Đặt vấn đề Đậu đũa (Vigna unguiculata subsp. sesquipedalis), là một phân loài thực vật thuộc phân họ Đậu, có nguồn gốc ở châu Phi và Nam Á, thích hợp với khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới. Chúng đƣợc trồng nhiều ở khu vực châu Phi, Trung Quốc, Philippines, Thái Lan, Việt Nam,… Có quả dài, hạt to, màu từ xanh lá đến xanh đậm, có nhiều phân loài khác nhau với dạng hạt có nhiều kích cỡ và màu sắc khác nhau. Đây là loại rau phổ biến ở thị trƣờng châu Á và là mặt hàng phổ biến ở miền Nam Hoa Kỳ.
Ở châu Phi, đậu đũa là một trong những loài cây lƣơng thực quan trọng, góp phần tăng cƣờng an ninh lƣơng thực và phát triển kinh tế ở khu vực này. Đây là nguồn cung cấp nhiều chất dinh dƣỡng bao gồm: protein, chất béo, tinh bột, chất xơ và các vitamin. Đậu đũa là loại rau ăn quả có giá trị dinh dƣỡng cao đƣợc nhiều ngƣời tiêu dùng ƣa chuộng, là loại cây dễ trồng, dễ bảo quản và vận chuyển. Quả đậu đũa có thể chế biến thành nhiều món ăn khác nhau, hạt đậu đũa khô đƣợc sử dụng trong các bữa ăn kiêng rất có giá trị.
Bên cạnh đó, đậu đũa đóng vai trò là một loại thuốc tự nhiên rất tốt cho con ngƣời với nhiều công dụng: chống oxy hóa, phòng ngừa bệnh ung thƣ, tốt cho hệ tiêu hóa và tim mạch, phòng và hỗ trợ bệnh tiêu đƣờng,… Ngoài ra, đậu đũa còn chứa Calcium vẫn thƣờng đƣợc biết đến nhƣ một thần dƣợc trong việc củng cố xƣơng và cũng có tác dụng phòng ung thƣ xƣơng. Ở Việt Nam, có 2 giống đậu đũa: đậu lùn và đậu leo, đƣợc trồng theo mùa vụ. Đây là cây trồng dễ trồng, có khả năng cải tạo đất tốt, có thể trồng trên nhiều loại đất và vùng sinh thái khác nhau. Đậu đũa là cây ƣa nhiệt, phản ứng với ánh sáng ngày ngắn, có yêu cầu nhiệt độ tƣơng đối cao từ 25 - 38 ºC và chúng cần lƣợng nhiệt độ nhất định để có thể ra hoa, đậu quả một cách hiệu quả.
Việc chăm sóc và bón phân qua các thời kì sinh trƣởng, phát triển rất quan trọng với 1 cây đậu đũa nhằm mang lại năng suất cao, chất lƣợng quả tốt để cung cấp ra thị trƣờng và đồng thời mang lại thu nhập cao cho ngƣời nông dân. Hiện nay, sử dụng lƣợng đạm bón và mật độ trồng thích hợp rất quan trọng đối với việc tăng năng suất của cây đậu đũa. Theo Francis Ofori (1987), ảnh hƣởng của phân đạm và lƣợng đạm bón đến việc xen canh đậu đũa với cây ngô (ngô là cây trồng chính) làm cho năng suất cây ngô tăng lên. Bên cạnh đó, theo Berhane Sibhatu & cs.
(2015), cũng làm năng suất cây cao lƣơng cao hơn và hiệu quả trong việc sử dụng đất so với việc chỉ trồng trọt cây đậu đũa bón N và mật độ. Tác giả Bationo & cs. (2002), đánh giá việc sản xuất đậu đũa ở vùng bán khô hạn ở các nƣớc Tây Phi giúp cải thiện chế độ dinh dƣỡng ngƣời dân, tăng số lƣợng và chất lƣợng thức ăn cho vật nuôi, góp phần tăng độ phì nhiêu của đất, từ đó góp phần giảm nghèo và suy thoái môi trƣờng tại nơi này. Từ những vấn đề thực tế trên đòi hỏi ngành rau nói chung phải có những nghiên cứu, đồng thời hỗ trợ cùng ngƣời dân mạnh dạn ứng dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất để vừa đảm bảo đƣợc năng suất và vừa đáp ứng đƣợc nhu cầu của ngƣời tiêu dùng trong và ngoài nƣớc.
