Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình sản xuất lúa trên Thế giới và ở Việt Nam 1. Tình hình sản xuất lúa trên Thế giới Trong những năm gần đây, tình hình sản xuất lúa gạo trên Thế giới đã có những thay đổi quan trọng. Nếu như trong 30 năm sau chiến tranh Thế giới lần thứ 2, sản lượng thóc của Thế giới chỉ tăng hơn 100% thì riêng trong 5 năm gần đây mức tăng đó đã đạt 130%.
So với các cây ngũ cốc khác sản lượng thóc có tốc độ tăng trung bình hàng năm cao nhất: 2,4% năm. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của toàn Thế giới trong thập kỷ gần đây Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (Tạ/ha) (Triệu tấn) 2004 151,02 40,3 608,37 2005 153,78 40,2 618,53 2006 155,6 41,2 641,2 2007 155,1 42,3 656,9 2008 160,2 43,9 688,5 2009 158,5 43,2 685,1 2010 161,7 43,3 701,7 2011 164,1 44,0 722,7 2012 163,2 44,1 719,0 2013 164,72 45,27 745,7 2014 163,27 45,38 740,95 (Nguồn: FAOSTAT 2016)[34] 5 Qua bảng 1.1 ta thấy về diện tích, năng suất và sản lượng lúa của Thế giới trong 10 năm trở lại đây có xu hướng tăng lên. Với việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất như chọn tạo các giống mới có năng suất, chất lượng tốt, thâm canh cao. làm cho năng suất lúa ngày một nâng cao.
Năm 2004 năng suất lúa bình quân trên Thế giới đạt 40,3 tạ/ha sau 10 năm năng suất lúa tăng 1,13 lần đạt 45,38 tạ/ha năm 2014. Tính đến nay trên Thế giới có trên 100 nước trồng lúa hầu hết ở các châu lục, với tổng diện tích 163,27 triệu ha.Tuy nhiên sản xuất lúa gạo vẫn tập trung chủ yếu ở các nước châu Á nơi chiếm tới 90% diện tích gieo trồng và sản lượng[33]. Trong đó Ấn Độ là nước có diện tích thu hoạch lúa lớn nhất (khoảng 43,4 triệu ha), tiếp đến là Trung Quốc (khoảng 30,87 triệu ha). Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của 10 nước có sản lượng lúa hàng đầu Thế giới năm 2014 Diện tích Năng suất Sản lượng Tên nước (Triệu ha) (Tạ/ha) (triệu tấn) Trung Quốc 30,87 67,45 208,23 Ấn Độ 43,40 36,22 157,20 Inđônêxia 13,79 51,34 70,84 Băngladesh 11,82 43,18 55,23 Việt Nam 7,81 57,53 44,97 Thái Lan 10,83 30,10 32,62 Myanma 6,79 38,91 26,42 Philippin 4,74 40,09 18,96 Braxin 2,34 52,01 12,17 Nhật Bản 1,57 66,97 10,54 (Nguồn FAOSTAT - 2016) 6 Theo số liệu của Bảng 1.2 thì trong 10 nước trồng lúa có sản lượng trên 10 triệu tấn/ năm đã có 9 nước nằm ở châu Á, chỉ có một đại diện của châu khác đó là Braxin (Nam Mỹ).
Riêng 8 nước là Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Inđônêxia, Bangladesh, Việt Nam, Myanma, Nhật Bản chiếm 85% sản lượng lúa của Thế giới. Trung Quốc và Nhật Bản là 2 nước có năng suất cao hơn hẳn đạt 67,45 tạ/ha (Trung Quốc) và 66,97 tạ/ha (Nhật Bản). Điều đó có thể lý giải là vì Trung Quốc là nước đi tiên phong trong lĩnh vực phát triển lúa lai và người dân nước này có tinh thần lao động cần cù, có trình độ thâm canh cao. Nhật Bản là nước có trình độ khoa học kỹ thuật cao, đầu tư lớn (Nguyễn Hữu Hồng, 1993)[16].
