Đặt vấn đề Nấm Linh chi từ lâu đã được biết đến là một loại dược phẩm trong đông y. Trong tiếng Trung, Linh chi đại diện cho sự kết hợp giữa tiềm năng tinh thần và bản chất của sự bất tử, và được coi là thảo dược của tiềm năng tinh thần, biểu tượng cho sự thành công, hạnh phúc, sức mạnh thần thánh và tuổi thọ. Theo Trung Quốc (2000), Linh chi có tác dụng làm dịu tâm trí và giảm ho và hen xuyễn, và giúp giảm chóng mặt, mất ngủ, khó thở. Ngày nay, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật các nhà khoa học đã chứng minh được nhiều tác dụng hữu ích của nấm Linh chi như hỗ trợ điều trị ung thư, cao huyết áp, chống HIV, điều trị sốc phản vệ, viêm gan B, giảm cholesteron, tăng hệ thống miễn dịch, chống suy nhược thần kinh kéo dài, chống oxy hóa và gia tăng tuổi thọ.
Hiện nay, nấm Linh chi được nghiên cứu và nuôi trồng ở nhiều nơi trên thế giới như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc,.Ở Việt Nam, nghề trồng nấm rất phù hợp với điều kiện ở nước ta do nguồn nguyên trồng nấm dồi dào (rơm, rạ, mùn cưa, bông phế loại, lõi ngô, bã mía, thân sắn, cám gạo, cám ngô,…). Ngoài ra, khí hậu của nước ta rất phù hợp để nuôi trồng các loại nấm. Trồng nấm ngoài việc thu được quả thể nấm làm thực phẩm cho người thì giá thể sau thu hoạch nấm có thể sử dụng làm phân bón cho cây trồng, góp phần cải tạo đất, bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống. Việt Nam là một nước nhiệt đới với điều kiện khí hậu thuận lợi cho việc phát triển của rất nhiều loại nấm, tuy nhiên hiện nay nguồn giống nấm của Việt Nam còn nhiều hạn chế, chưa phát triển được nhiều giống mới phục vụ cho sản xuất.
Có rất nhiều chủng Linh chi ngoài tự nhiên có những đặc tính tốt, việc đánh giá những chủng nấm thu thập được từ ngoài tư nhiên là rất cần thiết. Chủng nấm Linh chi Ga-CB28 là chủng mới thu thập ngoài tự nhiên, có hình thái quả thể đẹp, có tiềm năng ứng dụng vào trong sản xuất. Để có thể xác định được công thức nuôi trồng phù hợp nhất với chủng nấm mới thu thập được, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển của chủng nấm Linh chi Ga-CB28 trên một số giá thể nhân giống và nuôi trồng”. Mục đích, yêu cầu đề tài 1.
Mục đích Nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển của chủng nấm Linh chi Ga-CB28 trên một số giá thể nhân giống. Nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển của chủng nấm Linh chi Ga-CB28 trên một số giá thể nuôi trồng. Yêu cầu Đánh giá ảnh hưởng của một số môi trường nhân giống đến sự sinh trưởng của chủng nấm Linh chi Ga-CB28. Đánh giá ảnh hưởng của thành phần mùn cưa và lõi ngô đến sự sinh trưởng, phát triển của chủng nấm Linh chi Ga-CB28.
Đánh giá ảnh hưởng của thành phần mùn cưa và bông hạt đến sự sinh trưởng, phát triển của chủng nấm Linh chi Ga-CB28. Đánh giá ảnh hưởng của thành phần dinh dưỡng bổ sung đến sự sinh trưởng, phát triển chủng nấm Linh chi Ga-CB28. Đánh giá ảnh hưởng của nguồn nguyên liệu nhân giống khác nhau đến sự sinh trưởng, phát triển chủng nấm Linh chi Ga-CB28. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Tình hình nghiên cứu, sản xuất nấm trên thế giới và Việt Nam 2. Tình hình nghiên cứu và sản xuất nấm trên thế giới Ngày nay, đã phát hiện trên 2.000 loài nấm, trong đó có khoảng 80 loài có thể ăn được và nuôi trồng thành công như nấm mỡ, nấm bào ngư, nấm rơm, nấm mộc nhĩ, nấm kim châm, nấm đùi gà…, và nấm sử dụng trong lĩnh vực dược liệu như nấm Linh chi, nấm phục linh, nấm vân chi, nấm đầu khỉ…. Có trên 100 quốc gia/ vùng lãnh thổ trồng nấm, sản lượng nấm thế giới đạt khoảng 25 triệu tấn/năm, tốc độ tăng trưởng bình quân 7% - 10%/ năm. Các nước sản xuất nấm hàng đầu thế giới (số liệu năm 1994) là: Trung Quốc 2.000 tấn (trong đó Đài Loan 71.800 tấn), chiếm 53,79% tổng sản lượng nấm thế giới, Hoa Kỳ 393.400 tấn (7,61%), Nhật Bản 360.800 tấn, Hàn Quốc 92.000 tấn, Hà Lan 88.
Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan đã áp dụng kỹ thuật tiên tiến và công nghiệp hoá nghề nấm nên đã đạt mức tăng trưởng gấp hàng trăm lần trong vòng 10 năm qua. Nhật Bản đạt gần 1 triệu tấn nấm hương/ năm. Hàn Quốc nổi tiếng với nấm linh chi, mỗi năm xuất khẩu thu về hàng trăm triệu USD. Trung Quốc có nhiều Viện, Trung tâm nghiên cứu nấm lớn, là đầu tàu để phát triển nghề trồng nấm mỗi năm đem lại hàng tỷ USD từ xuất khẩu.
Năm 2008 tổng giá trị sản xuất nấm ở Hàn Quốc đạt gần 8 tỷ USD, chiếm 3% tổng giá trị ngành nông nghiệp. Trong đó, nấm ngân nhĩ chiếm 27,8%, đùi gà 23,3%, nấm sò 20,2%, nấm hương 19,3%, nấm mỡ 5,4%. Hàn Quốc hiện là nước đang nhập khẩu nguyên liệu (mùn cưa, rơm rạ) từ Việt Nam, Trung Quốc để trồng nấm, đồng thời xuất khẩu nấm sang 80 quốc gia, trong đó có Việt Nam (Hiệp hội nấm ăn Hàn Quốc, 2010). Trung Quốc là nước sản xuất nấm lớn nhất thế giới.
Năm 1995, sản lượng là 3 triệu tấn, chiếm 60% tổng sản lượng thế giới, riêng tỉnh Phúc Kiến 0,8 triệu tấn, chiếm 26,7% cả nước, 6,4% toàn thế giới. Năm 2008 Trung Quốc đã sản xuất được 18 triệu tấn nấm tươi các loại. Năm 2009 riêng tỉnh Phúc Kiến sản xuất gần 2 triệu tấn đạt giá trị trên 8,6 tỷ Nhân dân tệ thu hút trên 3 triệu lao động trồng nấm chuyên nghiệp. Năm 2010 Trung Quốc sản xuất được 20,2 triệu tấn, tương đương mức giá trị khoảng 300 tỉ NDT (Tổng cục thống kê Trung Quốc, 2011).
Thị trường tiêu thụ 3 nấm ăn lớn nhất hiện nay là Đức (300 triệu USD), Hoa Kỳ (200 triệu USD), Pháp (140 triệu USD), Nhật Bản (100 triệu USD). Mức tiêu thụ nấm bình quân theo đầu người của Châu Âu, Mỹ, Nhật, Đức khoảng 4,0 - 6,0 kg/năm; dự kiến tăng trung bình 3,5%/năm. Tại thị trường châu Âu nấm mỡ chiếm khoảng 80 - 95%, mộc nhĩ khoảng 10% thị phần. Những năm trước của thế kỷ 20, Mỹ chiếm khoảng 50% thị trường nấm mỡ của thế giới.
(Công Phiên, 2012) Theo ITC, năm 2010 thế giới nhập khẩu 1,26 triệu tấn, giá trị 3,3 tỷ USD. Trong đó nấm tươi 572 nghìn tấn, giá trị 1,52 tỷ USD; nấm chế biến ăn liền 504 nghìn 3 tấn, giá trị gần 1 tỷ USD, nấm khô 60,6 nghìn tấn, giá trị gần 740 triệu USD. Từ năm 2006 đến 2010 tốc độ tăng trưởng thị trường xuất nhập khẩu nấm khoảng 10%/năm. Tình hình nghiên cứu và sản xuất nấm ở Việt Nam Việt Nam là nước có tiềm năng lớn để sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu do nguồn nguyên liệu trồng nấm (rơm rạ, mùn cưa, bã mía,.
