Đặt vấn đề Dưa lê (Cucumis melo L.) thuộc họ bầu bí (Cucurbitaceae), là rau ăn quả có hàm lượng dinh dưỡng cao, rất có lợi cho sức khỏe, được nhiều người ưa thích và khá phổ biến trên thế giới. Được du nhập vào Việt Nam cách đây không lâu nhưng với nhiều hình dạng, màu sắc cùng hương vị thơm ngọt, dưa lê đã và đang dần được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng. Sau khi vấn đề an ninh lương thực được giải quyết, ngành sản xuất rau quả Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ, góp phần đáng kể trong quá trình phát triển và xây dựng nông thôn mới theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá, nâng cao đời sống cho người dân nông thôn. Dưa lê Hàn Quốc đang là cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao tại Việt Nam, là trái cây giàu dinh dưỡng như: vitamin A, C, E, chất xơ, chất khoáng, chất chống oxy hóa,.
được y học Hàn Quốc đưa vào sử dụng từ rất lâu. Do có hàm lượng dinh dưỡng cao nên dưa lê rất thích hợp làm thực phẩm cho người cao huyết áp, tiểu đường, bệnh tim mạch,… hoặc cho người đang mang thai, người đang giảm cân. Hiện nay trên thị trường trồng dưa lê Hàn Quốc tại Việt Nam vấn đề về phân bón, phòng trừ sâu bệnh trên dưa lê chưa được phù hợp, ảnh hưởng không tốt đến môi trường xung quanh và mang lại hiệu quả kinh tế chưa cao. Dưa lê Hàn Quốc đã được đưa vào khảo nghiệm và trồng ở Việt Nam một vài năm gần đây.
Tuy nhiên, khó khăn nhất trong sản xuất dưa lê là quản lý dinh dưỡng và dịch hại cho dưa. Ngoài ra, dưa lê còn là mặt hàng có giá trị xuất khẩu. Tuy nhiên sản xuất dưa lê gặp rất nhiều trở ngại, đặc biệt là sự gây hại của nhiều loại sâu bệnh. Luan van 2 Để phòng trừ sâu bệnh hại dưa lê, nông dân chủ yếu dùng thuốc hóa học.
Điều này không những ảnh hưởng đến sức khỏe người sản xuất, đến môi trường mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng và làm giảm giá trị của sản phẩm, hạn chế đến khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, đặc biệt là thị trường xuất khẩu. Vì vậy việc nghiên cứu ảnh hưởng của một số thuốc BVTV đến phòng trừ dịch hại là việc làm cần thiết, tăng giá trị thương phẩm của trái dưa lê góp phần phát triển sản xuất rau quả an toàn, giảm thiểu ô nhiễm cho cộng đồng là rất cần thiết. Nhằm giải quyết các vấn đề trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số thuốc BVTV trong phòng trừ bệnh hại dưa lê trong vụ Xuân 2018 tại Đại học Nông Lâm Thái Nguyên’’. Mục tiêu và yêu cầu 1.
Mục tiêu Xác định được loại thuốc BVTV thích hợp để phòng trừ bệnh hại an toàn hiệu quả trên giống dưa lê Hàn Quốc nhập nội trong vụ Xuân 2018 tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Yêu cầu - Đánh giá được ảnh hưởng của các thuốc BVTV tới khả năng sinh trưởng của cây dưa lê Hàn Quốc vụ Xuân năm 2018 tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên - Đánh giá được ảnh hưởng của các thuốc BVTV đến tình hình sâu bệnh hại của cây dưa lê Hàn Quốc vụ Xuân năm 2018 tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. - Đánh giá được ảnh hưởng của các thuốc BVTV đến năng suất của cây dưa lê Hàn Quốc vụ Xuân năm 2018 tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Luan van 3 1. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của chuyên đề là cơ sở khoa học góp phần xây dựng biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại theo hướng an toàn và hiệu quả, đồng thời là tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu tiếp theo về phòng trừ sâu bệnh hại cho cây rau nói chung và cây dưa lê nói riêng. Ý nghĩa thực tiễn Đề tài bước đầu xác định được các loại thuốc BVTV phù hợp trong phòng trừ bệnh hại đối với giống dưa lê trồng tại Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Kết quả nghiên cứu của khóa luận cung cấp thêm thông tin có ích cho nông dân trong sản xuất dưa lê, góp phần quản lý đồng ruộng có hiệu quả,vừa nâng cao được năng suất cây trồng, giảm chi phí, tăng thêm lợi nhuận, vừa đảm bảo an toàn, không làm ảnh hưởng đến sức khoẻ con người và môi trường. Luan van 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài Trong sản xuất nông nghiệp giống tốt, điều kiện ngoại cảnh, kỹ thuật chăm sóc có liên quan mật thiết tới cây trồng nói chung và cây dưa lê nói riêng. Bởi vậy để phát triển giống dưa lê Hàn Quốc theo hướng phù hợp với điều kiện khí hậu, canh tác của Việt Nam để đạt được năng suất cao, chất lượng tốt cần có những nghiên cứu tổng hợp, trong đó có biện pháp quản lí dịch hại nhằm tạo ra nhiều sản phẩm chất lượng cao, an toàn, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội.
