Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu ảnh hưởng của lượng đạm bón và mật độ trồng đến sinh trưởng năng suất đậu đũa cao sản số 9 tại gia lâm hà nội

Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp nghiên cứu ảnh hưởng của lượng đạm bón và mật độ trồng đến sinh trưởng năng suất đậu đũa, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề xuất

Chuyên ngành

Nông học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2021

87
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỤC LỤC

2. DANH MỤC BẢNG

3. DANH MỤC HÌNH

4. DANH MỤC ẢNH

5. DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

6. TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

7. MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI

7.1. Mục đích của đề tài

7.2. Yêu cầu của đề tài

8. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƢỚC

8.1. Giới thiệu chung về cây đậu đũa

8.1.1. Nguồn gốc

8.1.2. Phân loại

8.1.3. Đặc điểm thực vật học

8.1.4. Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh đối với cây đậu đũa

9. VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

9.1. Địa điểm nghiên cứu

9.2. Thời gian nghiên cứu

9.3. Đối tƣợng và vật liệu nghiên cứu

9.4. Nội dung nghiên cứu

9.5. Phƣơng pháp nghiên cứu

9.6. Thiết kế thí nghiệm

9.7. Các chỉ tiêu nghiên cứu

9.7.1. Theo dõi mức độ sâu bệnh hại

9.8. Quy trình kỹ thuật áp dụng trong thí nghiệm

9.9. Phương pháp phân tích số liệu

10. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

10.1. Ảnh hƣởng của lƣợng đạm bón và mật độ trồng đến các chỉ tiêu sinh trƣởng của đậu đũa Cao Sản số 9

10.2. Ảnh hưởng của lượng đạm bón và mật độ trồng đến các giai đoạn sinh trưởng của đậu đũa Cao Sản số 9

10.3. Ảnh hưởng của lượng đạm bón và mật độ trồng đến động thái tăng trưởng chiều cao của đậu đũa Cao Sản số 9

10.4. Ảnh hưởng của lượng đạm bón và mật độ trồng đến động thái ra lá của đậu đũa Cao Sản số 9

10.5. Ảnh hƣởng của lƣợng đạm bón và mật độ trồng đến các chỉ tiêu sinh lý của đậu đũa Cao Sản số 9

10.6. Ảnh hưởng của lượng đạm bón và mật độ trồng đến chỉ số diện tích lá của đậu đũa Cao Sản số 9

10.7. Ảnh hưởng của lượng đạm bón và mật độ trồng đến chỉ số diệp lục của đậu đũa Cao Sản số 9

10.8. Ảnh hưởng của lượng đạm bón và mật độ trồng đến khả năng tích lũy chất khô của đậu đũa Cao Sản số 9

10.9. Ảnh hƣởng của lƣợng đạm bón và mật độ trồng đến mức độ nhiễm sâu bệnh hại của đậu đũa Cao Sản số 9

10.10. Ảnh hƣởng của lƣợng đạm bón và mật độ trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của đậu đũa Cao Sản số 9

10.11. Ảnh hưởng riêng rẽ của lượng đạm bón và mật độ trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của đậu đũa Cao Sản số 9

10.12. Ảnh hưởng tương tác của lượng đạm bón và mật độ trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của đậu đũa Cao Sản số 9

11. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Ảnh hưởng của đạm bón và mật độ trồng đến sinh trưởng đậu đũa Cao Sản số 9

Nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá ảnh hưởng của đạm bónmật độ trồng đến các chỉ tiêu sinh trưởng của đậu đũa Cao Sản số 9 tại Gia Lâm, Hà Nội. Kết quả cho thấy, lượng đạm bón ảnh hưởng rõ rệt đến chiều cao cây, số lá và giai đoạn sinh trưởng. Cụ thể, công thức bón 90 kgN/ha kết hợp mật độ 30 cm × 50 cm cho kết quả tốt nhất. Mật độ trồng cũng tác động đến động thái tăng trưởng, với mật độ thưa (50 cm × 50 cm) giúp cây phát triển mạnh hơn. Nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học để tối ưu hóa quy trình canh tác, nâng cao năng suất đậu đũa.

1.1. Ảnh hưởng của đạm bón đến sinh trưởng

Đạm bón là yếu tố quan trọng quyết định sự phát triển của đậu đũa Cao Sản số 9. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, lượng đạm bón 90 kgN/ha giúp cây đạt chiều cao tối ưu và số lá nhiều nhất. Đạm cũng thúc đẩy quá trình ra hoa và đậu quả, từ đó tăng năng suất đậu đũa. Tuy nhiên, việc bón quá nhiều đạm (150 kgN/ha) có thể dẫn đến hiện tượng dư thừa, gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của cây.

