Đánh giá khả năng cung cấp lân của đất lúa trong điều kiện bón giảm lân và luân canh với cây màu

Tài liệu nghiên cứu Luận án đánh giá khả năng cung cấp lân của đất lúa trong điều kiện bón giảm lân tưới khô ngập luân, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Trường Đại học Cần Thơ

Chuyên ngành

Khoa học đất

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2018

171
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM TẠ

LÝ LỊCH KHOA HỌC

TÓM LƯỢC

ABSTRACT

LỜI CAM KẾT

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Cở sở lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu

1.3. Mục tiêu nghiên cứu của luận án

1.3.1. Mục tiêu chung

1.3.2. Mục tiêu cụ thể

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5. Những điểm mới của luận án

1.6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

1.6.1. Ý nghĩa khoa học

1.6.2. Ý nghĩa thực tiễn

1.7. Nội dung luận án

1.8. Hạn chế của luận án

2. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tóm tắt

I. Giới thiệu

Nghiên cứu về khả năng cung cấp lân của đất lúa trong điều kiện bón giảm lânluân canh là rất cần thiết. Lân (P) là một nguyên tố thiết yếu cho sự sinh trưởng của cây trồng, nhưng khả năng cung cấp P thường bị giới hạn do P bị cố định trong đất. Tại Đồng bằng sông Cửu Long, nông dân thường bón dư thừa P để bù đắp cho lượng P bị cố định. Việc này dẫn đến sự tích lũy P trong đất qua nhiều vụ canh tác. Hơn nữa, sự thay đổi trong biện pháp canh tác và quản lý đất để thích ứng với xâm nhập mặn cũng ảnh hưởng đến độ hữu dụng của P. Kỹ thuật tưới ngập-khô xen kẽ và luân canh lúa với cây trồng cạn là hai giải pháp được áp dụng nhằm tiết kiệm nước và giảm rủi ro do xâm nhập mặn.

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Tình hình xâm nhập mặn ngày càng gia tăng ở Đồng bằng sông Cửu Long đã đặt ra thách thức lớn cho nông dân trong việc duy trì năng suất lúa. Việc áp dụng các biện pháp canh tác như tưới ngập-khô xen kẽluân canh không chỉ giúp tiết kiệm nước mà còn cải thiện khả năng cung cấp P cho cây trồng. Nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng của các biện pháp này đến năng suất lúa và khả năng cung cấp P của đất, từ đó đưa ra khuyến cáo hợp lý cho nông dân.

II. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện thông qua các thí nghiệm tại ba địa điểm khác nhau, bao gồm đất phù sa trồng lúa tại Bạc Liêu, Cần Thơ và đất phèn tại An Giang. Các thí nghiệm được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên với bốn nghiệm thức bón phân P khác nhau. Mỗi nghiệm thức được lặp lại ba lần để đảm bảo tính chính xác của kết quả. Các chỉ tiêu được phân tích bao gồm hàm lượng P hữu dụng trong đất, năng suất lúa, và các yếu tố môi trường như pH và EC trong đất.

2.1 Thiết kế thí nghiệm

Thí nghiệm bón giảm phân P được thực hiện liên tiếp trong 7 vụ canh tác. Các nghiệm thức bao gồm không bón phân P, bón 20 kg P2O5/ha, 40 kg P2O5/ha và 60 kg P2O5/ha. Mỗi vụ, hàm lượng P trong đất và trong hạt được phân tích để đánh giá sự thay đổi về khả năng cung cấp P. Kết quả cho thấy bón phân P ở liều lượng 40 kg P2O5/ha có thể duy trì quỹ P trong đất và bổ sung lượng P mất đi do cây trồng hấp thu.

III. Kết quả và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy khả năng cung cấp P của đất phụ thuộc vào liều lượng phân bón và phương pháp tưới. Việc bón 60 kg P2O5/ha làm gia tăng hàm lượng P tổng trong đất, trong khi không bón P hoặc bón ở liều lượng thấp làm giảm hàm lượng P tổng. Áp dụng biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ giúp tiết kiệm nước và không ảnh hưởng đến P hữu dụng trong đất. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng luân canh cây rau màu trên nền đất lúa có thể cải thiện khả năng cung cấp P cho vụ lúa tiếp theo.

3.1 Ảnh hưởng của bón phân P

Bón phân P ở liều lượng 40 kg P2O5/ha giúp duy trì hàm lượng P trong đất, trong khi bón 60 kg P2O5/ha có thể dẫn đến rửa trôi P ra môi trường. Kết quả cho thấy rằng việc áp dụng các biện pháp bón phân hợp lý có thể giúp nông dân duy trì năng suất lúa mà không làm gia tăng tình trạng tích lũy P trong đất.

