MỞ ĐẦU Ngày nay, cùng với công cuộc phát triển kinh tế thì việc chăm sóc sức khoẻ ban đầu và bảo vệ sức khoẻ cộng đồng trở nên cấp thiết đối với mọi quốc gia trên thế giới. Do đó, nhu cầu về sử dụng thuốc để phòng ngừa và chữa trị những căn bệnh nan y ngày càng cao. Một trong những hƣớng nghiên cứu để giải quyết vấn đề này là tìm kiếm các hoạt chất có nguồn gốc từ thiên nhiên. Trên thế giới, các nhà khoa học đã tìm ra nhiều loại thuốc mới từ thực vật có hoạt tính mạnh và đƣợc sử dụng rộng rãi trong việc điều trị bệnh.
Việc nghiên cứu thành phần hoá học và khảo sát hoạt tính sinh học không những giúp sử dụng các cây thuốc một cách hiệu quả, mà trên cơ sở đó chúng ta có thể tiến hành tổng hợp hoặc bán tổng hợp các hoạt chất mới có hoạt tính cao hơn và ít tác dụng phụ hơn trong điều trị. Trong những năm gần đây, rất nhiều công trình nghiên cứu về cây thuốc của hệ thực vật Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng vào việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cộng đồng. Mô hình nghiên cứu tách chiết và phân lập hoạt chất định hƣớng bằng các phép thử sinh học nhằm tìm kiếm những chất có hoạt tính là mô hình nghiên cứu tiên tiến, có tính định hƣớng cao, nhằm làm sáng tỏ bản chất khoa học của nguồn tài nguyên thiên nhiên và góp phần đƣa nhanh các kết quả nghiên cứu vào áp dụng thực tiễn. Chi Máu chó (Knema) thƣờng đƣợc tìm thấy ở các nƣớc nhiệt đới nhƣ châu Á, châu Phi và Châu Úc.
Một số loài thuộc chi Knema đã đƣợc sử dụng trong y học, hạt đƣợc sử dụng trong y học cổ truyền để điều trị bệnh liên quan đến da hoặc miệng và đau họng [5]. Chi Knema có đặc trƣng là nhựa đỏ nhƣ máu nên đƣợc gọi tên là chi Máu chó. Các nghiên cứu trƣớc đây cho thấy, chi Knema chứa các lớp chất nhƣ: acetophenone, stilbene, lignan, flavonoid, resorcinol và dẫn xuất phenylalkylphenol. Các loài thuộc chi này thể hiện nhiều hoạt tính đáng quan tâm nhƣ: kháng khuẩn, chống ung thƣ, độc tính tế bào, và ức chế enzyme acetylcholinesterase [5].
Tuy nhiên nghiên cứu về các loài thuộc chi này vẫn còn nhiều hạn chế. Ở Việt Nam, hầu hết các loài thuộc chi Máu chó chƣa đƣợc nghiên cứu, ví dụ nhƣ loài: Máu chó trái dày (Knema pachycarpa), Máu chó đá (Knema 1 luan an saxatilis).Trong quá trình sàng lọc hoạt tính các loài thực vật ở Việt Nam để tìm kiếm các hoạt chất sinh học, chúng tôi phát hiện một số loài thuộc chi Knema thể hiện hoạt tính gây độc tế bào và ức chế enzyme acetylcholinesterase cụ thể nhƣ sau: Dịch chiết ethyl acetate quả loài Máu chó trái dày (Knema pachycarpa) thể hiện khả năng ức chế enzyme acetylcholinesterase 100% ở nồng độ 10 μg/ml và ức chế 44% tế bào ung thƣ biểu mô (KB) ở nồng độ 1 μg/ml. Dịch chiết ethyl acetate từ lá, thân cành và quả loài Máu chó đá (Knema saxatilis) có tác dụng ức chế 100% sự phát triển của dòng tế bào ung thƣ tuyến thƣợng thận (SW13) ở nồng độ 5 µg/ml [1]. Nhằm mục đích nghiên cứu làm rõ thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của chi Knema ở Việt Nam, chúng tôi lựa chọn đề tài: ―Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học cây máu chó trái dày (Knema pachycarpa) và cây máu chó đá (Knema saxatilis)‖.
Mục tiêu của luận án: Nghiên cứu để làm rõ thành phần hoá học chủ yếu của cây máu chó trái dày (Knema pachycarpa) và cây máu chó đá (Knema saxatilis). Đánh giá hoạt tính ức chế enzyme acetylcholinesterase và hoạt tính gây độc tế bào của các hợp chất phân lập đƣợc để tìm kiếm một số chất có hoạt tính, làm cơ sở khoa học cho những nghiên cứu tiếp theo. Nội dung luận án bao gồm: 1. Phân lập các hợp chất từ 2 loài: Máu chó trái dày (Knema pachycarpa), Máu chó đá (Knema saxatilis) bằng các phƣơng pháp sắc ký.