1.2. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng

Mật độ trồng ảnh hưởng trực tiếp đến không gian sinh trưởng và khả năng hấp thụ dinh dưỡng của đậu đũa Cao Sản số 9. Mật độ 30 cm × 50 cm cho kết quả tốt nhất về chiều cao và số lá, trong khi mật độ 50 cm × 50 cm giúp cây phát triển mạnh hơn nhưng lại giảm số lượng cây trên đơn vị diện tích. Nghiên cứu khuyến nghị sử dụng mật độ trồng phù hợp để đạt năng suất đậu đũa tối ưu.

II. Ảnh hưởng của đạm bón và mật độ trồng đến năng suất đậu đũa Cao Sản số 9

Nghiên cứu đã phân tích ảnh hưởng của đạm bónmật độ trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất đậu đũa, bao gồm số quả, trọng lượng quả và tỷ lệ đậu quả. Kết quả cho thấy, công thức bón 90 kgN/ha kết hợp mật độ 30 cm × 50 cm đạt năng suất cao nhất, với trọng lượng quả trung bình đạt 15 tấn/ha. Mật độ trồng thưa (50 cm × 50 cm) giúp cây phát triển mạnh nhưng lại giảm số lượng quả trên đơn vị diện tích. Nghiên cứu này có ý nghĩa thực tiễn trong việc tối ưu hóa quy trình canh tác đậu đũa Cao Sản số 9 tại Gia Lâm, Hà Nội.

2.1. Ảnh hưởng của đạm bón đến năng suất

Đạm bón đóng vai trò quan trọng trong việc tăng năng suất đậu đũa. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, lượng đạm bón 90 kgN/ha giúp cây đạt số quả và trọng lượng quả cao nhất. Đạm cũng thúc đẩy quá trình tích lũy chất khô, từ đó tăng chất lượng quả. Tuy nhiên, việc bón quá nhiều đạm có thể dẫn đến hiện tượng dư thừa, gây ảnh hưởng xấu đến năng suất đậu đũa.

2.2. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng suất

Mật độ trồng ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng quả và trọng lượng quả của đậu đũa Cao Sản số 9. Mật độ 30 cm × 50 cm cho kết quả tốt nhất về số quả và trọng lượng quả, trong khi mật độ 50 cm × 50 cm giúp cây phát triển mạnh hơn nhưng lại giảm số lượng quả trên đơn vị diện tích. Nghiên cứu khuyến nghị sử dụng mật độ trồng phù hợp để đạt năng suất đậu đũa tối ưu.

III. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc tối ưu hóa quy trình canh tác đậu đũa Cao Sản số 9 tại Gia Lâm, Hà Nội. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc sử dụng lượng đạm bón 90 kgN/ha kết hợp mật độ trồng 30 cm × 50 cm giúp tăng năng suất đậu đũa lên đến 15 tấn/ha. Nghiên cứu cũng khuyến nghị áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến để nâng cao hiệu quả sản xuất, đáp ứng nhu cầu thị trường và tăng thu nhập cho người nông dân.

3.1. Giá trị thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học để tối ưu hóa quy trình canh tác đậu đũa Cao Sản số 9, giúp tăng năng suất và chất lượng quả. Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp tại Gia Lâm, Hà Nội, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và đảm bảo an ninh lương thực.

3.2. Khuyến nghị cho sản xuất

Dựa trên kết quả nghiên cứu, khuyến nghị sử dụng lượng đạm bón 90 kgN/ha kết hợp mật độ trồng 30 cm × 50 cm để đạt năng suất đậu đũa tối ưu. Ngoài ra, cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến như tưới tiêu hợp lý, phòng trừ sâu bệnh để nâng cao hiệu quả sản xuất.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Đậu đũa (Vigna unguiculata subsp. sesquipedalis), là một phân loài thực vật thuộc phân họ Đậu, có nguồn gốc ở châu Phi và Nam Á, thích hợp với khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới. Chúng đƣợc trồng nhiều ở khu vực châu Phi, Trung Quốc, Philippines, Thái Lan, Việt Nam,… Có quả dài, hạt to, màu từ xanh lá đến xanh đậm, có nhiều phân loài khác nhau với dạng hạt có nhiều kích cỡ và màu sắc khác nhau. Đây là loại rau phổ biến ở thị trƣờng châu Á và là mặt hàng phổ biến ở miền Nam Hoa Kỳ.

