CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Giới thiệu chung về cây cà phê Cà phê là cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao, là mặt hàng thương mại quan trọng trên thị trường quốc tế. Trên thế giới hiện nay, cà phê được trồng tại trên 80 nước thuộc các vùng Trung và Nam Mỹ, Châu Phi và Châu Á. Sản xuất và chế biến cà phê là nguồn sinh kế của khoảng 20-25 triệu gia đình nông dân và liên quan đến 1.000 triệu người.
Hàng năm, giá trị hàng hóa từ cà phê đạt khoảng 70 tỷ Đô la Mỹ. Niên vụ năm 2015-2016, sản lượng cà phê của 53 nước sản xuất và xuất khẩu cà phê đạt 143.306 nghìn bao (60 kg/bao); trong đó, Việt Nam đạt 2 8. * Một số nét chính trong phân loại thực vật cây cà phê Cà phê thuộc lớp Dicotyledoneae; lớp phụ Sympetalae hoặc Metac hlamydeae; bộ Rubiales; họ Rubiaceae; chi Coffea. Các loài thuộc chi Coffea được nhóm thành 4 nhóm chính, bao gồm: Agrocoffea, Paracoffea, Mascarocoffea và Eucoffea (Chevalier, 1947).
Trong 4 nhóm này, chỉ có Eucoffea là nhóm có thành phần caffein. Vì vậy, hầu hết các loài thực sự có tầm quan trọng kinh tế và được trồng trọt đều thuộc nhóm hình thái này (dẫn theo Lê Thị Ánh Hồng, 2007). Nhóm Eucoffea được chia thành 5 nhóm phụ dựa trên một số chỉ tiêu rất đa dạng như: chiều cao cây (Nanocoffea), độ dày của lá (Pachycoffea), màu sắc quả (Erythrocoffea) và vùng phân bố địa lý (Mozambicoffea) (Chevalier, 1947). Hầu hết các loài thuộc chi Coffea là những loài nhị bội (2n=22) và đều là những cây hoàn toàn không có khả năng tự thụ phấn.
Duy nhất chỉ có cà phê chè (C. arabica) là loài tứ bội (4n=4×11=44) và cũng là loài duy nhất có khả năng tự thụ phấn (Chevalier, 1947). Giống cà phê chè Catimor được lai tạo giữa giống Caturra với Timor Hybrid kháng bệnh gỉ sắt, nhiễm tuyến trùng gây hại (World Coffee Research, 2018). Cây cà phê chè có đặc điểm yêu cầu đối với một số điều kiện sinh thái như sau: luan an 5 - Yêu cầu về nhiệt độ Nhiệt độ là yếu tố sinh thái quan trọng và giới hạn đối với đời sống của cây cà phê nói chung và cây cà phê chè nói riêng (Cost, 1989).
Cây cà phê chè sinh trưởng và phát triển trong phạm vi nhiệt độ tương đối rộng từ 5-32 oC (Phan Quốc Sủng, 1998); với khoảng nhiệt độ thích hợp nhất từ 15-25 oC (Cannell, 1987). Khi nhiệt độ trên 25 oC, quá trình quang hợp của cây cà phê chè giảm; khi nhiệt độ đạt đến 35 oC, cây cà phê ngừng quang hợp. Cà phê chè chịu nóng tốt hơn cà phê vối, mặc dù cà phê vối có khoảng nhiệt độ thích hợp cao hơn cà phê chè (22 -26 oC). Cà phê chè chịu rét khỏe hơn cà phê vối, khi nhiệt độ xuống 1-2 oC trong vài đêm, vườn cà phê chè chưa thiệt hại đáng kể, trong khi đó cà phê vối bị thiệt hại đáng kể (Nguyễn Sỹ Nghị, 1982).
Biên độ nhiệt độ ngày và đêm có ảnh hưởng quan trọng đến việc tích lũy đường glucose và tinh dầu trong cà phê ; do đó, có ảnh hưởng đến hương vị, phẩm chất cũng như năng suất của cà phê (Nguyễn Văn Hoàng, 1964). - Yêu cầu về lượng mưa Lượng mưa và sự phân bố lượng mưa trong năm có ảnh hưởng quyết định đến quá trình sinh trưởng, năng suất và kích thước của hạt cà phê. Cây cà phê chè thích hợp với khí hậu mát mẻ, khô khan và thường được trồng ở những vùng cao có lượng mưa hàng năm từ 1. So với cà phê vối, cà phê chè có khả năng chịu hạn tốt hơn.
Ở những nơi có lượng mưa khá cao và được phân bố đồng đều giữa các tháng trong năm, cây cà phê chè sinh trưởng tốt nhưng ra quả rất ít (Cost, 1989). Từ tháng thứ 3-5 sau khi hoa nở, quả cà phê rất mọng nước, hàm lượng nước trong quả thường chiếm 80-85% khối lượng quả, thể tích và khối lượng chất khô tăng trưởng rất nhanh. Trong giai đoạn này nếu cây bị thiếu nước, các khoang chứa trong hạt không đạt kích thước tối đa nên hạt cà phê nhỏ, quả non và thường bị rụng nhiều (Cannell, 1987). - Yêu cầu về độ ẩm không khí Độ ẩm không khí có ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây cà phê.
Độ ẩm không khí lớn sẽ hạn chế quá trình bốc hơi nước của lá cà phê và ngược lại. Tuy nhiên, độ ẩm không khí quá cao lại là điều kiện thuận lợi cho sâu, bệnh phát sinh và gây hại. Độ ẩm không khí trên 70% là thuận lợi c ho quá trình sinh trưởng và phát triển của cây cà phê (Phan Quốc Sủng, 1987). luan an 6 - Yêu cầu về ánh sáng Cây cà phê chè không ưa cường độ ánh sáng quá mạnh, chỉ quang hợp tốt nhất khi cường độ ánh sáng khoảng 23.