Xác định cấu trúc hoá học các hợp chất phân lập đƣợc bằng các phƣơng pháp vật lý và hóa học. Đánh giá hoạt tính ức chế enzyme acetylcholinesterase của các hợp chất phân lập đƣợc 4. Đánh giá hoạt tính gây độc tế bào của các hợp chất phân lập đƣợc. 2 luan an CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Giới thiệu về chi Máu chó (Knema) 1. Đặc điểm thực vật của chi Máu chó (Knema) Chi Knema (Máu chó) là chi lớn thuộc họ Myristicaceae. Chi này đƣợc phân bố khắp nơi trên thế giới và nhiều nhất tại Ấn Độ, Malaysia, Trung Quốc, Việt Nam. Chi Knema có khoảng hơn 60 loài ở Đông Nam Á [5], Ở Việt Nam chi Knema gồm 14 loài [2, 3]: Knema erratica Sincl.
(Máu chó lƣu linh) Knema globularia Warb. (Máu chó cầu) Knema elegans Warb. (Máu chó thanh) Knema lenta Warb. (Máu chó thấu kính) Knema mixta de Wilde.
(Máu chó trộn) Knema pachycarpa de Wilde. (Máu chó trái dày) Knema petelotii Merr. (Máu chó Petelot) Knema pierrei Warb. (Máu chó Pierre) Knema poilanei de Wilde.
(Máu chó Poilane) Knema saxatilis de Wilde. (Máu chó đá) Knema sessiliflora de Wilde. (Máu chó hoa không cọng) Knema squamulosa de Wilde. (Máu chó vảy nhỏ) Knema tonkinensis de Wilde.
Knema corticosa Lour. (Máu chó) Mô tả thực vật: Cây to cao có thể tới hơn 10 m. Cành non có lông tơ màu hung đỏ. Lá mọc so le, có cuống, mặt trên bóng.
Hoa khác gốc, có lông mịn màu nâu nhạt. Quả hình trứng hay hình cầu, khi chín thì nhẵn, vỏ quả mỏng. Hạt có vỏ mỏng và nhẵn. Phân bố, thu hái và chế biến: Cây máu chó mọc hoang ở khắp miền rừng núi các tỉnh miền Bắc, miền Trung và miền Nam.
Vào tháng 9-10 ngƣời ta thu hoạch hạt. Quả máu chó khi còn non có màu xanh, lúc già có màu vàng, để lâu vỏ nứt làm 3 luan an 2 mảnh, phía trong có hạt. Ngƣời ta dùng nguyên cả hạt máu chó hay ép lấy dầu dùng [3]. Knema poilanei Knema mixta de wilde Hình 1.
Hình ảnh của một số loài thuộc chi Knema [1] 1. Một số loài máu chó đã đƣợc sử dụng trong y học cổ truyền các nƣớc Đông Nam Á. Ở Việt Nam: Hạt máu chó (K.) đƣợc nhân dân ta dùng làm chữa ghẻ. Trƣớc đây làng Tiên Hội (Bắc Ninh) sản xuất một loại thuốc ghẻ nổi tiếng gọi là thuốc ghẻ Tiên Hội [3].
Hạt máu chó lá nhỏ (Knema globularia Warb.) thƣờng dùng để chữa ghẻ, ngứa, hắc lào. Dầu hạt máu chó lƣu linh (Knema erratica Sincl. Tại Thái Lan: Vỏ thân cây K. furfuraceae đƣợc sử dụng để điều trị viêm loét, mụn nhọt và bệnh ung thƣ.
Vỏ thân cây K. globularia đƣợc dùng làm thuốc bổ máu, dầu hạt dùng để chữa bệnh ngoài da [5]. Ở Indonesia, Malaysia, Singapore: Lá loài K. đƣợc sử dụng trong điều trị bệnh dạ dày [5].
Ngoài ra ở Malaysia: Loài K. laurina Warb, đƣợc sử dụng để điều trị bệnh tiêu hóa và sử dụng với công dụng kháng viêm [5]. Các nghiên cứu về thành phần hóa học của chi Knema 1. Nghiên cứu trong nƣớc Trong cuốn ―Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam‖, Giáo sƣ Đỗ Tất Lợi có đề cập sơ lƣợc về thành phần hóa học của loài K.: Trong hạt máu chó (K.) có 7-10% độ ẩm, 1,5-2% chất vô cơ, 24-28% chất béo, 8% prôtit, 4-5% chất đƣờng, 22-26% tinh bột, ngoài ra còn xenluloza và một số chất khác.
