Luận án tiến sĩ đánh giá hiệu lực trực tiếp và tồn dư của phân bón vô cơ đa lượng đến sinh trưởng năng suất và chất lượng lúa cao sản tại đồng bằng sông cửu long

Luận án tiến sĩ đánh giá hiệu lực của phân bón vô cơ đa lượng đối với sinh trưởng, năng suất và chất lượng lúa tại đồng bằng sông Cửu Long.

Trường đại học

Cần Thơ University

Chuyên ngành

Khoa học cây trồng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

249
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục hình

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

2. Mục tiêu nghiên cứu

3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

3.1. Ý nghĩa khoa học

3.2. Ý nghĩa thực tiễn

4. Tính mới của đề tài

5. Đối tượng nghiên cứu và phạm vị nghiên cứu

6. Cấu trúc của luận án

1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Cơ sở khoa học của đề tài

1.2. Tổng quan về phân bón trong sản xuất lúa ở ĐBSCL

1.3. Tình hình sản xuất lúa ở ĐBSCL

1.4. Đất trồng lúa ở ĐBSCL

1.5. Tình hình nghiên cứu sử dụng phân bón N, P, K cho lúa ở ĐBSCL

1.6. Tổng quan nghiên cứu hiệu lực của phân N, P, K đối với cây lúa

1.6.1. Hiệu lực của phân bón

1.6.2. Hiệu lực của phân N đối với cây lúa

1.6.2.1. Vai trò của chất N và sự hấp thu N đối với cây lúa
1.6.2.2. Chất N trong đất
1.6.2.3. Hiệu lực của phân N đối với cây lúa

1.6.3. Hiệu lực của phân P đối với cây lúa

1.6.3.1. Vai trò của chất P và sự hấp thu P đối với cây lúa
1.6.3.2. Chất P trong đất
1.6.3.3. Hiệu lực của phân P đối với cây lúa

1.6.4. Hiệu lực của phân K đối với cây lúa

1.6.4.1. Vai trò của chất K và sự hấp thu K đối với cây lúa
1.6.4.2. Chất K trong đất
1.6.4.3. Hiệu lực của phân K đối với cây lúa

1.7. Bón phân cân đối và kết hợp các yếu tố N, P, K

1.8. Ảnh hưởng của phân bón N, P, K đến chất lượng lúa gạo

1.9. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả và hiệu suất sử dụng phân bón N, P, K cho lúa

2. VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng, vật liệu nghiên cứu

2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm

2.4.2. Phương pháp chi tiết đối với từng thí nghiệm

2.4.2.1. Xác định hiệu lực trực tiếp của phân N; hiệu lực tồn dư và cộng dồn của phân P và K đến năng suất và chất lượng lúa ba vụ trên đất phù sa ở Cần Thơ
2.4.2.2. Xác định hiệu lực trực tiếp của phân N; hiệu lực tồn dư và cộng dồn của phân P và K đối với lúa hai vụ trên đất phèn ở Hậu Giang

2.5. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

2.5.1. Phương pháp thu thập các chỉ tiêu theo dõi

2.5.2. Phương pháp xử lý số liệu

3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Đặc điểm vùng nghiên cứu

3.2. Hiệu lực trực tiếp của phân N, phân P, phân K đến năng suất lúa ba vụ trên đất phù sa, tại Cần Thơ và lúa hai vụ trên đất phèn, tại Hậu Giang

3.2.1. Hiệu lực trực tiếp của phân N, phân P, phân K đến năng suất lúa ba vụ trên đất phù sa, tại Cần Thơ

3.2.1.1. Ảnh hưởng trực tiếp của các nghiệm thức phân bón đến các thành phần năng suất lúa ba vụ trên đất phù sa, tại Cần Thơ
3.2.1.2. Ảnh hưởng trực tiếp của các nghiệm thức N, P, K đến năng suất trên cơ cấu 3 vụ lúa/năm, trên đất phù sa, tại Cần Thơ
3.2.1.3. Hiệu suất sử dụng của phân N, P, K trên cơ cấu lúa 3 vụ/năm, vùng đất phù sa, tại Cần Thơ

