Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu về cây dưa lưới Dưa lưới (Cucumis melo L.) là loại rau ăn quả có thời gian sinh trưởng ngắn, trồng được nhiều vụ trong năm với năng suất khá cao. Nguồn gốc cây dưa lưới cũng chưa thực sự rõ ràng. Nhiều tác giả cho rằng nguồn gốc cây dưa lưới ở miền tây Châu Phi (Lim, 2012). Sau đó được truyền lan sang Châu Á, rồi du nhập đến các nước Châu Âu.
Cuối cùng nhà thám hiểm Columbus đã đưa cây trồng này đến Châu Mỹ, ở đây nó được phát trién nhanh chóng và hàng loạt các giống dua mới đã ra đời. Dưa lưới được trồng ở Anh vào thế kỷ 17 và đến thế kỷ 18 được trồng ở Châu Mỹ (Robinson và Decker Walters, 1997). Dưa lưới phát triển tốt trong điều kiện khô, nắng, nóng, không chịu rét và sương giá; chúng có khả năng chịu hạn nhưng không chịu ung. Nhiệt độ ban ngày cho cây dưa lưới phát triển là 24 — 29°C, nhiệt độ ban đêm là 16 — 24°C, nhiệt độ thấp dưới 10°C sự sinh trưởng, phát triển bị trở ngại và ngừng hoạt động (Hoàng Thị Thái Hòa, 2012).
Trong điều kiện thời tiết trời âm u ít ánh sáng, có mưa phùn thường cây dưa lưới giai đoạn 1 — 2 lá thật thường bi chết hàng loạt. Nếu là cây đã lớn có hoa quả bị đòi đục gốc và bệnh héo rũ, phan trắng phá hại, nếu không phòng trừ kịp thời có khi mắt trắng. Nhưng nếu trời âm u có ít ánh sáng mà nhiệt độ cao lại gây hiện tượng rụng nụ, rụng hoa và quả non, thậm chí gây thối quả hoặc quả có màu sắc xấu và vị nhạt, it thơm (Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2012). Hiện nay, dưa lưới được trồng khắp nơi trên thế giới như Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập và một số quốc gia Châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam.
Tại Việt Nam dưa lưới được trồng chủ yếu tại khu vực phía Nam như: Đồng Nai, Binh Duong, Tây Ninh, Vũng Tau, Tp. Hồ Chi Minh và mới được triển khai trồng tại Tiền Giang, Bến Tre với các giống dưa lưới phổ biến như: dưa trắng Hà Nội, dưa mật Bắc Ninh, dưa vàng Hai Dương trái nhỏ. Giống dưa TaKi, TL3 đã được trồng khảo nghiệm và đánh giá là phù hợp với nhà màng cũng đã và đang trồng tại nước ta để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cùng với khả năng chống chịu sâu bệnh tốt. Sản xuất dưa lưới ứng dụng công nghệ cao tại Việt Nam đã được khu nông nghiệp công nghệ cao Tp.
Hồ Chí Minh (AHTP) nghiên cứu thành công, sẵn sàng chuyên giao từ khâu sản xuất đến khâu bảo quản sau thu hoạch cho các đơn vị có nhu cầu. Quy trình sản xuất dưa lưới tại AHTP được tiến hành trong nhà màng. Dưa lưới được trồng trên nền giá thé phối trộn giữa xơ dừa, phân hữu cơ và tro trâu. Sản xuất dưa lưới tại AHTP đã sử dụng hệ thống tưới nước nhỏ giọt, kết hợp tưới phân bón đã cho thấy hiệu quả cao, giảm được công lao động.
Dé dam bảo tỷ lệ thụ phan va năng suất cho đưa lưới, biện pháp bam ngọn va nuôi thêm ong mat đã được AHTP áp dụng.000 m’ canh tác theo mô hình AHTP cho mức lợi hơn 20.2 Côn trùng gây hại phố biến trên cây dưa lưới Theo Mark (2010), các loài gây hại chính trên dưa lưới tại Florida là bọ phan trang (Bemisia argentifolii), sâu đục quả (Diaphania nitidalis), sâu xanh hai sọc trang (Diaphania hyalinata), bọ trĩ (Thrips palmi), tuôi đục lá (Liriomyza trifolii, Liriomyza sativae) và ray mềm (Aphis gossypii, Myzus persicae, Aphis craccivora), bọ cánh cứng hai dua va nhện đỏ (Tetranychus sp. Theo Lé Thi Tuyét Hanh (2012), diéu tra thanh phan sau hai va thién dich trén dưa lưới tai Củ Chi— Tp. HCM va vùng phụ cận cho thấy thành phan sâu hại trên dưa lưới trong nhà mang tại Củ Chi Tp. HCM được ghi nhận gồm 9 loài thuộc 5 bộ côn trùng.