Ở châu Phi, đậu đũa là một trong những loài cây lƣơng thực quan trọng, góp phần tăng cƣờng an ninh lƣơng thực và phát triển kinh tế ở khu vực này. Đây là nguồn cung cấp nhiều chất dinh dƣỡng bao gồm: protein, chất béo, tinh bột, chất xơ và các vitamin. Đậu đũa là loại rau ăn quả có giá trị dinh dƣỡng cao đƣợc nhiều ngƣời tiêu dùng ƣa chuộng, là loại cây dễ trồng, dễ bảo quản và vận chuyển. Quả đậu đũa có thể chế biến thành nhiều món ăn khác nhau, hạt đậu đũa khô đƣợc sử dụng trong các bữa ăn kiêng rất có giá trị.

Bên cạnh đó, đậu đũa đóng vai trò là một loại thuốc tự nhiên rất tốt cho con ngƣời với nhiều công dụng: chống oxy hóa, phòng ngừa bệnh ung thƣ, tốt cho hệ tiêu hóa và tim mạch, phòng và hỗ trợ bệnh tiêu đƣờng,… Ngoài ra, đậu đũa còn chứa Calcium vẫn thƣờng đƣợc biết đến nhƣ một thần dƣợc trong việc củng cố xƣơng và cũng có tác dụng phòng ung thƣ xƣơng. Ở Việt Nam, có 2 giống đậu đũa: đậu lùn và đậu leo, đƣợc trồng theo mùa vụ. Đây là cây trồng dễ trồng, có khả năng cải tạo đất tốt, có thể trồng trên nhiều loại đất và vùng sinh thái khác nhau. Đậu đũa là cây ƣa nhiệt, phản ứng với ánh sáng ngày ngắn, có yêu cầu nhiệt độ tƣơng đối cao từ 25 - 38 ºC và chúng cần lƣợng nhiệt độ nhất định để có thể ra hoa, đậu quả một cách hiệu quả.

Việc chăm sóc và bón phân qua các thời kì sinh trƣởng, phát triển rất quan trọng với 1 cây đậu đũa nhằm mang lại năng suất cao, chất lƣợng quả tốt để cung cấp ra thị trƣờng và đồng thời mang lại thu nhập cao cho ngƣời nông dân. Hiện nay, sử dụng lƣợng đạm bón và mật độ trồng thích hợp rất quan trọng đối với việc tăng năng suất của cây đậu đũa. Theo Francis Ofori (1987), ảnh hƣởng của phân đạm và lƣợng đạm bón đến việc xen canh đậu đũa với cây ngô (ngô là cây trồng chính) làm cho năng suất cây ngô tăng lên. Bên cạnh đó, theo Berhane Sibhatu & cs.

(2015), cũng làm năng suất cây cao lƣơng cao hơn và hiệu quả trong việc sử dụng đất so với việc chỉ trồng trọt cây đậu đũa bón N và mật độ. Tác giả Bationo & cs. (2002), đánh giá việc sản xuất đậu đũa ở vùng bán khô hạn ở các nƣớc Tây Phi giúp cải thiện chế độ dinh dƣỡng ngƣời dân, tăng số lƣợng và chất lƣợng thức ăn cho vật nuôi, góp phần tăng độ phì nhiêu của đất, từ đó góp phần giảm nghèo và suy thoái môi trƣờng tại nơi này. Từ những vấn đề thực tế trên đòi hỏi ngành rau nói chung phải có những nghiên cứu, đồng thời hỗ trợ cùng ngƣời dân mạnh dạn ứng dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất để vừa đảm bảo đƣợc năng suất và vừa đáp ứng đƣợc nhu cầu của ngƣời tiêu dùng trong và ngoài nƣớc.

Để phù hợp từng vụ mùa, từng điều kiện trồng khác nhau, các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu ra quy trình kỹ thuật trồng phù hợp đối với cây đậu đũa. Từ đó chọn ra đƣợc lƣợng phân bón và mật độ trồng thích hợp nhằm nâng cao năng suất, chất lƣợng cho cây đậu đũa một cách tốt nhất. Xuất phát từ vấn đề thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng đạm bón và mật độ trồng đến sinh trưởng, năng suất đậu đũa Cao Sản số 9 tại Gia Lâm, Hà Nội”. Mục đích và yêu cầu của đề tài 1.

