Các hợp chất phenol và flavonoit tan trong nước

1.4.4. Các hợp chất sesquitecpen

1.4.5. Các chất béo phức tạp

1.4.6. Các hợp chất khác

2. CHƯƠNG 2: NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Nguyên liệu, hóa chất, thiết bị nghiên cứu, sơ đồ nghiên cứu

2.2. Một số thiết bị nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Khảo sát hàm lượng nhóm chức trong nguyên liệu bằng phương pháp chưng ninh trực tiếp với dung môi

2.3.2. Định tính một số nhóm chức trong dịch chiết của 4 dung môi

2.3.3. Chiết chưng ninh nguyên liệu bằng Ethanol và chiết phân bố với các dung môi n-Hexan, Benzen, Diclometan và Ethyacetat

2.3.4. Phương pháp quang phổ hấp thụ phân tử UV-VIS

2.3.5. Phương pháp sắc kí khí phối hợp khối phổ (GC-MS)

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Kết quả khảo sát hàm lượng các nhóm chức có trong nguyên liệu bằng phương pháp chưng ninh trực tiếp và định tính

3.2. Kết quả định tính một số nhóm chức trong các dịch chiết n–hexane, diclomethane, benzene, ethyl acetate

3.3. Kết quả định tính các nhóm chức trong dịch chiết n–Hexane

3.4. Kết quả định tính các nhóm chức trong dịch chiết Diclomethane

3.5. Kết quả định tính một số nhóm chức trong dịch chiết Benzene

3.6. Kết quả định tính các nhóm chức trong dịch chiết Ethyl acetat

3.7. Khảo sát hàm lượng các nhóm chức qua phổ uv-vis

3.7.1. Phổ đồ UV-VIS của dịch chiết Ethanol

3.7.2. Khảo sát độ hấp thụ quang các dịch chiết ở bước sóng 425nm

3.8. Kết quả chiết tách các hợp chất trong nguyên liệu bằng phương pháp chiết chưng ninh và chiết phân bố

3.8.1. Kết quả chiết chưng ninh nguyên liệu bằng dung môi Ethanol

3.8.2. Kết quả chiết phân bố cao ethanol bằng dung môi n – hexane

3.8.3. Kết quả chiết phân bố cao ethanol bằng dung môi benzen

3.8.4. Kết quả chiết phân bố cao ethanol bằng dung môi dichlomethan

3.8.5. Kết quả chiết phân bố cao ethanol bằng dung môi ethyl acetat

3.9. Kết quả xác định thành phần hóa học trong các dịch chiết phân bố từ cao ethanol bằng phương pháp GC-MS

3.9.1. Kết quả định danh thành phần hóa học trong dịch chiết n-Hexane

3.9.2. Kết quả định danh thành phần hóa học trong dịch chiết Benzene

3.9.3. Kết quả định danh thành phần hóa học trong dịch chiết Dichlomethane

3.9.4. Kết quả định danh thành phần hóa học trong dịch chiết Ethyl acetate

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Chiết tách và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tập trung vào việc chiết tách các hợp chất từ lông cu li Cibotium Barometz tại Đà Lạt bằng các phương pháp hóa học hiện đại. Quá trình chiết tách được thực hiện thông qua phương pháp chưng ninh với Ethanol và phân bố bằng các dung môi như n-Hexane, Benzene, Dichlomethane, và Ethyl acetate. Các phương pháp phân tích hóa học như GC-MS được sử dụng để xác định thành phần hóa học của các dịch chiết. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp dữ liệu khoa học về Cibotium Barometz mà còn mở ra hướng ứng dụng trong lĩnh vực dược liệuthảo dược.

1.1. Phương pháp chiết tách

Phương pháp chiết tách được thực hiện qua hai giai đoạn chính: chưng ninh với Ethanol và phân bố bằng các dung môi hữu cơ. Quá trình này giúp tách các hợp chất tự nhiên từ lông cu li một cách hiệu quả, đảm bảo độ tinh khiết cao cho các phân tích tiếp theo.

1.2. Phân tích hóa học

Các dịch chiết được phân tích bằng phương pháp GC-MS để xác định thành phần hóa học. Kết quả cho thấy sự hiện diện của nhiều hợp chất tự nhiên có giá trị trong dược liệu, bao gồm các axit béo, phenol, và flavonoid.