Thành phần thiên địch được ghi nhận gồm hai loài thuộc bộ Coleoptera. Ngoài đồng ruộng ghi nhận có 12 loài sâu hại thuộc 6 bộ côn trùng và 4 loài thiên địch thuộc bộ Coleoptera và bộ Hempitera. Trong đó, bọ trĩ Thrips palmi Karny và Frankliniella occidentalis Pergande là loài gây hại chủ yếu trong nhà màng, ngoài đồng dưa lưới chịu sự gây hại nặng bởi sâu xanh hai soc trắng Diaphania indica Saunders. Bọ trĩ gây hại nặng từ giai đoạn cây con đến ra hoa, đậu trái.
Bọ trĩ hút nhựa làm đọt và lá non xoăn lại. Mật độ cao làm cây can coi không phát triển được, đọt dưa chùn lại, lá vàng và khô, hoa rụng, không đậu trái hoặc trái không lớn. Bọ trĩ gây hại nặng làm đọt non sượng, ngóc đầu lên cao, hiện tượng này nông dân gọi là dưa “đầu lân” hay “bắn máy bay”. Bọ trĩ cũng là môi giới lan truyền virus gây bệnh khảm làm vàng và xoăn lá, cây không chết nhưng ra hoa không cho trái.
Bọ trĩ phát triển mạnh trong điều kiện thời tiết nóng và khô, có tính kháng thuốc cao. Gặp điều kiện thích hợp, bọ trĩ phát triển rất nhanh, dễ gây thành dịch, ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng và năng suất. Vòng đời bọ trĩ tương đối ngắn, trung bình 15 — 18 ngày (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2013). Ray mềm (Brevicoryne brassacicae) non và trưởng thành có cơ thé rất nhỏ, hình quả quê trần trụi và mềm, màu vàng nhạt hoặc xanh đen.
Rầy mềm tập trung ở chổi non và mặt dưới lá non từ khi cây có 2 lá mầm đến khi thu hoạch, ray mềm chích hút nhựa làm cho ngọn cây chùn lại, cây sinh trưởng kém, mật độ cao có thê làm cây khô lá, ray mềm còn là môi giới truyền các bệnh do virus. Thiên địch của ray có bọ rùa, kiến, nhện (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2013). Bo dưa (Aulacophora similis) trưởng thành có cánh cứng màu vàng cam, con cái đẻ trứng trong đất, rơm rạ gần gốc cây. Sâu non dạng con sùng, màu trắng ngà, đầu màu nâu, chân ngực phát triển, nhộng nằm trong đất có màu nâu nhạt, bên ngoài có lớp lém tơ bao phủ.
Bọ dưa phát triển gây hại nhiều vào mùa khô, bọ trưởng thành hoạt động phá hoại vào sáng sớm và chiều tối, ban ngày trời nắng an dưới tán lá hoặc trong đất. Bọ non sống trong đất ăn rễ và căn gốc cây khi cây đã lớn, làm cây sinh trưởng kém có thé làm cây chết. Bọ trưởng thành mật độ cao có thể làm cây trụi hết lá va dot non. Khi cây dua lớn, lá có nhiều lông, bọ dưa không phá hoại nữa (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2013).
Theo John (2001), au trùng bọ phan trang và bọ phan trắng trưởng thành chích hút nhựa cây ở lá và những bộ phận non (chủ yếu ở lá và ngọn) làm lá bị đốm hoặc biến màu vàng. Mật độ bọ phan trắng cao gây hại nặng chỉ gân lá còn lại màu xanh dẫn đến rụng lá. Bọ phan trang hai rau ăn lá và rau ho hoa thập tự thì gân lá bac trắng, lá biến màu, giòn, đặc biệt ở vùng mép lá (Costa, 1993; Brown và Bird, 1992). Bo phan trắng B.