IV. Kết luận và khuyến nghị

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc áp dụng tưới ngập-khô xen kẽ kết hợp với bón phân P ở liều lượng 40 kg P2O5/ha là phương pháp hiệu quả cho đất phù sa canh tác lúa tại Bạc Liêu. Phương pháp này không chỉ giúp tiết kiệm nước mà còn duy trì được P trong đất và năng suất lúa. Luân canh cây rau màu cũng là một giải pháp khả thi để cải thiện khả năng cung cấp P cho vụ lúa tiếp theo.

4.1 Khuyến nghị cho nông dân

Nông dân nên áp dụng các biện pháp tưới và bón phân hợp lý để tối ưu hóa khả năng cung cấp P của đất. Việc luân canh cây rau màu trên nền đất lúa có thể giúp cải thiện độ hữu dụng của P và duy trì năng suất lúa trong dài hạn.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Cùng với sự gia tăng dân số trên thế giới, vấn đề anh ninh lương thực đang tạo áp lực rất lớn lên ngành sản xuất nông nghiệp đặc biệt là ngành trồng lúa nước. Do đó, cải thiện các biện pháp canh tác lúa như tăng vụ, tăng sử dụng lượng phân bón đã được thực hiện nhằm duy trì và gia tăng sản lượng lúa. Trong canh tác lúa, lân (P) là nguyên tố dinh dưỡng đa lượng cần thiết bên cạnh đạm (N) và kali (K) (Tanwar và Shaktawat, 2003; Li et al., 2005; Zhang et al., 2009; Yu et al. Hiện nay, sử dụng phân P trong canh tác nông nghiệp nói chung và đặc biệt là canh tác lúa nước đang nhận được rất nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học do nguồn tài nguyên P đang ngày càng cạn kiệt và trở nên không thể phục hồi (Cordell et al.

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vựa lúa lớn nhất của Việt Nam, hằng năm cung cấp khoảng 90% sản lượng lúa xuất khẩu của cả nước. Cùng với sản lượng cao nên phân bón sử dụng trong canh tác lúa ở ĐBSCL mỗi năm rất cao. Đối với phân P, lượng phân được nông dân bón trên đất lúa thực tế thường cao hơn khuyến cáo và cao hơn tổng lượng P được cây lúa hấp thu và lấy đi khỏi đất qua thu hoạch và rơm rạ do khả năng hữu dụng của P trong đất canh tác lúa thường thấp do P bị cố định bởi phản ứng với các nguyên tố như sắt (Fe), nhôm (Al), canxi (Ca) và các keo sét. Theo Vũ Văn Long và ctv.

(2016), nông dân tại tỉnh Bạc Liêu bón phân P với liều lượng phổ biến từ 60 đến 90 kg P2O5/ha trong vụ Đông Xuân 2013-2014 tại tỉnh Bạc Liêu mặc dù lượng P được cây lúa lấy đi khoảng 40 kg P2O5/ha. Bón phân P cao trong nhiều năm có thể đã tăng tích lũy P trong đất canh tác lúa, gây lãng phí lượng phân P và tăng chi phí sản xuất. Kết quả nghiên cứu trên vùng đất phèn trồng lúa tại huyện Phụng Hiệp của tỉnh Hậu Giang cho thấy đối với nghiệm thức bón 90 kg P2O5/ha kết hợp với bón 120 kg N/ha ở vụ 1 và không bón phân P sau 2 vụ liên tiếp thì hiệu quả sử dụng phân P vẫn lưu tồn đến vụ thứ 3, năng suất lúa ở hai vụ sau đối với nghiệm thức không bón P khác biệt không ý nghĩa so với nghiệm thức có bón phân P (Võ Thị Gương và ctv. Kết quả nghiên cứu về tích lũy P trong đất trồng rau màu ở ĐBSCL cũng ghi nhận hàm lượng P hữu dụng trong đất ở nhiều vùng trồng rau chuyên canh tại các tỉnh như huyện Châu Thành (Tiền Giang), huyện Chợ Mới (An Giang), huyện Bình Tân (Vĩnh Long) và huyện Châu Thành của tỉnh Trà Vinh thường rất cao (129-234 mg P/kg) do tập quán bón phân P với liều lượng cao (Nguyễn Mỹ Hoa và ctv., 2006; Phạm Thị Phương Thúy và ctv.

Các kết quả nghiên cứu trên cho thấy hiện tượng tích lũy P trong đất đã và đang diễn ra ở các 1 vùng sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL (Nguyễn Mỹ Hoa và ctv., 2006; Phạm Thị Phương Thúy và ctv. Do đó, bón giảm lượng phân P trong canh tác lúa là một trong những vấn đề cần được nghiên cứu nhằm giảm chi phí phân bón, tăng hiệu quả sử dụng phân P trong khi vẫn duy trì lượng P trong đất và năng suất lúa. Bón giảm phân P trong canh tác lúa có thể sẽ làm thay đổi khả năng cung cấp P hữu dụng trong đất. Bên cạnh đó, thay đổi biện pháp canh tác để thích hợp với tình trạng khan hiếm nước ngọt trong tình hình xâm nhập mặn ngày càng nghiêm trọng ở ĐBSCL cũng có thể ảnh hưởng đến độ hữu dụng của P trong đất.