II. Thành phần hóa học và ứng dụng

Nghiên cứu đã xác định được nhiều thành phần hóa học quan trọng trong lông cu li Cibotium Barometz, bao gồm các hợp chất như axit protocatechuic, kaempferol, và onychin. Các hợp chất này có tiềm năng lớn trong việc phát triển các sản phẩm dược liệuthảo dược, đặc biệt là trong điều trị các bệnh liên quan đến viêm, loãng xương, và ung thư. Nghiên cứu này góp phần làm phong phú thêm kiến thức về thực vật họchóa học thực vật, đồng thời mở ra hướng ứng dụng mới trong y học hiện đại.

2.1. Hợp chất tự nhiên

Các hợp chất tự nhiên được tìm thấy trong lông cu li bao gồm axit béo, phenol, và flavonoid. Những hợp chất này có hoạt tính sinh học cao, đặc biệt là khả năng chống oxy hóa và chống viêm, mang lại tiềm năng lớn trong việc phát triển các sản phẩm dược liệu.

2.2. Ứng dụng trong y học

Các hợp chất từ lông cu li đã được chứng minh có hiệu quả trong điều trị loãng xương, viêm khớp, và một số bệnh ung thư. Nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học cho việc phát triển các loại thuốc mới từ thảo dược, góp phần hiện đại hóa y học cổ truyền.

III. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp thông tin khoa học về thành phần hóa học của lông cu li Cibotium Barometz. Kết quả nghiên cứu không chỉ làm phong phú thêm kiến thức về thực vật họchóa học thực vật mà còn mở ra hướng ứng dụng mới trong lĩnh vực dược liệuthảo dược. Nghiên cứu cũng góp phần bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc tại Đà Lạt, một khu vực có hệ thực vật phong phú và đa dạng.

3.1. Đóng góp khoa học

Nghiên cứu đã cung cấp dữ liệu chi tiết về thành phần hóa học của lông cu li, góp phần làm phong phú thêm kiến thức về thực vật họchóa học thực vật. Đây là nền tảng quan trọng cho các nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực này.

3.2. Ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu có thể được ứng dụng trong việc phát triển các sản phẩm dược liệuthảo dược, đặc biệt là trong điều trị các bệnh liên quan đến viêm, loãng xương, và ung thư. Nghiên cứu cũng góp phần bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc tại Đà Lạt.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Đặc điểm thực vật của cây lông cu li Hình 1. Tiêu bản cây Lông cu li 1. Tên gọi Cây Lông cu li (cẩu tích), có tên khoa học là Cibotium Barometz (L) J.Sm thuộc họ lông cu ly Dicksoniaceae ngoài ra còn có các tên khác phụ thuộc vào vị trí địa lí và đồng bào địa phương gọi nó như: Cây kim mao cẩu tích, nhung nô, xích tiết, co cút pá (Tiếng Thái), cút báng (Tiếng Tày), cây lông khỉ, nhải cù viằng (Tiếng Dao).

Chi Cibotium Kaulfuss là một chi có 12 loài mọc hoang ở các vùng nhiệt đới châu Á, châu Mỹ. Ở nước ta chỉ có 1 loài đó là Cibotium Barometz [2][3]. Mô tả thực vật Cây Lông cu li có thân thường yếu, nhưng cũng có thể cao 2,5-3m. Lá lớn có cuống dài 1-2m, màu nâu, ở phía gốc có vẩy hình dải rất dài màu vàng và bóng phủ dày đặc.

Phiến dài tới 3m, rộng 600cm. Các lá lông chim ở phía dưới hình trái xoan ngọn giáo dài 30-60cm. Lá lông chim bậc hai hình dải - ngọn giáo, nhọn lại chia thành nhiều đoạn thuôn, hẹp; mặt trên lá màu lục sẫm, mặt dưới màu lục lơ; trục lá không lông; các gân của các lá chét bậc hai có lông len. Ở túi bào tử 1 hay 2, có khi 5 3 hay 4 ở về mỗi bên của gân giữa bậc 3; các túi màu nâu, có 2 môi không đều nhau; cái ở ngoài hình cầu, cái ở trong hẹp hơn, thuôn.