Mục đích của đề tài Trên cơ sở nghiên cứu ảnh hƣởng của lƣợng đạm bón và mật độ trồng đến sinh trƣởng, năng suất giống đậu đũa Cao Sản số 9, để từ đó xác định mức đạm bón và mật độ thích hợp cho cây đậu đũa Cao Sản số 9 tại Gia Lâm, Hà Nội. Yêu cầu của đề tài - Đánh giá ảnh hƣởng của lƣợng đạm bón và mật độ trồng đến một số chỉ tiêu về sinh trƣởng của đậu đũa Cao Sản số 9. - Đánh giá ảnh hƣởng của lƣợng đạm bón và mật độ trồng đến một số chỉ tiêu về sinh lý của đậu đũa Cao Sản số 9. - Đánh giá ảnh hƣởng của lƣợng đạm bón và mật độ trồng đến một số chỉ tiêu về mức độ nhiễm sâu bệnh hại trên đậu đũa Cao Sản số 9.

- Đánh giá ảnh hƣởng của lƣợng đạm bón và mật độ trồng đến một số chỉ tiêu về các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của đậu đũa Cao Sản số 9. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƢỚC 2. Giới thiệu chung về cây đậu đũa 2. Nguồn gốc Nguồn gốc cây đậu đũa hiện vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau.

Có ý kiến cho rằng đậu đũa có nguồn gốc từ miền Trung và Đông châu Phi (Tạ Thu Cúc, 2005). Quan điểm khác lại cho rằng đậu đũa có nguồn gốc ở khu vực Nam Á, đƣợc trồng rộng rãi ở châu Á, châu Âu và châu Mỹ. Ở Tây Phi, đậu đũa đƣợc dùng làm thực phẩm từ 5 - 6 ngàn năm trƣớc đây, quá trình gieo trồng gắn liền với lịch sử trồng cây cao lƣơng và cây kê. Sự thuần dƣỡng đậu đũa thƣờng xảy ra chủ yếu ở vùng nhiệt đới Tây Phi (Savanna) nhƣng sự đa dạng về các dạng hình hoang dại thì lại đƣợc phát hiện ở vùng Đông Nam châu Phi.

Nhìn chung các quan điểm đều có xu hƣớng thống nhất về nguồn gốc của đậu đũa là từ châu Phi và châu Á. Ngày nay, đậu đũa đƣợc trồng phổ biến ở Trung Quốc, Nam Á, các nƣớc Đông Nam Á và châu Phi. Đậu đũa là một trong những loại hoa màu thích nghi trong hệ thống luân canh với lúa và là quan trọng bậc nhất vì phân bố rộng khắp, sản lƣợng tƣơng đối lớn, có hiệu quả kinh tế lại dễ trồng nên đƣợc sản xuất ở nhiều nơi. Phân loại Chi đậu bao gồm khoảng 75 - 80 loài, có nguồn gốc từ châu Á, châu Phi và châu Mỹ (E.

Dựa vào đăc điểm hình thái và nguồn gốc phát sinh, chi đậu đƣợc chia làm hai chi phụ đó là đậu châu Phi (nhóm Vigna) và đậu châu Á (nhóm Ceratotropis). Trong nhóm Vigna có loài quan trọng là V. unguiculate đƣợc chia làm hai loài phụ đó là unguiculata (cowpea) và sesquipadalis (đậu đũa). Theo kết quả nghiên cứu (Phansak & cs., 2005) trên 15 mẫu giống đậu đũa thu thập từ Thái Lan, Trung Quốc, Bangladesh, Lào, Philipine và Đài Loan thì mức độ đa dạng trong loài là khá cao và sự đa dạng này không phụ thuộc vào điều kiện địa lý.

4 Căn cứ vào chiều dài quả có thể phân loại đậu đũa thành 3 nhóm sau đây: - Đậu đũa thƣờng Vigna unguiculata L. Trƣớc đây đã có tác giả đặt tên là Vigna sinensis Savi. Tiếng Anh: Common Cowder pea, Blackeye pea, Sonthern pea, Coupe, Lubia,… Nông dân ta gọi là “đậu ri’’. Thân cao từ 2 - 3 m, hoa màu vàng nhạt hoặc đỏ tía.

Quả dài 20 - 30 cm, chúc xuống đất, quả có màu xanh nhạt, màu tím hoặc màu kem. Những giống đậu đũa thông thƣờng phản ánh với ánh sáng tƣơng đối rộng. Sau khi hoa nở 9 - 10 ngày có thể thu hái quả non, sau 60 ngày thu hạt tƣơi. Quả non và hạt non dùng để nấu, còn hạt tƣơi và hạt khô dùng để đóng hộp hoặc đông lạnh.