Để phù hợp từng vụ mùa, từng điều kiện trồng khác nhau, các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu ra quy trình kỹ thuật trồng phù hợp đối với cây đậu đũa. Từ đó chọn ra đƣợc lƣợng phân bón và mật độ trồng thích hợp nhằm nâng cao năng suất, chất lƣợng cho cây đậu đũa một cách tốt nhất. Xuất phát từ vấn đề thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng đạm bón và mật độ trồng đến sinh trưởng, năng suất đậu đũa Cao Sản số 9 tại Gia Lâm, Hà Nội”. Mục đích và yêu cầu của đề tài 1.
Mục đích của đề tài Trên cơ sở nghiên cứu ảnh hƣởng của lƣợng đạm bón và mật độ trồng đến sinh trƣởng, năng suất giống đậu đũa Cao Sản số 9, để từ đó xác định mức đạm bón và mật độ thích hợp cho cây đậu đũa Cao Sản số 9 tại Gia Lâm, Hà Nội. Yêu cầu của đề tài - Đánh giá ảnh hƣởng của lƣợng đạm bón và mật độ trồng đến một số chỉ tiêu về sinh trƣởng của đậu đũa Cao Sản số 9. - Đánh giá ảnh hƣởng của lƣợng đạm bón và mật độ trồng đến một số chỉ tiêu về sinh lý của đậu đũa Cao Sản số 9. - Đánh giá ảnh hƣởng của lƣợng đạm bón và mật độ trồng đến một số chỉ tiêu về mức độ nhiễm sâu bệnh hại trên đậu đũa Cao Sản số 9.
- Đánh giá ảnh hƣởng của lƣợng đạm bón và mật độ trồng đến một số chỉ tiêu về các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của đậu đũa Cao Sản số 9. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƢỚC 2. Giới thiệu chung về cây đậu đũa 2. Nguồn gốc Nguồn gốc cây đậu đũa hiện vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau.
Có ý kiến cho rằng đậu đũa có nguồn gốc từ miền Trung và Đông châu Phi (Tạ Thu Cúc, 2005). Quan điểm khác lại cho rằng đậu đũa có nguồn gốc ở khu vực Nam Á, đƣợc trồng rộng rãi ở châu Á, châu Âu và châu Mỹ. Ở Tây Phi, đậu đũa đƣợc dùng làm thực phẩm từ 5 - 6 ngàn năm trƣớc đây, quá trình gieo trồng gắn liền với lịch sử trồng cây cao lƣơng và cây kê. Sự thuần dƣỡng đậu đũa thƣờng xảy ra chủ yếu ở vùng nhiệt đới Tây Phi (Savanna) nhƣng sự đa dạng về các dạng hình hoang dại thì lại đƣợc phát hiện ở vùng Đông Nam châu Phi.
Nhìn chung các quan điểm đều có xu hƣớng thống nhất về nguồn gốc của đậu đũa là từ châu Phi và châu Á. Ngày nay, đậu đũa đƣợc trồng phổ biến ở Trung Quốc, Nam Á, các nƣớc Đông Nam Á và châu Phi. Đậu đũa là một trong những loại hoa màu thích nghi trong hệ thống luân canh với lúa và là quan trọng bậc nhất vì phân bố rộng khắp, sản lƣợng tƣơng đối lớn, có hiệu quả kinh tế lại dễ trồng nên đƣợc sản xuất ở nhiều nơi. Phân loại Chi đậu bao gồm khoảng 75 - 80 loài, có nguồn gốc từ châu Á, châu Phi và châu Mỹ (E.
Dựa vào đăc điểm hình thái và nguồn gốc phát sinh, chi đậu đƣợc chia làm hai chi phụ đó là đậu châu Phi (nhóm Vigna) và đậu châu Á (nhóm Ceratotropis). Trong nhóm Vigna có loài quan trọng là V. unguiculate đƣợc chia làm hai loài phụ đó là unguiculata (cowpea) và sesquipadalis (đậu đũa). Theo kết quả nghiên cứu (Phansak & cs., 2005) trên 15 mẫu giống đậu đũa thu thập từ Thái Lan, Trung Quốc, Bangladesh, Lào, Philipine và Đài Loan thì mức độ đa dạng trong loài là khá cao và sự đa dạng này không phụ thuộc vào điều kiện địa lý.
