Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1. Sơ lược về cây bí đỏ 1. Nguồn gốc và phân bố Bí đỏ Cucurbita spp. có nguồn gốc từ Châu Mỹ Latinh và đã được trồng rộng rãi hơn 10.000 năm ở Bắc Mỹ và hơn 500 năm ở Châu Âu.
Bí đỏ đã được đưa đến Chile, Argentina và cuối cùng được đưa sang Châu Á. Không phụ thuộc độ cao so với mặt nước biển, bí đỏ được trồng ở hau hết các nơi trên thế giới (Hosen, 2021). Trong đó, loài bí đỏ phố biến nhất ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới là các loài Cucurbita pepo va Cucurbita moschata, còn Cucurbita maxima va Cucurbita mixta thích hop ở vùng ôn đới có khí hậu mát (Tran Thi Ba, 2013). Bí đỏ thuộc bộ Cucurbitales, họ Cucurbitaceae, chi Cucurbita và loài Cucurbita moschata (Tạ Thị Thu Cúc, 2007).
Cucurbita moschafa có nguồn gốc từ Bắc Mỹ (Mexico), được thuần hóa ở Colombia. Đây là loài Cucurbita spp. chịu nhiệt tốt nhất, có thé phát triển ở độ cao 1. Những nước trồng bí đỏ và có sản lượng lớn nhất là Trung Quốc (8.160 tan) và Nga (1.
Yêu cầu sinh thái Bí đỏ là loài rau ăn quả chịu nóng, không chịu nhiệt độ thấp (không chịu rét). Nhiệt độ thích hợp dé hạt nảy mam là 25 — 30°C, thời kỳ cây con là 18 — 20°C, sinh trưởng sinh thực là 20 — 30°C (Lê Thi Khanh, 2009). Cây bí có phản ứng nhẹ đối với điều kiện ngày ngắn (Ulrich và cộng sự, 2022). Cây cần ánh sáng ngày ngắn từ 10 — 12 giờ chiếu sáng trong ngày, đồng thời cũng yêu cầu cường độ ánh sáng mạnh, nếu gieo trồng trong điều kiện mưa nhiều, trời âm u, ánh sáng yếu, cây sinh trưởng kém, dé bị nhiễm bệnh (Tran Thị Ba, 2013).
Bí đỏ cần nhiều nước vì bộ lá to, nhiều lá. Cây không kén đất nhưng đòi hỏi phải thoát nước tốt, vì cây chịu úng kém nhưng chịu khô hạn tốt (Trần Thị Ba, 2013). Yêu cầu độ âm không khí rất thấp trong suốt quá trình sinh trưởng: 45 — 55%. Nếu trồng trong điều kiện 4m độ không khí cao anh hưởng đến quá trình thụ phấn, thụ tinh của cây và dé bị sâu bệnh gây hại (Lê Thị Khánh, 2009).
Bí đỏ Cucurbita moschata nhạy cảm với sương giá và độ mặn, được trồng ở hau hết mọi loại đất có độ phì tương đối, thoát nước tốt với độ pH từ trung tính đến hơi chua, từ 5,5 đến 6,8 (Ulrich và cộng sự, 2022). Nhu cầu dinh dưỡng Theo Trần Thị Ba (2013), cây bí do cần nhiều đạm nhất sau các nguyên tố carbon, hydro và oxy, trong đó có từ 2,5 — 5% N có nhiều ở lá non. Cần cung cấp nhiều đạm ở giai đoạn sinh trưởng dé phân chia tế bào, tăng kích thước tế bào. Lân rất cần trong thời kỳ cây con đề phát triển rễ.
Nồng độ trong lá chiếm 0,2 — 0,6% chất khô. Cần bón lân sớm dé cây bi đỏ phát triển bộ rễ tốt. Kali giúp cho cây bí đỏ tăng khả năng chống chịu, tăng khả năng chín sớm và tăng lượng đường trong quả. Khi cây thiếu kali, kali được chuyền từ lá già sang lá non làm cho cây tăng trưởng chậm, chóp lá bị mat diệp lục tố dan đến lá bị hoại tử.