Chồi, lá non đƣợc sử dụng làm rau. Trong thực tế có một số giống đƣợc chuyên dùng lá non và chồi non để làm rau. Năng suất quả trung bình đạt 13 - 15 tấn/ha. Hàm lƣợng tinh bột của nhóm giống này đạt khoảng 50% và hàm lƣợng protein đạt 20%.

- Đậu đũa quả ngắn Vigna unguiculata L. Walp (Cultigroup cylindrica) hoặc Vigna cylindryca Skeels. Tiếng Anh: Catjang cowpea, Bombay cowpea, Jerusalem pea, Marble pea. Thân lùn (dạng bụi) hoặc bán leo.

Quả dài 10 - 12 cm, quả mọc chỉ thiên, trong quả có nhiều hạt nhỏ đƣợc sử dụng nhƣ rau khi quả chƣa chín. Nông dân ta gọi là “đậu cơm’’. Giống đậu này đƣợc sử dụng phổ biến ở Ấn Độ và các nƣớc Đông Nam Á. Ở Mỹ đậu đũa dạng bụi năng suất quả đạt khá cao (25 - 28 tấn/ha).

- Đậu đũa quả dài Vigna unguiculata (L.) Walp (Culti group sesquipedalis) hoặc còn có tên khoa học là Vigna sesquipedalis Fruith. Tiếng Anh: Yardlong beam, Snake bean, Fruwith asparagus bean, Bodibean và Sitao. Thân cao 2 - 3 m, lá xanh thẫm, hoa xuất hiện sau khi mọc từ 4 - 6 tuần. Điều đó phụ thuộc vào đặc tính của giống, điều kiện ngoại cảnh và kỹ thuật trồng trọt.

Sau khi nở 2 tuần có thể thu hái quả. Mặc dù vậy hầu hết các giống này cho thu hoạch quả sau khi gieo 65 - 70 ngày. Thời gian thu hái liên tục 25 - 30 ngày. Quả dài > 30 - 80 cm, có một số giống chiều dài quả lớn hơn 80 cm.

Quả đƣợc sử dụng giống nhƣ đậu cô ve. Năng suất quả của giống này trung bình đạt 20 - 5 25 tấn/ha. Diện tích sản xuất giống đậu quả dài ở Trung Quốc đạt hơn 250.000 ha, năng suất từ 4 - 10 tấn/ha. Ở Việt Nam đậu đũa có 2 giống: đậu đũa lùn và đậu đũa leo.

- Đậu đũa lùn: cây cao 50 - 70 cm, quả ngắn 30 - 35 cm, thịt quả chắc, thời gian sinh trƣởng ngắn (70 - 75 ngày), năng suất thấp hơn đậu leo. - Đậu đũa leo: có rất nhiều giống nhƣ giống đậu hạt trắng, hạt đỏ, hạt trắng đỏ, hạt đen và hạt trắng đen. Thân sinh trƣởng vô hạn, canh tác phải làm giàn, quả dài 40 - 70 cm tùy giống, màu quả thay đổi từ xanh nhạt (giống hạt trắng) đến xanh rất đậm (giống hạt đen). Các giống còn phân biệt bởi sắc tố đỏ tím ở đuôi quả.

Năng suất, phẩm chất quả, khả năng thích nghi điều hiện thời tiết của các giống rất cũng khác nhau. Giống hạt trắng cho quả thịt dầy, ăn ngon, năng suất cao và thƣờng trồng trong mùa nắng. Giống hạt đỏ và hạt đen cho quả thịt mỏng, ăn giòn, thích hợp canh tác trong mùa mƣa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu ảnh hưởng của đạm bón và mật độ trồng đến năng suất đậu đũa cao sản số 9 tại Gia Lâm, Hà Nội là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc phân tích tác động của lượng đạm bón và mật độ trồng đến sự sinh trưởng và năng suất của giống đậu đũa cao sản số 9. Nghiên cứu này cung cấp những thông tin chi tiết về cách tối ưu hóa quy trình canh tác, giúp nông dân đạt được năng suất cao hơn và hiệu quả kinh tế tốt hơn. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến nông nghiệp bền vững và cải thiện chất lượng cây trồng.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy và các mức phân đạm tới sinh trưởng phát triển và năng suất của giống lúa bt13 tại tam dương vĩnh phúc, Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến sinh trưởng và phát triển của giống ngô lai dk 9901 tại huyện trấn yên tỉnh yên bái, và Luận văn thạc sĩ ảnh hưởng liều lượng đạm bón và lượng giống sạ đến giống lúa mt 10 trên đất phù sa tại bình định. Những tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tác động của phân bón và mật độ trồng đối với các loại cây trồng khác nhau.