4 Căn cứ vào chiều dài quả có thể phân loại đậu đũa thành 3 nhóm sau đây: - Đậu đũa thƣờng Vigna unguiculata L. Trƣớc đây đã có tác giả đặt tên là Vigna sinensis Savi. Tiếng Anh: Common Cowder pea, Blackeye pea, Sonthern pea, Coupe, Lubia,… Nông dân ta gọi là “đậu ri’’. Thân cao từ 2 - 3 m, hoa màu vàng nhạt hoặc đỏ tía.
Quả dài 20 - 30 cm, chúc xuống đất, quả có màu xanh nhạt, màu tím hoặc màu kem. Những giống đậu đũa thông thƣờng phản ánh với ánh sáng tƣơng đối rộng. Sau khi hoa nở 9 - 10 ngày có thể thu hái quả non, sau 60 ngày thu hạt tƣơi. Quả non và hạt non dùng để nấu, còn hạt tƣơi và hạt khô dùng để đóng hộp hoặc đông lạnh.
Chồi, lá non đƣợc sử dụng làm rau. Trong thực tế có một số giống đƣợc chuyên dùng lá non và chồi non để làm rau. Năng suất quả trung bình đạt 13 - 15 tấn/ha. Hàm lƣợng tinh bột của nhóm giống này đạt khoảng 50% và hàm lƣợng protein đạt 20%.
- Đậu đũa quả ngắn Vigna unguiculata L. Walp (Cultigroup cylindrica) hoặc Vigna cylindryca Skeels. Tiếng Anh: Catjang cowpea, Bombay cowpea, Jerusalem pea, Marble pea. Thân lùn (dạng bụi) hoặc bán leo.
Quả dài 10 - 12 cm, quả mọc chỉ thiên, trong quả có nhiều hạt nhỏ đƣợc sử dụng nhƣ rau khi quả chƣa chín. Nông dân ta gọi là “đậu cơm’’. Giống đậu này đƣợc sử dụng phổ biến ở Ấn Độ và các nƣớc Đông Nam Á. Ở Mỹ đậu đũa dạng bụi năng suất quả đạt khá cao (25 - 28 tấn/ha).
- Đậu đũa quả dài Vigna unguiculata (L.) Walp (Culti group sesquipedalis) hoặc còn có tên khoa học là Vigna sesquipedalis Fruith. Tiếng Anh: Yardlong beam, Snake bean, Fruwith asparagus bean, Bodibean và Sitao. Thân cao 2 - 3 m, lá xanh thẫm, hoa xuất hiện sau khi mọc từ 4 - 6 tuần. Điều đó phụ thuộc vào đặc tính của giống, điều kiện ngoại cảnh và kỹ thuật trồng trọt.
Sau khi nở 2 tuần có thể thu hái quả. Mặc dù vậy hầu hết các giống này cho thu hoạch quả sau khi gieo 65 - 70 ngày. Thời gian thu hái liên tục 25 - 30 ngày. Quả dài > 30 - 80 cm, có một số giống chiều dài quả lớn hơn 80 cm.
Quả đƣợc sử dụng giống nhƣ đậu cô ve. Năng suất quả của giống này trung bình đạt 20 - 5 25 tấn/ha. Diện tích sản xuất giống đậu quả dài ở Trung Quốc đạt hơn 250.000 ha, năng suất từ 4 - 10 tấn/ha. Ở Việt Nam đậu đũa có 2 giống: đậu đũa lùn và đậu đũa leo.
- Đậu đũa lùn: cây cao 50 - 70 cm, quả ngắn 30 - 35 cm, thịt quả chắc, thời gian sinh trƣởng ngắn (70 - 75 ngày), năng suất thấp hơn đậu leo. - Đậu đũa leo: có rất nhiều giống nhƣ giống đậu hạt trắng, hạt đỏ, hạt trắng đỏ, hạt đen và hạt trắng đen. Thân sinh trƣởng vô hạn, canh tác phải làm giàn, quả dài 40 - 70 cm tùy giống, màu quả thay đổi từ xanh nhạt (giống hạt trắng) đến xanh rất đậm (giống hạt đen). Các giống còn phân biệt bởi sắc tố đỏ tím ở đuôi quả.
Năng suất, phẩm chất quả, khả năng thích nghi điều hiện thời tiết của các giống rất cũng khác nhau. Giống hạt trắng cho quả thịt dầy, ăn ngon, năng suất cao và thƣờng trồng trong mùa nắng. Giống hạt đỏ và hạt đen cho quả thịt mỏng, ăn giòn, thích hợp canh tác trong mùa mƣa.