Ngoài ra, bí đỏ cũng cần các chất trung và vi lượng, đặc biệt rất nhạy cảm với canxi và magie. Thiếu canxi bí đỏ đễ bị thối đít quả, thiếu magie giảm kha năng đậu quả (Nguyễn Mạnh Chinh, 201 1). Một số sâu bệnh hại thường gặp trên cây bí đỏ Bo tri (Thrips palmi): tập trung ở lá, thường gây hại ở mặt trên lá nhiều hơn mặt dưới. Bo trĩ có miệng kiêu đũa hút nên chúng dùng hàm dưới dé đũa rách biểu bì rồi cam vòi vào hút chất dinh dưỡng trong lá, đặc biệt là lá non, làm cho chop lá bị nhăn, thâm den, cây sinh trưởng kém, can cõi, khô héo.
Khi bị hại nhẹ, trên lá có thay những điểm trắng nhỏ, khi bị hại nặng lá bị héo đen, khô, ảnh hưởng nhiều đến năng suất. Bọ trĩ thích hoạt động phá hại vào sáng sớm và chiều mát. Khi trời nắng gắt, bọ trĩ thường chui vào phan gốc lá và mặt dưới lá (Nguyễn Đức Khiêm, 2005). Ray phan trắng (Bemisia tabaci): ray phan hút dich ở lá, ngọn và phan thân non.
Triệu chứng tác hại trực tiếp khó nhận biệt. Trên lá bị hại có nhiều đốm hay vùng biến màu. Các đốm phát triển và liên kết nhau tạo thành những đám màu vàng có kích thước khác nhau. Trong trường hợp bị hại nặng, chỉ có gân lá còn xanh.
Một số lá hoàn toàn nâu và khô. Cây có thé bị héo và rụng lá. Trên lá và thân có thé có mốc màu đen, dính. Nắng to hoặc trời mưa, bọ trưởng thành nấp dưới những lá gần mặt đất và những nơi rậm rạp.
Rầy đẻ trứng tập trung ở các lá bánh tẻ, cũng có khi đẻ rải rác trong mô lá. Nhiệt độ thích hợp cho ray phấn là 18 — 33°C. Độ 4m phù hop từ 80% trở lên, phù hợp nhất là 90 — 95%, thời gian ray phát triển rộ là đầu tháng 3 và đầu tháng 5 (Nguyễn Đức Khiêm, 2005). Sâu ăn lá (Diaphania indica): là côn trùng thuộc họ Pyralidae.
Sâu ăn lá gây hại chủ yếu trên các loài nhiệt đới và cận nhiệt đới trong họ bau bí. Sâu non có 5 lứa tuổi, khi nở, tập trung quanh gân chính, ăn phần thịt lá cây, làm lá cây bị hư hại, chỉ còn gân lá. Trong một số trường hợp, sâu ăn thân mềm, hoa và quả non. Với mật số sâu non cao có thê làm cây trụi lá cây, làm giảm sự quang hợp của cây, ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất cây trồng.
Schreiner (1991) xác định tôn thất năng suất cây trồng có thé lên 10% khi mật số sâu ăn lá đạt 1 con/lá. Nhiệt độ thích hợp cho sâu ăn lá phát triển từ giai đoạn trừng đến trưởng thành là từ 20 — 30°C (Hosseinzade và cộng sự, 2014). Bệnh chết cây con: do nam Fusarium solani gây ra. Biểu hiện triệu chứng đặc trưng nhất của bệnh là hiện tượng thối mục trên gốc thân cây con, cây bị héo chết.
Khi thời tiết âm ướt trên gốc thân xuất hiện những vết màu trắng xám phát triển thành một lớp nắm mốc bông xốp mau trắng. Triệu chứng này cũng biểu hiện lên quả, gây hiện tượng thối quả. Sau khi bị nhiễm bệnh, các loại vi sinh vật khác tiếp tục phát triển làm quả nhanh chóng thối hỏng, mat giá trị sử dụng. Gieo trồng đúng thời vụ, tưới nước vừa đủ, bón phân N, P, K cân đối, chọn đất không trũng thấp, vun luống cao, trồng mật độ thích hợp, bón chế phẩm Trichoderma vào dat và gốc cây dé phòng chống bệnh (Lê Lương Té, 2005).
Bệnh kham: do virus Cucumber mosaic gây ra. Vết bệnh đầu tiên là những vết khảm đốm màu vàng nhạt xen kẽ các vết xanh đậm, lá ngừng phát triển, lá nhỏ hẹp, xoăn cong. Cây bị bệnh kém phát triển, thân mảnh. Quả bị bệnh thường nhỏ, biến dạng, trên vỏ quả có các vết xanh đậm nhạt loang 16.
