Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở khoa học của nghiên cứu giá thể Giá thể là loại có khả năng giữ nước tương đương với độ thoáng khí. Khả năng giữ nước và độ thoáng khí của giá thể được quyết định bởi những khoảng trống (khe, kẽ) trong nó.
Trong cát mịn có những khoảng trống rất nhỏ, không chứa được nhiều nước và oxi. Ngược lại sỏi thô tạo ra những khoảng trống khá lớn, nhiều không khí nhưng mất nước nhanh T. Giá thể có những đặc điểm giữ nước cũng như thoáng khí, có pH trung tính và có khả năng ổn định pH, thấm nước dễ dàng, bền và có khả năng tái sử dụng hoặc phân hủy ngoài môi trường, nhẹ và rẻ rất thông dụng. Giá thể thì có nhiều loại như xơ dừa, trấu hun, mùn cưa, cát, sỏi vụn (cỡ hạt đậu), đá trân châu,… có thể dùng đơn lẻ hoặc trộn lại để tận dụng ưu điểm từng loại.
Vì vậy, trồng cây trong giá thể, dinh dưỡng được cung cấp cho cây thông qua phân bón trộn trong giá thể và bón thúc. Giá thể được để trong những khay chậu. Giá thể là khái niệm dùng để chỉ tất cả các vật chất bao quanh bộ rễ của cây trồng. Việc sử dụng các giá thể phù hợp có ý nghĩa đặc biệt đối với cây trồng.
Giá thể được sử dụng hiện nay gồm: Than củi, gạch nung, rêu, xơ dừa, rễ bèo tây, vỏ cây, rễ dương xỉ, trấu hun, sỏi, đất, bã nấm., * Mùn xơ dừa: là giá thể tơi xốp, thoáng khí, dễ thấm nước, giữ ẩm cao, không mang mầm bệnh, chứa nhiều vi sinh vật có lợi cho đất, rẻ tiền, dễ kiếm. Tuy nhiên cũng có nhược điểm thoát nước nhanh, chóng mục, vì vậy dễ bị sâu bệnh. * Trấu hun: rẻ, dễ làm, thoát nước, nhẹ dễ vận chuyển, cung cấp chất khoáng, làm cứng cây. Tuy nhiên không có chất hữu cơ, kém dinh dưỡng, hấp thụ nhiệt mạnh nên chỉ dùng cho giâm cây bằng hom và trồng cây giai đoạn đầu.
Đất không phải là môi trường tốt cho cây con, cho thêm cát hoặc cát + than bùn sẽ tạo ra một hỗn hợp rất tốt. Nhiều nơi đã và đang phát triển những hỗn hợp đặc biệt mà có thể được sử dụng. Những hỗn hợp này không sử dụng đất ruộng khi 4 đất ruộng bị ô nhiễm do sâu bệnh và do hoá chất. Sự khác nhau của môi trường nhân tạo được thể hiện như sau: Bunt (1965) [16] sử dụng hỗn hợp cho gieo hạt (theo thể tích 1 than bùn rêu nước + 1 cát +2,4kg/m 3 đá vôi nghiền và hỗn hợp trồng cây 3 than bùn rêu nước + 1 cát + 1,8kg/m3 đá vôi nghiền đều cho thấy cây con mập và khoẻ.
Masstallerz (1977) [19] cho biết ở Mỹ đưa ra công thức phối trộn (tính theo thể tích) thành phần hỗn hợp bầu bao gồm sét và mùn cát sét và mùn cát có tỷ lệ 1:2:2; 1:1:1 hay 1:2:0 đều cho hiệu quả. Trung Tâm Nghiên cứu phát triển rau châu Á (AVRDC)(1992) [17] khuyến cáo việc sử dụng rêu than bùn hoặc chất khoáng được coi như môi trường tốt cho cây con. Theo Northen (1974) [22] cho rằng, việc cấy cây phong lan con lấy ra từ ống nghiệm nên dùng 3 phần vỏ cây thông xay nhuyễn + 1 phần cát hoặc 8 phần Osmida xay nhuyễn + 1 phần than vụn. Giá thể này cho tỷ lệ sống của cây lan con cao và cây sinh trưởng phát triển tốt.