Nguồn lao động nông thôn dồi dào. Điều kiện thời tiết thuận lợi cho nhiều loại nấm sinh trưởng và phát triển. Thị trường tiêu thụ nấm trong nước và quốc tế tăng nhanh tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của ngành trồng nấm tại nước ta. Hiện nay, nước ta sản xuất khoảng 16 loại nấm, trong đó các tỉnh phía Nam chủ yếu trồng nấm rơm, nấm mộc nhĩ; các tỉnh phía Bắc chủ yếu trồng nấm hương, nấm sò, nấm Linh chi.
Sản lượng nấm hàng năm nước ta đạt khoảng 250.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu 25 - 30 triệu USD (không tính xuất khẩu tiểu ngạch), trong đó: nấm mộc nhĩ 120.000 tấn, nấm mỡ 5.000 tấn, nấm linh chi 300 tấn, các loại nấm khác như nấm vân chi, nấm đầu khỉ, nấm kim châm, nấm ngọc châm khoảng 700 tấn. Tình hình tiêu thụ trong nước: nhu cầu tiêu thụ nấm (nấm tươi, nấm khô) trong nước tăng nhanh trong những năm gần đây, giá nấm luôn đứng ở mức cao, nấm hương 70.000 đồng/ kg, nấm rơm, nấm mỡ 50.000 đồng/ kg, nấm mộc nhĩ 60. Tình hình xuất khẩu: nấm xuất khẩu dưới nhiều dạng như nấm muối, nấm hộp, nấm khô của các loại nấm mộc nhĩ, nấm hương, nấm rơm; kim ngạch xuất khẩu năm 2009 là 60 triệu USD, tăng lên 90 triệu USD (năm 2011). Giá nấm rơm muối xuất khẩu tháng 1/ 2009 là 1.299 USD/ tấn, tăng lên 1.790 USD/ tấn (tháng 11/ 2009), hiện nay khoảng 2.000 USD/tấn; nhiều công ty xuất khẩu nấm có uy 4 tín ở các tỉnh phía Nam là West Food Cần Thơ, Vegetexco Hồ Chí Minh, Vegehagi, NutriWorld Đồng Nai.
Tuy ngành sản xuất nấm ở Việt Nam trong những năm gần đây được nhà nước đầu tư quan tâm phát triển nhưng sản xuất nấm ở nước ta vẫn còn ở quy mô nhỏ lẻ, kỹ thuật sản xuất lạc hậu chủ yếu dựa vào kinh nghiệm nên năng suất thu được còn thấp. Tiềm năng phát triển nghề trồng nấm Linh chi tại Việt Nam Việt Nam là một trong những nước có đủ điều kiện để phát triển mạnh nghề trồng nấm do: Thứ nhất: Nguồn nguyên liệu để trồng nấm là rơm rạ, thân gỗ, mùn cưa, bã mía,. các loại phế liệu sau thu hoạch giàu chất cellulose. Nếu tính trung bình một tấn thóc sẽ cho ra 1,2 tấn rơm rạ khô thì tổng sản lượng rơm rạ trong cả nước đạt con số vài chục triệu tấn/năm.
Chỉ cần sử dụng 10% số nguyên liệu kể trên để trồng nấm thì sản lượng nấm hằng năm đã đạt tới vài trăm ngàn tấn/năm. Thứ hai: Lực lượng lao động dồi dào và giá công lao động rẻ. Tính trung bình 1 công lao động nông nghiệp mới chỉ dùng đến 30-40% quỹ thời gian. Thứ ba: Điều kiện tự nhiên (về nhiệt độ, độ ẩm.) rất thích hợp cho nấm phát triển.
Cả hai nhóm nấm (nhóm ưa nhiệt độ cao: nấm rơm, mộc nhĩ.; nhóm ưa nhiệt độ thấp: nấm mỡ, nấm sò.) ở Việt Nam đều trồng được. Các tỉnh phía Nam tập trung trồng nấm rơm, mộc nhĩ; các tỉnh phía bắc trồng nấm mỡ, nấm hương, nấm sò. Thứ tư: Vốn đầu tư ban đầu để trồng nấm rất ít so với vốn đầu tư cho các ngàn sản xuất khác. Thứ năm: Kỹ thuật trồng nấm không phức tạp.
Một người dân bình thường có thể tiếp thu được công nghệ trồng nấm trong thời gian ngắn. Thứ sáu: Thị trường tiêu thụ nấm trong nước và trên thế giới tăng nhanh do sự phát triển chung của xã hội và dân số. Hiệp hội Nấm ăn thế giới đã đưa chỉ số bình quân lượng tiêu thụ nấm ăn cho một người trong một năm để đánh giá sự phát triển kinh tế của một quốc gia (Nguyễn Hữu Đống và cs, 2002).