3.2.2. Hiệu lực trực tiếp của phân N, phân P, phân K đến năng suất lúa hai vụ trên đất phèn, tại Hậu Giang

3.2.2.1. Ảnh hưởng trực tiếp của các nghiệm thức phân bón đến các thành phần năng suất lúa hai vụ trên đất phèn, tại Hậu Giang
3.2.2.2. Ảnh hưởng trực tiếp của các nghiệm thức phân bón đến năng suất lúa hai vụ trên đất phèn, tại Hậu Giang
3.2.2.3. Hiệu suất sử dụng của phân N, P, K trên cơ cấu lúa 2 vụ/năm, vùng đất phèn, tại Hậu Giang

3.3. Hiệu lực tồn dư và cộng dồn của phân P đến năng suất lúa ba vụ trên đất phù sa, tại Cần Thơ và lúa hai vụ, tại Hậu Giang

3.3.1. Hiệu lực tồn dư và cộng dồn của phân P đến năng suất lúa ba vụ trên đất phù sa, tại Cần Thơ

3.3.1.1. Ảnh hưởng của các tần suất bón P đến các thành phần năng suất trên cơ cấu 3 vụ lúa/năm, trên đất phù sa, tại Cần Thơ
3.3.1.2. Ảnh hưởng của các tần suất bón P đến năng suất lúa trên cơ cấu 3 vụ lúa/năm, vùng phù sa, tại Cần Thơ
3.3.1.3. Năng suất cộng dồn của các nghiệm thức bón P theo từng mùa vụ và tổng cộng 11 vụ trên cơ cấu 3 vụ lúa/năm, trên đất phù sa, tại Cần Thơ

3.3.2. Hiệu lực tồn dư và cộng dồn của phân P đến năng suất lúa hai vụ trên đất phèn, tại Hậu Giang

3.3.2.1. Ảnh hưởng của các tần suất bón P đến các thành phần năng suất lúa hai vụ trên đất phèn, tại Hậu Giang
3.3.2.2. Ảnh hưởng của các tần suất bón P đến năng suất lúa hai vụ trên đất phèn, tại Hậu Giang

3.4. Hiệu lực tồn dư và cộng dồn của phân K đến năng suất lúa ba vụ trên đất phù sa, tại Cần Thơ và lúa hai vụ trên đất phèn, tại Hậu Giang

3.4.1. Hiệu lực tồn dư và cộng dồn của phân K đến năng suất lúa ba vụ trên đất phù sa, tại Cần Thơ

3.4.1.1. Ảnh hưởng của các tần suất bón K đến các thành phần năng suất trên cơ cấu 3 vụ lúa/năm, trên đất phù sa, tại Cần Thơ
3.4.1.2. Ảnh hưởng trực tiếp của các tần suất bón K đến năng suất trên cơ cấu 3 vụ lúa/năm, trên đất phù sa, tại Cần Thơ

3.4.2. Hiệu lực tồn dư và cộng dồn của phân K đến năng suất lúa 2 vụ trên đất phèn, tại Hậu Giang

3.4.2.1. Ảnh hưởng của các tần suất bón K đến các thành phần năng suất lúa hai vụ trên đất phèn, tại Hậu Giang
3.4.2.2. Ảnh hưởng của các tần suất bón K đến năng suất lúa hai vụ trên đất phèn, tại Hậu Giang

3.5. Ảnh hưởng của các nghiệm thức đến chất lượng gạo của lúa ba vụ trên đất phù sa, tại Cần Thơ và lúa hai vụ trên đất phèn, tại Hậu Giang

3.5.1. Ảnh hưởng của các nghiệm thức đến chất lượng gạo của lúa ba vụ trên đất phù sa, tại Cần Thơ

3.5.1.1. Ảnh hưởng đến tỷ lệ xay xát gạo
3.5.1.2. Ảnh hưởng đến tỷ lệ gạo bạc bụng gạo

3.5.2. Ảnh hưởng của các nghiệm thức đến chất lượng gạo của lúa hai vụ trên đất phèn, tại Hậu Giang