Thân và lá cây Lông cu li Thu hái và chế biến của các nhà thuốc Đông Y: Cây lông cu li có thể thu hái thân rễ quanh năm, tốt nhất vào mùa Thu – Đông. Khi thu hái về, đầu tiên cắt bỏ rễ con và cuống lá, cạo hết lông vàng để riêng. Rễ củ đã cạo hết lông, rửa sạch, thái phiến hay cắt từng đoạn dài 4-10mm, phơi, sấy khô, bảo quản nơi khô ráo. Khi dùng tẩm dược liệu với rượu để một đêm rồi sao vàng [3][4].

Sự phân bố trên thế giới và Việt Nam Cây Lông cu li là một loại thực vật được dùng làm dược liệu thuộc họ dương xỉ mọc nhiều ở Đông Nam Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Myanmar, Indonesia, Việt Nam và Nhật Bản [3]. Ở Việt Nam, cây Lông cu li được phân bố rất rộng rãi ở ven rừng tái sinh, sau nương rẫy và trên các tràng cây bụi hoặc nơi đất ẩm gần bờ khe suối, rừng núi ở khắp các tỉnh miền núi nước ta từ Lào Cai, Hà Giang (phía Bắc) đến qua Quảng Nam - Đà Nẵng, Lâm Đồng (miền Trung) và vùng núi tỉnh Tây Ninh, Phú Quốc, Côn Đảo (miền Nam). Giá trị sử dụng của cây lông cu li 1. Những nghiên cứu ứng dụng lông cu li trên thế giới Theo Y học truyền thống Trung Quốc dùng cây Lông cu li có tác dụng bổ gan và thận, tăng cường xương và gân, đau dây thần kinh tọa, phong hàn.

Do đó, nó thường được sử dụng như là thành phần chính với các thuốc thảo dược Trung Quốc ngâm rượu để uống bồi bổ cơ thể và điều trị bệnh như mỏi lưng, thấp khớp. Trong 6 các ứng dụng lâm sàng hiện đại ở Trung Quốc, cây cẩu tích được sử dụng để điều trị đau thắt lưng, chân tê liệt, liệt nửa người, xuất tinh sớm, xuất huyết ở phụ nữ và các loại khối u như u xương, u xương ác tính, u não, u đa tủy, chống viêm gan virus [14]. Năm 2009, Qi Wu, Xiu –Wei Yang nghiên cứu thành phần cấu tạo cây Lông cu li và thử lâm sàng trên người và kết luận onitin có độc tính thấp, an toàn khi uống, dễ được hấp thu qua đường tiêu hóa, có hoạt tính chống co thắt như papaverine, nhưng cơ chế hoạt động khác với papaverine. Onitin là một thuốc thử leishmanicidal mạnh [13].

Năm 2009, Nguyễn Xuân Cường và cộng sự đã nghiên cứu “Chất ức chế hình thành tế bào hủy xương từ thân rễ của Cibotium Barometz” kết quả có hai chất sau: M eO HO 6 '' O HO 2 4 '' 5 O 3 HO O OMe O 9 '' ' H O 3 '' 1 '' 1' 2 ''' OH 1 ''' O HO 4 ''' 6 ''' 7 ''' 3-[(4-O-caffeoyl-β-D-glucopyranosyloxy)methyl]-2,5-dimethoxy- 3hydroxytetrahydrofuran OH OH H OH O O OR HO OH R= 9Z,12Z-octadecadienoylglucosid (2S)-3-O-(9Z,12Z-octadecadienoyl)glyceryl- β-D-galactopyranoside 7 Hai chất trên có khả năng ức chế sự hình thành tế bào hủy xương và không có tác dụng gây độc tế bào tiền thân của tế bào hủy xương, do đó chất có tiềm năng lớn trong việc bào chế thuốc chống loãng xương ở người. Năm 2011, Xiong Zhao và đồng nghiệp đã tiến hành nghiên cứu khả năng chống loãng xương của dịch chiết cây cẩu tích trên chuột, kết quả cho thấy uống hàng ngày dịch chiết xuất từ cây Lông cu li đã góp phần đáng kể để phòng ngừa hoặc điều trị của sự phát triển mất xương gây ra bởi sự cắt bỏ buồng trứng ở chuột. Dịch chiết xuất từ cây Lông cu li có thể ngăn chặn sự mất mát khối lượng xương và sự suy giảm của vi kiến trúc trabecular OVX gây ra, do đó duy trì sự toàn vẹn về cấu trúc và chất lượng cơ sinh học của xương. Dịch chiết xuất từ cây Lông cu li có thể là một thuốc thay thế tiềm năng để phòng ngừa và điều trị loãng xương sau mãn kinh [16].