Thuốc BVTV sinh học có công dụng rất tốt đẩy nhanh tốc độ sinh trưởng của cây, tăng cường khả năng quang hợp, thúc đẩy bộ rễ phát triển. Quả to, ngọt đậm, màu sắc sáng đẹp, hàm lượng đường tăng lên, kéo dài thời gian quả tươi tự nhiên. Nâng cao sức đề kháng cho cây, giúp giảm tỉ lệ mắc bệnh thối quả, phấn trắng, chạy dây, thối thân, héo xanh vi khuẩn…cho thu hoạch sớm hơn thời vụ đại trà từ 3 – 5 ngày, chất lượng tốt, làm tăng năng suất từ 20 – 30%, giảm 30 – 50% lượng phân bón đang dùng, nhưng thuốc BVTV sinh học chưa được áp dụng phổ biến cũng như nghiên cứu trên giống dưa lê [30]. Ngoài ra dùng thuốc BVTV sinh học để phòng trừ sâu bệnh hại dưa lê Hàn Quốc cũng là đang giúp giảm ô nhiễm môi trường cho đất và người dân xung quanh.
Phân loại Dưa lê (Cucumis melo) thuộc: Bộ bầu bí (Cucurbitales), họ bầu bí (Cucurbitaceae), chi (Cucumis), loài (Cucumis melo L. Đã có rất nhiều tác giả tiến hành phân loại dưa lê trên nhiều quan điểm khác nhau. Theo Munger và Robinson (1991) sử dụng mô tả của Naudin (1959), Grebenscikove (1953), Pangalo (1929), Hammer và cộng sự (1986) nghiên cứu và sắp xếp các mẫu nguồn gen dưa lê vào bảy nhóm như sau [26]: Luan van 5 C. Agrestis : thân mảnh, lá cây đơn tính cùng gốc, đều có hoa đực và hoa cái trên cùng một thân, phát triển như cỏ dại ở Châu Phi và các nước Châu Á.
Quả rất nhỏ(<5cm) và không ăn được, cùi rất mỏng và hạt rất nhỏ. Cantalupensis : quả có kích thước trung bình lớn, bóng, mịn, màu sắc vỏ biến động có vảy hoặc vân. Quả có mùi thơm, vị ngọt khi chín. Gồm có dạng Reliculatus.
Hoa đơn tính đực và lưỡng tính ở hầu hết các kiểu gen, có lông ở bầu nhụy. Inodorus : dưa lê mùa đông quả lớn, không thơm, bảo quản dài, cùi dày, mịn hay vân đốm. Bao gồm các loại dưa ngọt Châu Á và Tây Ban Nha như giống dưa ruột xanh và dưa vàng, thường đơn tính và lưỡng tính, có lông trên bầu nhụy. Flexuosus : quả dài, không ngọt, ăn non như dưa chuột.
Được tìm thấy ở Trung Đông và Châu Á, thường có hoa đơn tính cùng gốc. Makuwa : các giống vùng Viễn Đông, vỏ trơn, thịt mỏng, trắng, quả có vân nhỏ cùng gồm loại ngọt và loại ăn xanh giòn. Hoa đơn tính đực và lưỡng tính. Lá có lông, nhụy có lông rất mịn.