3.5.2.1. Ảnh hưởng đến tỷ lệ xay xát gạo
3.5.2.2. Ảnh hưởng đến tỷ lệ bạc bụng gạo

3.6. Đề xuất lượng phân bón cho lúa ba vụ trên đất phù sa, tại Cần Thơ và lúa hai vụ trên đất phèn, tại Hậu Giang

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐỀN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ CHƯƠNG 1

PHỤ CHƯƠNG 2

PHỤ CHƯƠNG 3

PHỤ CHƯƠNG 4

Tóm tắt

I. Giới thiệu

Nghiên cứu về hiệu lực phân bón vô cơ đa lượng đối với lúa cao sản tại đồng bằng sông Cửu Long là một vấn đề cấp thiết trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp hiện nay. Phân bón đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất và chất lượng lúa. Theo số liệu, phân bón N, P, K có ảnh hưởng lớn đến năng suất lúa, với phân N có thể tăng năng suất lên đến 45%. Tuy nhiên, việc sử dụng phân bón không hợp lý dẫn đến lãng phí và ô nhiễm môi trường. Do đó, việc đánh giá hiệu lực phân bón là cần thiết để tối ưu hóa việc sử dụng phân bón trong sản xuất lúa.

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Sự gia tăng nhu cầu lúa gạo và áp lực từ biến đổi khí hậu đã khiến cho việc nghiên cứu về phân bón trở nên cấp thiết. Tại đồng bằng sông Cửu Long, nơi có diện tích trồng lúa lớn, việc sử dụng phân bón hợp lý không chỉ giúp tăng năng suất mà còn bảo vệ môi trường. Nghiên cứu này sẽ cung cấp thông tin quan trọng về hiệu lực phân bón và các biện pháp cải thiện năng suất lúa.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chính của nghiên cứu là xác định hiệu lực trực tiếp của phân N, P, K đến năng suất lúa ba vụ trên đất phù sa và lúa hai vụ trên đất phèn. Ngoài ra, nghiên cứu cũng sẽ đánh giá hiệu lực tồn dưcộng dồn của phân P và K, từ đó đề xuất lượng phân bón hợp lý cho lúa cao sản.

II. Tổng quan tài liệu

Tình hình sản xuất lúa ở đồng bằng sông Cửu Long đã có nhiều nghiên cứu trước đây, tuy nhiên, việc đánh giá hiệu lực phân bón vẫn còn hạn chế. Các nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng phân bón N, P, K có thể cải thiện đáng kể năng suất lúa. Tuy nhiên, hiệu suất sử dụng phân bón vẫn còn thấp, với phân N chỉ đạt 45-50%. Điều này cho thấy cần có các nghiên cứu sâu hơn về tác động của phân bón đến năng suất lúa.

2.1 Tình hình nghiên cứu sử dụng phân bón

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng phân bón N, P, K không đồng đều giữa các vùng. Tại đồng bằng sông Cửu Long, phân N được sử dụng nhiều nhất, nhưng hiệu quả sử dụng vẫn chưa cao. Việc nghiên cứu hiệu lực phân bón sẽ giúp cải thiện tình hình này, đồng thời giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

2.2 Hiệu lực của phân bón

Hiệu lực của phân bón N, P, K đến năng suất lúa đã được chứng minh qua nhiều nghiên cứu. Phân N có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sinh trưởng, trong khi phân P và K cũng không kém phần quan trọng. Việc đánh giá hiệu lực tồn dưcộng dồn của các loại phân bón này sẽ giúp tối ưu hóa quy trình canh tác lúa.

III. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện thông qua các thí nghiệm trên các loại đất khác nhau tại đồng bằng sông Cửu Long. Các nghiệm thức phân bón được bố trí ngẫu nhiên để đánh giá hiệu lực phân bón đến năng suất lúa. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu sẽ được thực hiện theo tiêu chuẩn khoa học nhằm đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của kết quả.

3.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là cây lúa cao sản, được trồng trên đất phù sa và đất phèn tại Cần ThơHậu Giang. Thời gian nghiên cứu kéo dài qua nhiều vụ lúa để đảm bảo tính đại diện cho các điều kiện canh tác khác nhau.