Virus truyền chủ yếu qua tiếp xúc cơ học, qua vết thương sây sát, hoặc qua môi giới là các loài rệp muội. Nhiệt độ cao trên 25°C làm giảm triệu chứng bệnh. Bệnh phát triển mạnh ở điều kiện nhiệt độ 15 — 20°C. Cây sống trong điều kiện ánh sáng yếu mẫn cảm với virus hơn điều kiện ánh sáng mạnh.
Virus có phạm vi ký chủ rộng, lan truyền dé dang nên tổn tại thường xuyên trên đồng ruộng. Vệ sinh đồng ruộng thường xuyên, phun trừ môi giới truyền bệnh, tránh gây vét thương sây sát cho cây (Lê Lương Té, 2005). Bệnh sương mai (hay bệnh giả sương mai): tác nhân gây bệnh là nam Pseudoperonospora cubensis. Bệnh hại trên các bộ phận lá, thân, thậm chí cả quả nhưng hại lá là chủ yếu.
Trên lá, vết bệnh lúc đầu chỉ là những chấm nhỏ không màu hoặc màu xanh nhạt, sau đó chuyên sang màu xanh vàng đến nâu nhạt, hình tròn, đa giác hoặc hình bat định. Vết bệnh thường nằm rải rác trên lá hoặc nằm doc các gân lá. Mặt dưới lá chỗ vết bệnh thường hình thành một lớp nắm mốc màu trắng xám. Bệnh nặng, nhiều vết hợp lại thành vét lớn, gây rách nứt các mô tế bào, thậm chí làm lá biến dạng, cây phát triển yếu và chết.
Sự phát triển của bệnh rất thuận lợi khi có âm độ cao (mua phùn, mưa nhỏ, sương) và nhiệt độ tương đối thấp. Biện pháp tích cực dé phòng chống bệnh là tiêu hủy tàn dư than, lá bị bệnh, làm tốt vệ sinh đồng ruộng sau thu hoạch (Lê Lương Té, 2005). Bệnh phan trắng: bệnh do nam Erysiphe cichoracearum gây ra. Bệnh xuất hiện phá hại ngay thời kỳ cây con, hại lá, thân.
Ban đầu, trên lá xuất hiện những chấm nhỏ bao phủ một lớp nấm trắng xám day đặc như bột phan. Lá chuyển màu xanh sang vàng, lá khô cháy va rat dé lan rộng trên cả thân, hoa, làm cho hoa khô và chết. Cây bị bệnh giảm lượng đường, axít amin và phải thu hoạch quả sớm, năng suất kém. Bệnh lây lan nhanh bang bao tử nhờ không khí và gió, bao tử nảy mầm thuận lợi ở nhiệt độ 20 — 24°C và độ âm không khí cao.
Tuy vậy, bệnh vẫn có thé phát triển trong điều kiện khô hạn, sợi nắm và quả thể bảo tồn trên tàn dư cây bệnh (Lê Lương Tè, 2005). Tình hình sản xuất bí đỏ ở tỉnh Tây Ninh Cây bí đỏ là cây trồng hàng năm truyền thống của tỉnh, được trồng trên địa bàn 9 huyện, thị xã và thành phó trong tỉnh. Bí đỏ được trồng quanh năm, phân biệt thành 3 mùa vụ: Hè thu, Mùa và Đông xuân. Trong giai đoạn 2019 — 2021, diện tích và sản lượng bí đỏ tăng dần qua các năm.
Bí đỏ được trồng nhiều nhất ở huyện Tân Biên, Tan Châu va Duong Minh Châu. Tuy nhiên, diện tích bí đỏ trong năm 2021 của huyện Tân Biên bị giảm nhẹ (1,82%) so với năm 2020, trong khi diện tích của huyện Dương Minh Châu và Châu Thành tăng nhiều (11, 47% và 8,86%). Năng suất bí đỏ trung bình của tinh không cao, hơn 17 tan/ha.1 Diện tích, năng suất và sản lượng bí đỏ của Tây Ninh từ 2019 đến 2021 Chỉ tiêu tai dogg a 2019-2021 2019 2020 2021 Dién tich thu hoach (ha) 3. Khoảng cách trồng bí đỏ Theo Sathyamoorthi và cộng sự (2008), năng suất cây trồng là sự kết hợp giữa năng suất của từng cá thể cây và số lượng cây trên một đơn vi diện tích.
Số lượng cây được xác định thực nghiệm nhằm giúp cây trồng có thé tận dụng tối ưu các nguồn tai nguyên hiện có.