Việt Nam ta cũng là nước có năng suất lúa cao đứng hàng thứ 3 trong 10 nước trồng lúa chính, đạt 57,53 tạ/ha. Thái Lan tuy là nước xuất khẩu gạo đứng hàng đầu Thế giới trong nhiều năm liên tục, song năng suất chỉ đạt 30,10 tạ/ha, bởi vì Thái Lan chú trọng nhiều hơn đến canh tác các giống lúa dài ngày, giống lúa chất lượng cao (Bùi Huy Đáp, 1999)[10]. Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam 1. Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, lượng bức xạ mặt trời cao và đất đai tương đối thuận lợi cho ngành trồng lúa, có thể trồng được nhiều vụ lúa trong năm với nhiều giống lúa khác nhau.
Nước ta có địa bàn trải dài trên 15 vĩ độ Bắc bán cầu, từ Bắc vào Nam đã hình thành những đồng bằng châu thổ trồng lúa phì nhiêu, bao gồm Đồng bằng châu thổ sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long, đây là hai vựa lúa lớn nhất của cả nước không những sản xuất cung cấp nguồn lương thực chủ yếu để nuôi sống hàng chục triệu người mà còn xuất khẩu được hàng triệu tấn sang các nước khác. Nếu như diện tích trồng lúa nước ta năm 1961 chỉ là 4,74 triệu ha đến năm 2000 tăng lên 7,67 triệu ha. Trong giai đoạn đó nhờ vào cuộc cách mạng cải cách giống lúa và áp dung các tiến bộ khoa học kỹ thuật về thâm canh hợp lý nên năng suất và sản lượng lúa gạo nước ta cũng tăng lên rõ rệt. Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, nền sản xuất nông nghiệp 7 của nước ta chuyển từ kinh tế tập thể sang cơ chế kinh tế tự chủ nên đã khuyến khích người dân, các doanh nghiệp đầu tư về công sức tiền của cho việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất, thâm canh tăng vụ vì vậy sản lượng lúa của Việt Nam không ngừng được tăng cao.
Về cơ bản nước ta đã giải quyết được vấn đề thiếu lương thực, đảm bảo an ninh lương thực Quốc gia và là nước đứng thứ 2 trên Thế giới về xuất khẩu gạo. Tuy nhiên trong vài năm từ năm 2004 đến năm 2009 diện tích trồng lúa có giảm đi đôi chút từ 7,443 triệu ha năm 2004 xuống còn 7,437 triệu ha năm 2009 nhưng sản lượng lúa tăng lên qua các năm từ 35,88 triệu tấn năm 2004 lên 38,95 triệu tấn năm 2009 nhờ năng suất lúa tăng liên tục từ 48,21 tạ/ha (năm 2004) lên 52,37 tạ/ha năm 2009. Nguyên nhân chủ yếu của sự giảm diện tích này là do quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa đã và đang làm cho diện tích đất nông nghiệp nói chung và đất trồng lúa nói riêng giảm đáng kể. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa ở nước ta từ năm 2004 - 2014 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (Triệu tấn) 2004 7,44 48,21 35,88 2005 7,32 48,81 35,8 2006 7,32 48,91 35,82 2007 7,20 49,80 35,86 2008 7,40 52,33 38,72 2009 7,43 52,37 38,95 2010 7,48 53,41 40,00 2011 7,65 55,38 42,39 2012 7,75 56,31 43,66 2013 7,90 55,72 44,03 2014 7,81 57,53 44,97 (Nguồn: FAOSTAT 2016) 8 Trong mấy năm gần đây nhờ chính sách phát triển nông nghiệp của nhà nước và việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất nên diện tích trồng lúa có chiều hướng gia tăng lên đáng kể, năm 2010 diện tích gieo cấy cả nước đạt 7,489 triệu ha và đến năm 2013 đạt 7,902 triệu ha sản lượng đạt trên 44 triệu tấn.