3.2 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

Số liệu sẽ được thu thập từ các chỉ tiêu sinh trưởng, năng suất và chất lượng lúa. Phương pháp thống kê sẽ được áp dụng để phân tích dữ liệu, từ đó rút ra kết luận về hiệu lực phân bón và đề xuất các biện pháp cải thiện hiệu quả sử dụng phân bón trong sản xuất lúa.

IV. Kết quả và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu lực phân bón N, P, K có ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất lúa. Phân N có tác động mạnh mẽ nhất, trong khi phân P và K cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng lúa. Các số liệu thu thập được sẽ được phân tích để đưa ra các khuyến nghị cụ thể về lượng phân bón cần thiết cho từng loại đất.

4.1 Hiệu lực trực tiếp của phân bón

Kết quả cho thấy phân N có thể tăng năng suất lúa lên đến 45%, trong khi phân P và K cũng góp phần không nhỏ vào việc nâng cao năng suất. Việc sử dụng phân bón hợp lý sẽ giúp tăng cường hiệu quả sản xuất lúa tại đồng bằng sông Cửu Long.

4.2 Hiệu lực tồn dư và cộng dồn

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng hiệu lực tồn dư của phân P và K có thể kéo dài qua nhiều vụ lúa, giúp giảm thiểu chi phí đầu tư cho nông dân. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc nghiên cứu hiệu lực phân bón để tối ưu hóa quy trình canh tác lúa.

V. Kết luận và đề nghị

Nghiên cứu đã xác định được hiệu lực phân bón vô cơ đa lượng đối với lúa cao sản tại đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả cho thấy cần có các biện pháp điều chỉnh lượng phân bón N, P, K để nâng cao hiệu suất sử dụng và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Đề xuất các giải pháp cụ thể cho nông dân trong việc sử dụng phân bón hiệu quả hơn.

5.1 Đề xuất lượng phân bón

Đề xuất lượng phân bón N, P, K hợp lý cho từng loại đất nhằm tối ưu hóa năng suất lúa. Việc này không chỉ giúp tăng năng suất mà còn bảo vệ môi trường, giảm thiểu ô nhiễm do phân bón gây ra.

5.2 Khuyến nghị cho nông dân

Khuyến nghị nông dân áp dụng các biện pháp canh tác bền vững, sử dụng phân bón hợp lý để nâng cao hiệu quả sản xuất lúa. Cần có sự hỗ trợ từ các cơ quan chức năng trong việc cung cấp thông tin và kỹ thuật canh tác.

25/01/2025
Luận án tiến sĩ đánh giá hiệu lực trực tiếp và tồn dư của phân bón vô cơ đa lượng đến sinh trưởng năng suất và chất lượng lúa cao sản tại đồng bằng sông cửu long

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở khoa học của đề tài Theo đánh giá của Viện Dinh dưỡng Cây trồng Quốc tế, phân bón đóng góp khoảng 30-35% tổng sản lượng cây trồng. Tại Trung Quốc, phân bón đóng góp 40%, giống mới đóng góp 30%, bảo vệ thực vật đóng góp 20% và cơ giới hóa đóng góp 10% vào việc tăng năng suất cây trồng (Dongxin FENG, 2012). Điều đó cho thấy, phân bón đóng vai trò quan trọng nhất trong nhóm kỹ thuật nâng cao năng suất cây trồng.

Theo Nguyễn Văn Luật (2009), để đạt năng suất lúa tối đa và tối ưu cần nghiên cứu mối tương quan giữa đất, phân bón và năng suất lúa nhằm xác định khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cây lúa ở từng loại đất, còn phải bón phân cho lúa bao nhiêu nữa và bón như thế nào. Nghiên cứu về mối quan hệ giữa dinh dưỡng đất, lượng phân bón và năng suất cây trồng của Phan Liêu (1994) cho thấy đất cho năng suất cao và cho lợi nhuận là nhờ đất có độ phì, mà độ phì đất lại phụ thuộc vào trạng thái dinh dưỡng của đất và vai trò của phân bón. Lượng dinh dưỡng có trong đất thường không đủ cung cấp cho cây để đạt năng suất và chất lượng mong muốn. Do vậy, bón phân để cung cấp đủ nhu cầu dinh dưỡng cho cây là rất cần thiết.