Có nhiều công trình nghiên cứu về thành phần của giá thể ảnh hưởng đến chất lượng cây trồng. Tuỳ từng loại cây khác nhau mà giá thể có thành phần khác nhau.Tác giả Phạm Thị Kim Thu và Đặng Thị Vân (1997) [14] cho biết nền đất + phân hữu cơ + cát đen tỷ lệ là 1:1:1 có phủ một lớp cát đen 2 cm lên trên là tốt nhất khi đưa chuối nuôi cấy mô ra vườn ươm. Đối với cây con được gieo từ hạt khả năng thích ứng với môi trường là cao hơn với cấy In vitro nhưng thời kỳ cây con ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển năng suất của cây sau này. Vì vậy, việc xác định giá thể và hàm lượng chất khoáng cho cây con trong bầu cũng rất quan trọng.Tác giả Trần Khắc Thi (1980) [13] cho biết để trồng cây dựa trên diện tích dành cho cây vụ Đông, dùng bầu đất để gieo cây con với thành phần vật liệu gồm: 60% mùn trấu hoặc rơm đã mục + 20% bùn + 15% phân bắc mục và 5% cát (Tỷ lệ 3: 1: 0,75: 0,25).
Có thể trộn thêm phân hoá học với số lượng 1m3 hỗn hợp rắc 0,5kg đạm Sulfat và lân +1,5kg Kali. Kết quả cho thấy gieo bầu đảm bảo mật độ cây (do tỷ lệ cây sống cao); chất lượng cây con tốt hơn, tranh thủ được thời gian gieo sớm hơn từ 10-20 ngày; mỗi ha tiết kiệm được 120 - 150 công giảm nhẹ công gieo và tưới nước. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu chất kích thích sinh trưởng * Tình hình nghiên cứu về chất kích thích sinh trưởng trong sản xuất hoa Các chất điều tiết sinh trưởng có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh quá trình sinh trưởng, phát triển và các hoạt động sinh lý của cây trồng. Căn cứ vào hoạt tính sinh lý của các chất điều tiết sinh trưởng, các nhà khoa học đã phân thành 2 nhóm chất là các chất kích thích sinh trưởng và các chất ức chế sinh trưởng.
Các chất kích thích sinh trưởng như GA3, IAA, IBA… có tác dụng kéo dài chiều cao cây, kéo dài chiều dài cành hoa, tăng số cành nhánh, tăng kích thước hoa. Các chất ức chế sinh trưởng như CCC, B9, MH … có tác dụng giảm chiều cao cây nhưng làm tăng đường kính thân. Vì vậy, chất điều tiết sinh trưởng thực vật ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp nói chung và trong sản xuất hoa nói riêng. Khi nghiên cứu tác dụng của axit gibberellic (GA3) và malein hydrazyt (MH) sau khi trồng 30 và 60 ngày đến sự phát triển hoa và năng suất của hoa cúc được trồng trong điều kiện nhà lưới, S.Dalal và cs (2009)[23] đã cho thấy GA3 ở nồng độ 200 ppm làm tăng chiều cao cây tối đa, thúc đẩy nhanh sự ra hoa, tăng đường kính của hoa, chiều dài của cuống hoa và năng suất giống hoa cúc thí nghiệm.
Phun MH ở nồng độ 750 ppm làm tăng số nhánh trên cây và đường kính bông hoa. Prohexadione calcium (Pro - Ca) là chất có tác dụng ức chế quá trình sinh tổng hợp gibberallin làm giảm chiều dài tế bào của đốt thân, chiều cao cây, chậm quá trình sinh trưởng của cây và được sử dụng cho cây trồng chậu, trồng thảm… Yoon Ha Kim và cs (2010) [28] đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của prohexadione calcium (Pro - Ca) và daminozide (B9) đến sự sinh trưởng, phát triển của giống cúc (MorifoliumR. cv Monalisa White) 3 tuần tuổi, phun 3 lần (mỗi lần cách nhau 7 ngày). Kết quả cho thấy ở nồng độ 400 ppm Pro - Ca làm giảm nhiều chiều cao cây 30,7%, tăng đường kính thân cây, khối lượng cây và số lượng hoa không bị ảnh hưởng.