Dầu máu chó có màu đỏ sẫm, mùi hắc, rất nhầy, tỷ trọng ở 26oC là 0,94, chỉ số khúc xạ ở 26oC là 1,483, chỉ số axít là 90,2, chỉ số xà phòng là 196,1, chỉ số Iốt 59,55, phần không xà phòng hóa đƣợc là 1,14%, Trong phần không xà phòng hóa đƣợc có phytosterol và lecxitin [3]. Ngoài ra hầu nhƣ chƣa có nghiên cứu nào về thành phần hóa học về chi Knema đƣợc báo cáo. Nghiên cứu trên thế giới Các nghiên cứu từ năm 1978 cho đến nay cho thấy có 12 loài thuộc chi Knema đã đƣợc nghiên cứu về thành phần hóa học, bao gồm: K. Các lớp chất đƣợc tìm thấy trong chi này bao gồm resorcinol, anacardic acid, cardanol, acetophenone, stilbene, lignan, flavonoid, và một số hợp chất khác [5].
Các hợp chất resorcinol Các hợp chất resorcinol đƣợc tìm thấy ở các loài: K. austrosiamensis de Wilde. Nghiên cứu đầu tiên đƣợc tiến hành từ năm 1980, khi các nhà khoa học Mỹ xác định thành phần hóa học từ dầu hạt loài K. Qua nghiên cứu các nhà khoa học đã xác định đƣợc 10 hợp chất thuộc nhóm alkyl resorcinol (15-24) [6].
Những năm tiếp theo nhóm acyl resorcinol đƣợc tìm thấy ở các loài: thân loài K. austrosiamensis de Wilde ở Thái Lan năm 1996 [7], lá loài K. furfuraceae Warb ở Malaysia năm 1993 [8]; quả, thân và lá loài K. glauca Warb ở Thái Lan năm 2009 [9].
Lớp chất resorcinol là một trong những lớp chất chính của 5 luan an chi Knema, thƣờng đƣợc tìm thấy ở quả, thân các loài thuộc chi Knema dƣới dạng dầu. Lớp chất resorcinol cũng đƣợc tìm thấy với hàm lƣợng lớn trong vỏ hạt điều [10]. Cho đến nay, có 24 hợp chất resorcinol (1-24) trong đó có 14 hợp chất acyl resorcinol và 10 hợp chất alkyl resorcinol đƣợc công bố từ chi Knema (xem bảng 1. Các hợp chất resorcinol từ chi Knema Acyl resorcinol KH Tên chất Loài TLTK 1-(2,6-Dihydroxyphenyl) K.
austrosiamensis de Wilde. austrosiamensis de Wilde. 7 oxotetradecyl)benzene 1,3-Dihydroxy-2-(1'- 3 K. austrosiamensis de Wilde.
austrosiamensis de Wilde 7, 11 4 Dodecanoylphloroglucinol K. austrosiamensis de Wilde. 7 oxodecyl)benzene 1,3,5-Trihydroxy-2-(1'- 6 K. austrosiamensis de Wilde., austrosiamensis de Wilde.
austrosiamensis de Wilde. 11 phenylnonan-l-one 9 Knerachelin A K. austrosiamensis de Wilde 7 tetradecan-1-one (7) (Z)-1-(2,4,6- 14 Trihydroxyphenyl)tetradecen-l- K. austrosiamensis de Wilde 7 one 6 luan an Alkyl resorcinol 15 5-Undecylresorcinol K.
6 enyl)benzene 1,3-Dihydroxy-5-(pentadec-10Z- 19 K. 6 enyl)benzene 1,3-Dihydroxy-5-(heptadec-10Z- 20 K. 6 enyl)benzene 1,3-Dihydroxy-5-(heptadec-12Z- 21 K. 7 enyl)benzene Các hợp chất acyl resorcinol Các hợp chất alkyl resorcinol Hình 1.
Cấu trúc các hợp chất resorcinol từ chi Knema 7 luan an 1. Các hợp chất anacardic acid Nhóm chất anacardic acid xuất hiện khá phổ biến trong chi Knema, cho đến nay có 17 dẫn chất anacardic acid đƣợc phân lập từ 7 loài thuộc chi Knema (xem Bảng 1. Cùng với lớp chất resorcinol có trong dầu hạt loài K. elegans Warb, các nhà khoa học Mỹ còn phát hiện ra các dẫn chất của anacardic acid [6].
Năm 2011 các nhà khoa học Malaysia khi nghiên cứu vỏ thân loài K. laurina đã phát hiện ra nhóm anacardic acid là nhóm chất có khả năng ức chế ức chế tốt enzyme acetylcholinesterase, một enzyme có liên quan đến việc điều trị bệnh Alzheimer [13]. Lớp chất này còn đƣợc tìm thấy trong loài Ginkgo biloba (họ Bạch quả) [14], loài đƣợc sử dụng rộng rãi làm thực phẩm chức năng hỗ trợ trí não. Các hợp chất anacardic acid từ chi Knema KH Tên chất Loài TLTK 2-Hydroxy-6-(8Z-pentadecenyl)- K.
13 enyl)benzoic acid 2-Hydroxy-6-(10'(Z)- 27 K. 13 heptadecenyl)benzoic acid 2-Hydroxy-6-(12'(Z)- 28 K.