Việc bón bổ sung phân cho cây phụ thuộc vào đặc điểm của từng giống, chân đất, mùa vụ và kỹ thuật canh tác. Nghiên cứu bón phân theo nhu cầu của cây, có xem xét đến khả năng cung cấp dinh dưỡng từ nguồn trong đất đã được Dobermann and Witt. (2004) đánh giá một cách chính xác thông qua ứng dụng kỹ thuật ô khuyết. Để tính toán lượng phân N, P, K theo yêu cầu của cây cho từng vùng chuyên biệt (SSNM), mô hình QUEFTS cải tiến (Janssen et al., 1990) được sử dụng.

Các thông số cần thiết như năng suất mục tiêu, nhu cầu N, P, K của cây để đạt năng suất mục tiêu, khả năng cung cấp N, P, K của đất, hiệu quả sử dụng phân bón N, P, K cần thiết phải xác định. Chương trình nghiên cứu bón phân theo nhu cầu của cây đã xây dựng được phần mềm tính toán lượng phân bón khuyến cáo cho nông dân khá chính xác đang được ứng dụng rộng rãi ở luan an 6 Indonesia và Philippines. Các phần mềm này cũng được giới thiệu tại Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam (Buresh, 2010). Tổng quan về phân bón trong sản xuất lúa ở ĐBSCL 1.

Tình hình sản xuất lúa ở ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa lớn nhất nước, với diện tích sản xuất lúa trên 4 triệu hecta và sản lượng lúa khoảng 24 triệu tấn/năm, chiếm tỷ lệ trên 50% sản lượng lúa cả nước (Cục trồng trọt, 2014). Tổng diện tích đất lúa của toàn khu vực gần 2 triệu hecta, chiếm 46,9% diện tích đất lúa cả nước (Nguyễn Hoàng Đan và ctv, 2015). Trong đó, diện tích đất lúa hai vụ chiếm nhiều nhất (58,0%), đất lúa một vụ là ít nhất (17,7%) và diện tích đất lúa ba vụ chiếm 27,3% (Steven Jaffee, 2012). Tuy nhiên, diện tích đất sản xuất lúa ngày càng giảm do quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, phát triển hạ tầng và chuyển đổi cơ cấu sản xuất.

Do đó, để duy trì sản lượng lúa, đảm bảo an ninh lương thực của quốc gia và góp phần ổn định xuất khẩu, sản xuất lúa phải tiến hành thâm canh, tăng vụ và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới nhằm tăng năng suất, tăng sản lượng. Cơ cấu đất lúa ba vụ và đất lúa hai vụ ngày càng tăng mới đáp ứng được yêu cầu của sản xuất. Công tác nghiên cứu khoa học, tìm ra những giải pháp tăng năng suất lúa không những phải hiệu quả mà còn phải bền vững. Sản xuất lúa định hướng theo sự phát triển bền vững cần phải đảm bảo (i) năng suất, sản lượng lúa phải ổn định trong từng vụ lúa, từng năm và trong nhiều năm; (ii) thu nhập, lợi nhuận và đời sống nông dân được nâng cao; (iii) giảm thiểu sự suy thoái về đất đai canh tác lúa, nguồn nước phục vụ sản xuất và tiêu dùng, sức khỏe người trồng lúa được bảo vệ; (iv) đời sống văn hóa – xã hội nông thôn được cải thiện.

ĐBSCL từng bước đã phát triển phương thức canh tác thâm canh, tăng vụ sản xuất lúa trong năm. Bộ giống lúa ngắn ngày đã tạo thuận lợi cho việc thay đổi mùa vụ, tăng vụ, mở rộng diện tích lúa ba vụ trong năm, góp phần lớn vào việc gia tăng sản lượng lúa trong toàn vùng. Giống lúa được sử dụng phải đạt năng suất và chất lượng, đồng thời chống chịu được với một số sâu bệnh gây hại chính cho cây lúa như bệnh bạc lá, cháy lá và rầy nâu, chống chịu với một số điều kiện của môi trường khó khăn (Phạm Văn Dư và Lê Thanh Tùng, 2011). Có thể thấy, luan an 7 xu hướng chuyển đổi rõ nét về cơ cấu giống lúa ở ĐBSCL những năm gần đây là việc tăng nhanh sử dụng các giống lúa cao sản, ngắn ngày, năng suất cao, chất lượng gạo tốt hoặc chấp nhận được.