Trong canh tác lúa truyền thống, nông dân thường xuyên giữ nước trên mặt ruộng, nhưng để thích ứng với lượng nước ngọt để sản xuất lúa đang giảm đi trong những năm gần đây thì áp dụng biện pháp tưới tiết kiệm nước trong canh tác lúa là cần thiết. Theo Bouman et al. (2007a), một số điểm nóng trồng lúa nước của nhiều quốc gia trên thế giới sẽ bị thiếu nước tưới bao gồm Philippines, Bangladesh, Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan và vùng ĐBSCL của Việt Nam. Ở ĐBSCL, theo dự đoán của các nhà khoa học, mực nước biển sẽ gia tăng 30 cm cho đến năm 2050 và diện tích sản xuất lúa của ĐBSCL sẽ chịu ảnh hưởng rất lớn bởi tình trạng xâm nhập mặn (Smajgl et al.

Theo tính toán, khoảng 2,3 triệu ha diện tích canh tác lúa chịu ảnh hưởng lớn (= 60% diện tích sản xuất lúa của ĐBSCL), 0,6 triệu ha (= 15% diện tích sản xuất lúa) chịu ảnh hưởng trung bình và 1 triệu ha (= 25% diện tích sản xuất lúa) chịu ảnh hưởng một phần của xâm nhập mặn (Wassmann et al. Do đó, thay đổi kỹ thuật canh tác lúa bằng cách áp dụng biện pháp tưới tiết kiệm nước cho lúa và thay đổi cơ cấu cây trồng từ chuyên canh lúa sang luân canh lúa-màu nhằm ứng phó với tình trạng thiếu hụt nguồn nước ngọt và xâm nhập mặn là vấn đề hết sức cấp bách. Trong đó, biện pháp tưới khô-ngập luân phiên hay còn gọi là biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ (AWD-Alternate wetting and drying irrigation) được xem là biện pháp có rất nhiều triển vọng. Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy rằng, so với tưới nước theo phương pháp truyền thống, biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ có thể giúp tiết kiệm được nguồn nước tưới trong canh tác mà vẫn duy trì được năng suất lúa.

Sau giai đoạn lúa trổ, áp dụng biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ có thể giúp giảm 40-70% lượng nước vào ruộng so với kỹ thuật tưới ngập truyền thống (Hatta, 1967; Singh et al. Biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ đã được áp dụng thành công ở nhiều quốc gia như Trung Quốc, Bangladesh, Philippines, Pakistan và Ấn Độ. Ở Trung Quốc, áp dụng biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ có thế giúp tiết kiệm được từ 5-35% lượng nước tưới cho lúa (Li, 2001; Belder et al., 2004; Cabangon et al., 2004; Li và Barker, 2004; Moya et al., 2004; Yang et al., 2 2005; Tao et al., 2006; Feng et al., 2007; Cabangon et al., 2011; Tan et al. Một số kết quả nghiên cứu khác cho thấy có thể áp dụng biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ ở Bangladesh, Philippines và Pakistan trong canh tác lúa mà vẫn duy trì được năng suất lúa so với tưới ngập liên tục (Aslam và Prathapar, 2001; Tabbal et al., 2002; Lampayan et al., 2004; Belder et al., 2005; Tuong, 2007; Bouman et al., 2007a; Salim và Shehzad, 2008; Rejesus et al., 2011; Bouman và Tuong, 2001).

Ở ĐBSCL, biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ cũng đã được thử nghiệm tại một số địa phương trọng điểm sản xuất lúa ba vụ như An Giang và Bạc Liêu. Kết quả cho thấy biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ giúp tiết kiệm lượng nước và chi phí tưới, năng suất lúa vẫn ổn định nếu như vẫn đảm bảo lượng nước tưới tại những giai đoạn sinh trưởng quan trọng của lúa (nhảy chồi tích cực, trổ hoa). Lượng nước tiết kiệm được khi áp dụng tưới ngập-khô xen kẽ có thể đạt được 9% (Nhan et al., 2007), 21% (Dung et al., 2009) và có thể đạt 50% (Phạm Phước Nhẫn và ctv. Bên cạnh áp dụng biện pháp tưới nước tiết kiệm, thay đổi cơ cấu cây trồng theo hướng luân canh lúa với các loại cây trồng có nhu cầu tiêu thụ nước ít có thể ứng phó được với tình trạng thiếu hụt nguồn nước và hạn chế ảnh hưởng của xâm nhập mặn.