Việc sử dụng các loại chế phẩm và chất kích thích sinh trưởng như Spray - N Grow 1%, atonik 0,5%, GA3 50ppm đều có tác dụng rõ rệt tới sự sinh trưởng của cây trồng. Trong đó GA3 có tác động mạnh ở giai đoạn sinh trưởng 6 sinh dưỡng làm tăng chiều dài cây và rút ngắn thời gian nở hoa còn Spray - N - Grow và atonik tác động mạnh ở giai đoạn sinh trưởng sinh dục nâng cao tỷ lệ nở hoa và kéo dài độ bền hoa cắt và 2 loại thuốc Spray - N - Grow 1% và GA3 100ppm cũng có ảnh hưởng tốt đến sinh trưởng phát triển của cúc CN93 trong vụ Đông làm tăng tỷ lệ nở hoa đặc biệt là chiều cao cây mang lại hiệu quả kinh tế cao (Đặng Văn Đông , 2000) [2]. *Ưu điểm của việc sử dụng chất điều tiết sinh trưởng trong sản xuất hoa Với nghề trồng hoa sử dụng chất điều tiết sinh trưởng có nhiều thuận lợi là: - Hoa không phải là thực phẩm cho người và vật nuôi, do đó các ảnh hưởng độc hại (nếu có) của chất điều tiết sinh trưởng không ảnh hưởng đến con người và vật nuôi. - Ở nồng độ rất thấp các chất điều tiết sinh trưởng đã phát huy tác dụng đối với cây trồng nói chung và với hoa nói riêng nên dư lượng của nó trong đất, nước là không đáng kể.
- Tác dụng cảu chất điều tiết sinh trưởng đối với hoa nhanh, rỗ rệt. - Các chất điều tiết sinh trưởng có thể làm thay đổi một số đặc điểm thực vật học của hoa như: Thay đổi chiều cao cây, mùa sắc lá, thời gian sinh trưởng, sự ra hoa, chất lượng và tuổi thọ của hoa. Những chất có tác dụng kích thích sinh trưởng của cây gọi là chất kích thích sinh trưởng như: auxin, gibberellin, xytokinin. Những chất có tác dụng kìm hãm các quá trình sinh trưởng của cây gọi là chất kìm hãm sinh trưởng như: axit abxixic, etylen… *Một số ứng dụng của chất điều tiết sinh trưởng trong sản xuất hoa - Xúc tiến sự nảy mầm của củ giống và hạt giống: sự ngủ nghỉ của hạt và củ giống được quyết định bởi cân bằng ABA/GA3.
Do đó có thể thay đổi cân bằng này có lợi cho sự nảy mầm bằng cách giảm ABA hoặc tăng GA3. Với nhiều hạt giống và củ giống hoa - cây cảnh thì việc xử lý GA3 2-5ppm có tác dụng xúc tiến nảy mầm tốt (cẩm chướng, violet, tô liên, lay ơn…) - Xúc tiến hình thành rễ bất định của cành chiết, cành giâm trong nhân giống vô tính. Có rất nhiều loại hoa được nhân giống theo con đường vô tính: cúc, thược dược, cẩm chướng, hồng, đào… Hàm lượng auxin trong cành chiết, cành 7 giâm khá thấp không đủ để gây ra sự phân hóa rễ bất định. Do đó người ta phải xử lý auxin ngoại sinh cho cành chiết, cành giâm để làm nhanh sự ra rễ.000; thược dược 500; đào 3.
- Điều khiển sự ra hoa: sự ra hoa của cây trồng nói chung và cây hoa nói riêng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như ánh sáng, nhiệt độ, tương quan sinh trưởng, phát triển, hàm lượng các chất điều tiết sinh trưởng… xét cho cùng thì các ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh như: Ánh sáng, độ ẩm và nhiệt độ không khí đều ảnh hưởng đến các vật chất xúc tiến ra hoa của cây. Trong đó các phytohoocmon đóng vai trò rất quan trọng. GA3 và chất đối kháng với GA3 là CCC được sử dụng rộng rãi để xúc tiến sự ra hoa.