Hiện nay, nhóm giống này chiếm trên 70% diện tích gieo trồng lúa toàn vùng. Các giống lúa cao sản có thời gian sinh trưởng ngắn, canh tác nhiều vụ trong năm đòi hỏi kỹ thuật thâm canh cao vừa đạt năng suất, chất lượng nhưng cũng vừa phải giữ được tính chất và độ phì nhiêu của đất để tái canh tác có hiệu quả hơn. Sự phóng thích giống lúa OM5451 đã góp phần giải quyết yêu cầu về giống lúa cao sản có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất, phẩm chất tốt và tính chống chịu tốt. Giống lúa OM5451 đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận là giống lúa sản xuất thử trong năm 2010 theo quyết định số 457/QĐ-TT-CLT ngày 05 tháng 11 năm 2010 và được công nhận chính thức là giống lúa mới theo quyết định số 711/QĐ-TT-CLT ngày 07 tháng 12 năm 2011 (Trần Thị Cúc Hòa và ctv.

Giống lúa OM5451 được canh tác khá nhiều tại các vùng trồng lúa ở ĐBSCL. Theo Trần Xuân Định và ctv. (2015), diện tích canh tác giống lúa OM5451 trên cả nước năm 2015 đạt trên 670. Hiện nay, giống lúa OM5451 được canh tác với diện tích khoảng một triệu hecta mỗi năm (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2018).

Có thể thấy, với những đặc tính ưu việt và sự phù hợp với yêu cầu của thị trường, giống lúa OM5451 là giống lúa cao sản có triển vọng mở rộng diện tích trên phạm vi toàn vùng. Do đó, việc nghiên cứu những kỹ thuật bón phân sao cho hiệu quả nhất và tiết kiệm nhất đối với giống lúa OM5451 sẽ góp phần rất lớn trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất lúa của khu vực. Đất trồng lúa ở ĐBSCL Đất trồng lúa được hình thành trong điều kiện khác nhau về đá mẹ, địa hình, mực nước ngầm và chế độ nước nhưng nói chung đều mang đặc điểm chung của loại hình đất ngập nước có những quá trình diễn biến khác đất cạn. Trong đất ngập nước, Fe 2+ có thể chuyển hóa thành FeS không có hại cho cây lúa, nhưng khi thiếu ôxy, có nhiều chất độc hại khác phát sinh làm cho rễ bị đen và thối.

Rễ phát triển kém ảnh hưởng đến quá trình luan an 8 sinh trưởng và phát triển của cây lúa do hấp thụ dinh dưỡng kém. Cho nên, cần dựa vào đặc tính cơ bản của loại đất lúa để có biện pháp tạo điều kiện cho rễ lúa phát triển tốt nhất (Đinh Văn Lữ, 1978). Đồng bằng sông Cửu Long nằm ở hạ lưu sông Mê Công và là châu thổ lớn có độ phì nhiêu bậc nhất của Việt Nam và Đông Nam Á (Nguyễn Văn Nhân, 2002), được kiến tạo chủ yếu bằng phù sa mới vừa cả biển, vừa cả sông (Nguyễn Văn Luật, 2009), với diện tích tự nhiên gần 4 triệu hecta, trong đó, đất phèn chiếm tỷ lệ cao nhất, kế đến là đất phù sa, còn lại là đất mặn, đất cát giồng, đất xám, đất lầy, than bùn, …. Nguồn tài nguyên đất đai cho sản xuất nông nghiệp rộng lớn lại nằm trong vùng có nhiệt đới ẩm, gió mùa cận xích đạo, nắng nhiều (2.800 giờ/năm), nhiệt độ cao quanh năm (trung bình 260C-290C), bức xạ tổng cộng trung bình năm khoảng 150-160 kcal/cm2, độ ẩm 70-80%.