Năm 2011, Xican Li và các cộng sự nghiên cứu hoạt động chống oxi hóa của axit Protocatechuic được chiết từ cây Lông cu li và kết luận, axit protocatechuic được chứng minh là hiệu quả hơn nhiều so với trolox trong việc đánh giá hoạt động của chất chống oxy hóa trong ống nghiệm của lipid và các phương pháp truyền dung dịch nước, do đó nó có thể được sử dụng trong ngành công nghiệp dược hoặc thực phẩm như chất chống oxy hóa tự nhiên [15][16]. Năm 2011, Chih-Chun Wen và các cộng sự đã nghiên cứu hoạt tính ức chế SARS-CoV và nhận thấy rằng hai hợp chất chiết xuất từ cây Lông cu li có hoạt tính ức chế SARS-CoV ở nồng độ từ 25 đến 200 mg/ml và ức chế đáng kể sự hoạt động của protease 3CL SARS-CoV với IC50 giá trị là 39 mg/ml và 44 mg/ml [6]. Năm 2011, Jiewen Zhang và các đồng nghiệp nghiên cứu hoạt tính của các hợp Perosin là một nhóm lớn thuộc Secquitecpen có trong cây Lông cu li và nhận thấy chúng có các hoạt tính chống tiểu đường Type 1, Type 2, chống béo phì [9]. Năm 2012, Wenqiong Mai và các đồng nghiệp đã nghiên cứu thân cây lông cu li và nhận thấy thân cây Lông cu li chủ yếu chứa axit béo (ví dụ như axit oleic, acid palmitic, và axit octadecaonic), acid phenolic (ví dụ như axit caffeic, axit 8 protocatechuic).

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, axit palmitic có tác dụng chống viêm và axit octadecaonic có thể làm giảm mỡ máu, axit phenolic tan trong nước như axit caffeic và axit protocatechuic này là thành phần hoạt động chống viêm khớp dạng thấp và viêm xương khớp. Flavonoids như kaempferol và onychin có hoạt tính chống oxy hóa và các hiệu ứng chống ung thư [14]. Năm 2012, Nova Syafni và các đồng nghiệp đã phân lập được hai hợp chất là: axit 3,4-dihydroxybenzoic (1) and 3,4-dihydroxybenzaldehyde, ông và các cộng sự đã nghiên cứu hoạt tính chống oxi hóa của hai chất này và nhận thấy chúng có hoạt tính chống oxi hóa mạnh, chúng tham gia vào quá trình đào thải các gốc tự do do quá trình đồng hóa, dị hóa trong cơ thể gây ra [10][12]. Một số bài thuốc của cây Lông cu li được dùng ở Việt Nam Theo y học cổ truyền Việt Nam cây lông cu li có vị đắng ngọt, tính ấm, có tác dụng bổ can thận, mạnh gân cốt, trừ phong thấp, chống viêm.

Lông vàng tác dụng cầm máu dùng dịt vào vết thương. Dùng chữa phong hàn, tê thấp, đau lưng nhức mỏi, chứng tiểu tiện són không cầm, di tinh, bạch đới, đau dây thần kinh tọa. Liều dùng: 12g - 20g, dùng với các vị thuốc khác [4]. Bài thuốc chữa phong thấp, tê bì chân tay không muốn cử động Lông cu li 20g, Ngưu tất 8g, Mộc qua 12g, Tang chi 8g, Tùng tiết 4g, Tục đoạn 8g, Đỗ trọng 8g, Tầm giao 12g, Quế chi 4g, đun với 600ml nước chia hai lần uống trong một ngày [1].

Rượu bổ thận tráng dương Lông cu li 18g, đỗ trọng 15g, tục đoạn 15g, uy linh tiên 15g, ngưu tất 15g, ngũ gia bì 15g, rượu 30 độ 1000ml. Ngâm 7 ngày, ép chiết lấy nước. Mỗi lần uống 20ml, ngày 2 lần: sáng, chiều. Dùng cho các bệnh chứng phong thấp, đau mỏi lưng gối.