Trong các hệ thống luân canh, luân canh cây rau màu trên nền đất lúa được xem là giải pháp mang lại nhiều triển vọng cho ngành nông nghiệp. Do thời gian sinh trưởng của cây màu ngắn hơn so với cây lúa, do đó người dân có thể chủ động canh tác và thu hoạch trước khi tình trạng khô hạn và xâm nhập mặn diễn ra. Các nghiên cứu trước đây cho thấy canh tác lúa sau khi áp dụng biện pháp luân canh còn có thể giúp tăng năng suất lúa so với mô hình độc canh lúa (Nguyễn Minh Đông và ctv., 2009; Võ Thị Gương và ctv. Sau vụ canh tác rau màu, năng suất lúa vụ tiếp theo có thể gia tăng từ 13-20% (Witt et al.

Áp dụng biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ và chuyển đổi mô hình canh tác lúa truyền thống sang mô hình luân canh lúa với cây màu sẽ làm thay đổi tình trạng thoáng khí của đất, từ đó ảnh hưởng đến các phản ứng hóa học trong đất có liên quan đến tiến trình khử các hợp chất Fe, Al có khả năng liên kết với P, do đó dẫn đến sự thay đổi về khả năng cung cấp P hữu dụng trong đất. P hữu dụng trong đất là một chỉ tiêu đánh giá độ phì nhiêu của đất rất quan trọng bên cạnh N và K. Ngoài ra, P hữu dụng cũng được xem là một trong những công cụ để đánh giá tác động đối với môi trường của P trong đất (Allen và Mallarino, 2006). Trên thế giới và tại Việt Nam, đã có rất nhiều nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ và biện pháp luân canh cây màu đối với dinh dưỡng N của cây trồng, chuyển hóa N trong đất và phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính như N2O trong quá trình canh tác lúa (Cabangon et 3 al., 2004; Huan et al., 2008; Dong et al.

Tuy nhiên, những nghiên cứu về ảnh hưởng của bón giảm phân P, áp dụng biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ, kết hợp biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ với bón giảm phân P và áp dụng luân canh lúa-màu đến khả năng cung cấp P của đất lúa ở ĐBSCL còn rất hạn chế. Do đó, nghiên cứu về đánh giá khả năng cung cấp P của đất lúa dưới điều kiện bón giảm phân P, thay đổi biện pháp tưới ngập trong canh tác lúa truyền thống bằng biện pháp tưới ngập-khô xen kẽ và luân canh lúa-màu là rất cần thiết ở ĐBSCL, đặc biệt trong điều kiện nguồn nước ngọt ngày càng khan hiếm do phát triển thủy điện ở thượng nguồn sông Cửu Long và xâm nhập mặn trong mùa khô. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ tạo cơ sở lý luận và thực tiễn giúp quản trị nguồn tài nguyên P một cách hợp lý và hiệu quả trong canh tác lúa thích ứng với điều kiện thiếu nước tưới và xâm nhập mặn có xu hướng gia tăng ở ĐBSCL.2 Cở sở lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu Lân (P) là một trong những nguyên tố dinh dưỡng đa lượng cần thiết cho sinh trưởng và phát triển của cây trồng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án "Đánh giá khả năng cung cấp lân của đất lúa trong điều kiện bón giảm lân và luân canh với cây màu" của tác giả Vũ Văn Long, dưới sự hướng dẫn của PGS. TS Châu Minh Khôi tại Trường Đại học Cần Thơ, nghiên cứu về khả năng cung cấp lân của đất lúa khi áp dụng biện pháp bón giảm lân và luân canh với cây màu. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình trạng dinh dưỡng của đất lúa mà còn đưa ra những khuyến nghị hữu ích cho nông dân trong việc quản lý đất đai và tối ưu hóa năng suất cây trồng.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến nông nghiệp và quản lý đất đai, bạn có thể tham khảo các tài liệu như Giáo trình hướng dẫn tổ chức công tác khuyến nông hiệu quả, nơi cung cấp các phương pháp tổ chức và quản lý trong lĩnh vực nông nghiệp, hay Sử dụng Đất Nông Nghiệp ở Nông Cống, Thanh Hóa (2014-2019): Hiện Trạng và Phân Tích, giúp bạn hiểu rõ hơn về tình hình sử dụng đất nông nghiệp trong một khu vực cụ thể. Cuối cùng, bài viết Đánh giá phát thải khí nhà kính N2O và CH4 trên hai mô hình canh tác lúa sẽ cung cấp cái nhìn về tác động môi trường của các phương pháp canh tác lúa, từ đó giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về nông nghiệp bền vững.