Lượng mưa hàng năm từ 1.400 mm, mùa mưa hàng năm xuất hiệt từ tháng 5 đến tháng 11, tập trung nhiều vào tháng 7 đến tháng 9 (Viện Khoa học khí tượng thủy văn và mội trường, 2010). Theo số liệu thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2014), diện tích đất lúa vùng ĐBSCL là 1. Phần lớn diện tích đất lúa trong vùng là đất phù sa và đất phèn nhẹ, có hàm lượng mùn 1,5-2,5%, N tổng số chiếm 0,1-0,2%, K tương đối cao 1,5-2%, pH (KCl) khoảng 4,5-5 (Vũ Văn Hiển, 2011). Võ Thị Gương và Jean Claude Revel (2001) đã công bố nghiên cứu về khả năng cung cấp dinh dưỡng của đất lúa BĐSCL.

Đối với nhóm đất cho năng suất thấp, nhóm đất phèn trung bình đã phát triển, nghèo dinh dưỡng, bị độc Al, Fe thì khả năng đáp ứng cao của năng suất lúa với P và K. Nhóm đất phù sa mặn thì năng suất có ý nghĩa khi bón đầy đủ N. Nhóm đất có năng suất cao thuộc nhóm đất phù sa được bồi, có độ phì tự nhiên khá, khả năng cung cấp dưỡng chất chỉ tăng năng suất lúa từ 14-26%. Kết quả đánh giá tiềm năng cung cấp dưỡng chất của đất của BĐSCL cho thấy lượng N cây lúa hấp thu từ đất khoảng 40-77% tổng lượng hấp thu.

luan an 9 Theo Nguyễn Văn Luật (2009), đất phù sa ĐBSCL có diện tích khoảng 850 nghìn hecta, nằm ven sông Tiền và sông Hậu, có độ phì nhiêu cao và không có yếu tố hạn chế nào. Lượng phù sa trên sông Cửu Long khoảng 0,1 kg/m3 vào mùa cạn và 0,3 kg/m3 vào mùa lũ, tổng lượng phù sa hàng năm có thể đạt đến 1,4 tỷ tấn. Canh tác lúa trên loại đất này thường cho năng suất rất cao 6-7 t/ha, có những nơi đạt 8-10 t/ha. Cơ cấu mùa vụ trên đất phù sa khá đa dạng với những vùng luân canh lúa – màu, vùng chuyên lúa 2-3 vụ/năm, có những vùng thâm canh 7 vụ 2 năm.

Trong đó, diện tích đất lúa 2-3 vụ chiếm đại đa số, hầu hết đều sử dụng các giống lúa cao sản ngắn ngày hoặc cực ngắn ngày.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Đánh giá hiệu lực và tác động của phân bón vô cơ đa lượng đến sinh trưởng và năng suất lúa cao sản tại đồng bằng sông Cửu Long" của tác giả Mai Nguyệt Lan, dưới sự hướng dẫn của Vũ Tiến Khang tại Trường Đại Học Cần Thơ, đã nghiên cứu sâu về ảnh hưởng của phân bón vô cơ đa lượng đến sự phát triển và năng suất của lúa cao sản trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp những thông tin quý giá về cách tối ưu hóa việc sử dụng phân bón để nâng cao năng suất lúa mà còn giúp nông dân hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây lúa.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực nông nghiệp và các phương pháp canh tác hiệu quả, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Nghiên cứu đặc tính và hiệu quả của virus nucleopolyhedrosis trên sâu Spodoptera tại Đồng bằng sông Cửu Long, nơi nghiên cứu về các biện pháp bảo vệ cây trồng, hay Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu vật liệu khởi đầu cho giống lúa kháng rầy nâu, cung cấp thông tin về giống lúa kháng bệnh, và Đánh giá phát thải khí nhà kính N2O và CH4 trên hai mô hình canh tác lúa, giúp bạn hiểu rõ hơn về tác động môi trường trong canh tác lúa. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến nông nghiệp và phát triển bền vững trong khu vực.