9 Lông cu li còn có tác dụng bổ thận, trừ thấp Trường hợp gan và thận suy nhược, lưng đau buốt, đái vặt không nín được, phụ nữ đới hạ. Lông cu li 16g, ngưu tất 12g, thỏ ty tử 12g, sơn thù du 12g, đỗ trọng 12g, thục địa 16g, cao ban long 12g. Cao ban long để riêng; sắc các vị khác lấy nước, hoà cao ban long vào để uống. Chữa thận hư, đau lưng, đi tiểu nhiều lần, bạch đới, di tinh Lông cu li 15g, thục địa 12g, đỗ trọng 10g, dây tơ hồng 8g, kim anh tử 8g.

Sắc uống trong ngày. Chữa phong thấp, đau nhức khớp xương, chân tay yếu mỏi hoặc bại liệt Lông cu li 15g, tục đoạn 12g, bổ cốt toái 12g, bạch chỉ 4g, đương quy 10g, xuyên khung 4g. Những nghiên cứu hóa học cây lông cu li ở nước ngoài Theo các tác giả đã nghiên cứu trên đối tượng Cibotium Barometz và đã công bố cho hấy các lớp chất chủ yếu có trong cây lông cu li gồm các axit béo, các hợp chất phenolnic tan trong nước, steroit, secquitecpen và các glycozit và các nhóm chất khác. Các axit béo được các nhà khoa học tìm thấy ở cây Lông cu li Người ta đã tìm thấy nhiều axít béo có trong thành phần hóa học của cây lông cu li, phổ biến hơn cả là axit palmitic, axit oleic, axit linoleic, axit stearic, este của axit palmitic, este của axit stearic [5][7] Axit palmitic C16H32O2 (hay CH3(CH2)14COOH), điểm nóng chảy 62,9°C.

Hexadecanoic 10 Axít oleic là một axít béo có một nối đôi (hay axit béo omega-9); Công thức: C18H34O2 (hay CH3(CH2)7CH=CH(CH2)7COOH). Tên khoa học là axít cis-9 octadecenoic, và tên ngắn gọn là 18:1 cis-9. Nhiệt độ nóng chảy: 130-1400C; Nhiệt độ sôi: 3600C (760mm Hg). Axít cis-9-octadecenoic Axit linoleic gồm có: (3) Axit alpha-linolenic (omega-3) tên IUPAC axit 9,12,15-octadecatrienoic (tất cả dạng cis) hay 18:3(n-3); (4) Axit béo omega-6 tên IUPAC axit 9,12-octadecadienoic (tất cả dạng cis).

OH Axit béo omega-9 Este metylpalmitat có công thức phân tử CH3(CH2)14COOCH3. O Este metylpalmitat Este etylstearat có công thức phân tử C17H35COOC2H5, công thức cấu tạo. Este etylstearat 11 Năm 2003 Cheng QH cùng các đồng nghiệp đã phân lập được hợp chất 1mono-panmitin của glyxerol có công thức phân tử C19H38O4, từ cây lông cu li.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu chiết tách và xác định thành phần hóa học từ lông cu li Cibotium Barometz tại Đà Lạt là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc phân tích và xác định các hợp chất hóa học có trong lông cu li, một loài thực vật quý hiếm tại Đà Lạt. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn chi tiết về thành phần hóa học của loài thực vật này mà còn mở ra tiềm năng ứng dụng trong y học và dược phẩm. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu, sinh viên và những người quan tâm đến lĩnh vực hóa học thực vật.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp chiết tách và thành phần hóa học của thực vật, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ khoa học khảo sát qui trình chiết tách ent kauran diterpenoid từ lá cây khổ sâm bắc bộ, nghiên cứu này cung cấp quy trình chi tiết về chiết tách các hợp chất từ thực vật. Ngoài ra, Luận án nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học loài vitex limonifolia wall ex c b clark và vitex trifolia l sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa thành phần hóa học và hoạt tính sinh học. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ kỹ thuật hóa học góp phần nghiên cứu thành phần hóa học rễ cây bá bệnh eurycoma longifolia jack là một tài liệu tham khảo tuyệt vời để khám phá sâu hơn về các hợp chất hóa học trong thực vật.

Hãy khám phá các tài liệu này để có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực hóa học thực vật và ứng dụng của chúng!