Chito và Dudaim : được mô tả bởi Naudin nhưng được nhóm lại với nhau bởi Munger và Robinson. Có nguồn gốc hoang dại ở Châu Mỹ, quả nhỏ, hoa và quả thơm, dây leo, hoa đơn tính cùng gốc, có lông mịn ở bầu nhụy. Momordica : là nhóm do Munger và Robinson bổ sung thêm năm 1991 gồm các mẫu có nguồn gen Ấn Độ, dây leo, hoa đơn tính cùng gốc, quả to, không ngọt, vỏ mỏng.K (2012), “Edible Medicinal and Non- Medicinal Plants volum 2 fruit” [27] dưa lê được chia thành 6 nhóm như sau: Luan van 6 Nhóm Cucumis melo cantalupensis: có nguồn gốc ở Châu Âu ( Italya, Pháp), dưa có vỏ quả và có nốt sần, được người Mỹ gọi là dưa đỏ. Đặc điểm của dưa giống như là muskmelons, dưa đỏ có hình cầu hoặc hình trứng, thịt quả có màu da cam.
Nhóm Cucumis melo makuwa: dưa lê Hàn Quốc. Là loài cây thân leo, có phân cành. Lá cây mọc về hai phía, so le, rìa lá có răng cưa và màu xanh thẫm, cả hai bề mặt lá đều phủ lông. Hoa lưỡng tính.
Nhóm Cucumis melo conomon: Được xem là mẫu dưa cổ nhất ở Trung Quốc. Gồm dưa gang, dưa gang trái tròn, dưa gang trái dài. Quả có nhiều hình dạng như elip, hình trứng, hình quả lê, hình cầu dài từ 11 - 30cm, trơn nhẵn, màu sắc có thể thay đổi trắng, vàng, ánh vàng, hơi vàng trắng với các sọc xanh, xanh thẫm. Thịt quả có màu trắng, cam, vàng và thường là màu trắng, có vị ngọt nhẹ.
Hạt dẹt, màu trắng hình elip, nhỏ (<8mm). Nhóm Cucumis melo reticulatus: dưa tây vàng, dưa cantaloupe. Có nguồn gốc ở Ấn Độ và Châu Phi. Là loài cây thân bò, phân nhiều nhánh, không có tua, lá mọc so le, cuống lá dài, rìa lá có hình răng cưa, cả 2 bề mặt lá đều phủ lông.
Phần lớn là hoa lưỡng tính. Quả có nhiều hình dạng như hình cầu, hình trứng, hình elip, bề mặt xù xì có nốt sần. Thịt quả ngọt, màu cam hay hồng nhạt, thơm. Hạt dẹt, hình trứng, có màu trắng.
Nhóm Cucumis melo indorus: dưa hoàng yến, dưa mật, dưa tây xanh,. Được cho là có nguồn gốc ở Châu Phi. Được thuần hóa ở Đông Địa Trung Hải, Trung Đông và Tây Á trong hơn 4000 năm trước. Là loài thân bò, thân nhỏ, góc cạnh và xù xì.
Lá hình phân thùy, được phủ bởi một lớp lông. Hoa lưỡng tính. Nhóm Cucumis melo reticulatus “hami melon”: dưa vàng hami. Có nguồn gốc từ Tân Cương Trung Quốc, đây là giống dưa quan trọng được trồng ở các tỉnh Tây Bắc, Trung Quốc.
Là loài thân bò, thân có lông cứng, có Luan van 7 những sọc vằn và có các tua. Lá phân thùy, hoa lưỡng tính. Quả to có hình ovan, hình trứng. Vỏ dày màu xanh hoặc vàng với các sọc dọc xanh thẫm.
Vỏ trơn nhẵn, thịt quả có màu cam hay hơi hồng. Vị ngọt, nhiều nước và giòn. Có nhiều hạt, màu trắng hoặc trắng sữa. Đặc điểm thực vật học 2.
Rễ Dưa lê có bộ rễ phát triển mạnh gồm rễ chính dài 0,6 – 1,0m và 11-112 rễ phụ. Dưa lê có khả năng chịu hạn kém hơn so với dưa hấu, nhưng chịu được độ ẩm đất khá cao[1].