Năm 2014 diện tích gieo cấy của cả nước so với năm 2013 có giảm đị đôi chút xuống còn 7,813 triệu ha xong năng suất tăng lên 57,60 tạ/ha nên sản lượng vẫn tăng hơn so với cùng kỳ năm 2013. Nhìn chung trong những năm qua sản xuất lúa gạo của chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng kể, năng suất và sản lượng lúa gạo không ngừng tăng. Có được kết quả như vật là do Đảng và Nhà nước ta đã có những chính sách hợp lý cho phát triển nông nghiệp như: hỗ trợ giá thành về giống, phân bón và các vật tư, thiết bị khác phục vụ nông nghiệp, đầu tư cho công tác nghiên cứu, chọn lọc ra các giống lúa mới có năng suất cao và ổn định, chất lượng tốt, khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh tốt đưa vào sản xuất,… chính điều đó đã góp phần làm tăng đáng kể năng suất và sản lượng lúa, đáp ứng nhu cầu trong nước và đưa nước ta trở thành nước xuất khẩu ra đứng thứ 2 trên Thế giới. Tình hình sản xuất giống lúa TBR45 ở Việt Nam TBR45 là giống lúa thuần do Công ty cổ phần giống cây trồng Thái Bình chọn tạo, qua quá trình khảo nghiệm tại Việt Nam từ vụ xuân năm 2005 đến năm 2008 bắt đầu đưa vào khảo nghiệm cơ bản trong hệ thống khảo nghiệm quốc gia và khảo nghiệm sản xuất tại Thái Bình.
Giống TBR45 đã được nông dân cả nước ứng dụng đưa vào sản xuất từ vụ xuân năm 2012. Vụ xuân 2011, Thái Thành đã cấy thử 1,2 ha giống TBR45. Tại huyện Hưng Hà đã cấy thử nghiệm TBR45 gần 300 ha trên các loại đất khác nhau, từ vàn cao đến chua trũng bằng cả hình thức gieo thẳng và cấy; kết quả cho thấy giống này chống chịu được bất lợi của thời tiết, như khô hạn, úng trũng, 9 rét.;chống đổ tốt, đẻ nhánh khoẻ, bệnh đạo ôn, khô vằn, rầy nhiễm nhẹ; năng suất cao, chất lượng gạo ngon tương đương với Bắc thơm 7. Tại tỉnh Phú Yên, giai đoạn 2010-2015 thực hiện dự án Đầu tư sản xuất lúa giống cấp siêu nguyên chủng và nguyên chủng, nhằm tiến đến xây dựng cánh đồng lúa Tuy Hòa chất lượng cao.
Vụ đông xuân năm 2014-2015, Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư triển khai mô hình cánh đồng mẫu trong sản xuất lúa chất lượng với giống cấp xác nhận là ML48, PC6, TBR45… với quy mô 35 ha. Kết quả của mô hình là năng suất lúa bình quân giống TBR45 đạt trên 70 tạ/ha, giống ML48 đạt trên 75 tạ/ha, lợi nhuận đạt trên 25 triệu đồng/ha. Mô hình cánh đồng mẫu trong sản xuất lúa chất lượng không chỉ mang lại kinh tế cho người sản xuất, mà còn tạo hiệu quả lớn cho xã hội. Vụ Xuân năm 2012, Trung tâm khuyến nông Hòa Bình, Trạm khuyến nông khuyến lâm huyện Lạc Sơn đã xây dựng mô hình trình diễn trồng thử nghiệm 3 giống lúa thuần TBR36, TBR45 và ĐH18 với diện tích 5ha, với mục đích để nông dân trong vùng đến tham quan học tập, trao đổi kinh nghiệm; từ đó thay thế dần những giống lúa kém chất lượng, đã thoái hoá nhằm tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho người dân.
Tại Hà Nội, vụ xuân 2012 Trung tâm Khuyến nông triển khai mô hình trình diễn các giống lúa mới có năng suất, chất lượng được triển khai ở 3 điểm với tổng diện tích là 30 ha tại các HTX Đồng Phú, An Mỹ, Cần Kiện trong đó HTX Cần Kiệm - Thạch Thất và HTX An Mỹ - Phú Mỹ cấy giống TBR45 áp dụng phương pháp gieo thẳng hàng. Qua triển khai các điểm này đều khẳng định lúa cấy bằng máy sinh trưởng, phát triển, chịu rét tốt, đẻ nhánh khoẻ, tập trung, số dảnh hữu hiệu cao, bình quân 8 - 10 dảnh/khóm, ruộng lúa thông thoáng, ít sâu bệnh, bông to, dài và đều bông, cho năng suất cao. Năm 2013 trung tâm đề nghị Sở Nông nghiệp & PTNT Hà Nội bổ sung các giống lúa: TBR45, TBR36 thay thế dần giống lúa KD18; bổ sung giống lúa RVT vào cơ cấu giống lúa chất lượng cao.