tabaci đã trở thành dịch hại nguy hiểm trong nông nghiệp trên thế giới, là môi giới truyền bệnh cho cây trồng hon 60 loài virus thuộc giống Germinivirus, Closterovirus, Nepovirus, Carlavirus (Limma va ctv, 2002). Các triệu chứng gây bệnh cho cay như bệnh xoăn lá, lá bi quan queo, gan lá dày lên màu vàng, lá biến vàng, vàng xam hoặc vàng loang lỗ. Cây bị xoăn lá ở giai đoạn sớm thường không cho thu quả hoặc nếu có quả thì quả nhỏ, quả khi chín thường cứng, chai quả (Nguyễn Đức Khiêm, 2005). Theo Riley (1997), ở bang Texas (Mỹ), mật độ bọ phan trang cao khoảng 3 con trưởng thành/lá đã làm giảm 10% năng suất của dưa lưới.
Nếu mật độ bọ phan trắng là 0,5 au trùng/7,6 cm? diện tích lá sẽ gây ảnh hưởng đến năng suât. Các loài nhện trong họ Tetranychidae thường là loài có tính đa thực, phân bố rộng trên toàn thé giới, nhện có thé gây hại trên hang trăm cây trồng khác nhau nhất là cây rau, cây thuộc họ bầu bí, cây thực phẩm, cây hoa và trên cả cỏ dại (Ehler và ctv, 1999). Nhện di chuyền rất nhanh và nhả tơ mỏng bao thành một lớp ở mặt dưới lá nên trong lá có mau trang do lớp da dé lại sau khi lột cùng với bụi và những tap chất khác. Cả ấu trùng và thành trùng nhện đỏ đều chích hút mô của lá cây làm cây bị mat màu xanh và có màu vàng sau cùng lá sẽ bị khô đi.
Màu vàng của lá dé nhìn thấy nhất là ở mặt dưới lá, làm giảm phẩm chất và năng suất trái.3 Một số nghiên cứu về nhện đỏ Tetranychus sp.1 Sự phân bố và cây con mỗi của nhện đỏ Tetranychus sp. Nhện đỏ thuộc bộ Acardi, họ Tetranychidae, giống Tetranychus (Saito, 2009). Các ho nhện hai cây trồng chủ yếu trên thế giới có 4 họ gồm: họ Tetranychidae, Tenuipalpidae, Eriophydae và Tarsonemidae (Meyer, 1981). Trong 4 họ trên thi họ Tetranychidae là họ gây hại phổ biến nhất.
Loài nhện đỏ Tetranychus thuộc ho Tetranychidae là đối tượng gây hại nghiêm trọng đối với cây trồng trên thé giới vì có khả năng phá hủy cây trồng nông nghiệp cao. Theo Gof (1986), nhện đỏ Tetranychus sp. tan công trên 100 loại cây trồng và cỏ dại, gây hại nghiêm trọng trên cây đậu, tiêu, cà chua, dưa chuột, đu đủ, quả lạc tiên và nhiều loại cây khác. Nhện đỏ cũng tấn công nhiều loại hoa và cây kiếng như hoa cam chướng, hoa lan, hoa hồng — phân bồ rộng trên đảo Hawaii.
Khoảng 140 loài của chi Tetranychus được ghi nhận, mô tả và nghiên cứu. Trong đó, hai loài 7. cinnabarinus là phô biên nhất, gây hại nghiêm trọng trên cây rau, cây ăn quả va cây cảnh (Mignon và Flechtmann, 2004). Ở Việt Nam, nhện đỏ Tetranychus sp.
phân bố và gây hại trên nhiều loại cây bao gồm: bông vải, sẵn, rau day, đậu đỗ, ớt, lạc, hoa hồng, dao, man (Nguyễn văn Đĩnh, 2002).2 Triệu chứng gây hại của nhện đỏ Tetranychus sp. Theo Goff (1986), ấu trùng và thành trùng của nhện đỏ Tetranychus sp. thường song và gây hại ở bề mặt dưới của lá, làm cho lá trở nên bạc trắng với những chấm nhỏ. Mang tơ của nhện đỏ Tefranychus sp.
được giăng chang chit ở bề mặt dưới lá có thé nhìn thấy được. Lá bị gây hại nặng trở nên bạc trắng và mất màu xanh, có thể bị rụng. Au trùng và thành trùng nhện đỏ Tetranychus sp. sông mặt dưới cạnh gân chính của lá bánh tẻ và lá già.
Nhện dùng kim chích cào mô lá tạo nên các vết chích nhỏ li ti không có hình dạng nhất định.