Việc trồng cây che bóng cho cà phê chè là cần thiết vì ánh sáng trực xạ làm cho cà phê chè bị kích thích ra hoa quá độ dẫn đến hiện tượng khô cành, khô quả và làm cho vườn cây tàn lụi nhanh (Cannel, 1974). Tuy nhiên, những tác giả đứng về trường phái bỏ cây che bóng thì chứng minh ngược lại. Cây cà phê trồng trong điều kiện ánh sáng toàn phần đạt tốc độ phát triển gấp 2 lần và có số lá gấp 4 lần so với cây cà phê trồng trong điều kiện có bóng mát 75% (Damatta, 2004; Nguyễn Sỹ Nghị, 1982; Sylvain, 1955). - Yêu cầu về gió Gió lạnh, gió nóng, gió khô đều có ảnh hưởng xấu đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây cà phê chè.
Gió quá lạnh làm cho lá cây cà phê bị rách, rụng lá, các lá non bị đen thui ; gió nóng làm cho lá bị khô héo. Vì vậy, cần giải quyết tốt hệ đai rừng chắn gió chính và phụ, phải có cây che bóng để hạn chế sự hình thành và các tác hại của sương muối. Ở những vùng gió nóng, đai rừng có tác dụng điều hòa nhiệt độ; trong vườn cà phê nên trồng xen một số cây ăn quả có tán ít rậm rạp cũng giúp cho việc chắn gió (Nguyễn Sỹ Nghị, 1982). Tình hình sản xuất, tiêu thụ cà phê trên thế giới và ở Việt Nam 1.
Tình hình sản xuất và tiêu thụ cà phê trên thế giới Hiện nay, có hơn 70 quốc gia sản xuất cà phê và hơn 50% sản lượng đến từ ba nước Brasil, Việt Nam và Colombia. Sản lượng cà phê trên thế giới từ 2013-2018 (FAO, 2018) ĐVT: nghìn bao (60 kg/bao) Niên vụ Tổng sản lượng Tổng kim ngạch xuất khẩu 2013/14 154.949 luan an 7 Từ niên vụ 2013/14 đến 2017/18, tổng sản lượng của các nước xuất khẩu cà phê khá ổn định dao động từ 148.047 bao, tổng kim ngạch xuất khẩu từ 105. Tuy nhiên, phần lớn người sản xuất cà phê trên thế giới đang phải đối mặt với nhiều thách thức ngày càng tăng từ biến đổi khí hậu, điều kiện tự nhiên khó khăn và tác động của sâu, bệnh hại. Tình hình sản xuất và xuất khẩu cà phê của Việt Nam và Sơn La Diện tích cà phê của cả nước tập trung nhiều nhất ở vùng Tây Nguyên, tại các tỉnh như Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, Kon Tum và Lâm Đồng chiếm tới 72% tổng diện tích và 92% tổng sản lượng cà phê của cả nước và giống chủ yếu là cà phê vối (Lê Thị Ánh Hồng, 2007).
Năm 2014, diện tích trồng cà phê cả nước là 641,7 nghìn ha với 590,2 nghìn ha cho sản phẩm, năng suất 23,6 tạ/ha, sản lượng 1395,6 nghìn tấn cà phê nhân (Bộ NN&PTNT, 2016). Năm 2016, diện tích cà phê trong cả nước 597.600 ha, sản lượng niên vụ 2015/2016 đạt 1. Theo thống kê của FAO (2018), tổng sản lượng cà phê nhân của Việt Nam từ niên vụ 2013/14 đến 2016/2017 có xu hướng giảm từ 27. Sang niên vụ 2017/18, sản lượng tăng lên 29.
So với ngành hàng nông nghiệp khác, xuất khẩu cà phê mang lại giá trị lớn đối với kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Năm 2012, giá trị xuất khẩu cà phê đạt 2,67 tỷ USD (Hội đồng Doanh nghiệp vì sự Phát triển bền vững Việt Nam, 2015). Sản lượng cà phê ở Việt Nam từ 2013-2018 (FAO, 2018) ĐVT: nghìn bao (60 kg/bao) Niên vụ Tổng sản lượng Tổng kim ngạch xuất khẩu 2013/14 27.000 Niên vụ 2016/2017, cả nước có tổng diện tích trồng cà phê vối đạt 592.000 ha với sản lượng đạt 1.000 tấn cà phê nhân. Năm 2016, tổng diện tích trồng cà phê trong cả nước 597.600 ha, sản lượng 2015/2016 đạt 1.
Niên vụ 2017/2018, sản lượng cà phê của Việt Nam đạt 1.000 tấn, xuất khẩu 1. Ở Việt Nam, sản lượng cà phê chè chiếm khoảng 4% tổng sản lượng và khoảng 6% diện tích cà phê trong toàn quốc. Cây cà phê chè cho chất lượng quả tốt ở những vùng có độ cao từ 1.000 m trở lên so với mực nước biển. Tuy nhiên, hầu hết các vùng trồng cà phê ở Việt Nam đều có độ cao thấp hơ n mức này.
Tại hai tỉnh Sơn La và Điện Biên, diện tích trồng cà phê chè tăng trong những năm gần đây từ 16. Tại Sơn La, năm 2016 diện tích khoảng 11.000 ha, đến năm 2018 diện tích lên đến 17. Giống cà phê chè Catimor được trồng là chủ yếu với năng suất quả trung bình 10,5-13,0 tấn/ha (Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Sơn La, 2018). Người dân tại Tây Bắc đầu tư phân bón cho vườn cà phê còn thấp.
Các biện pháp kỹ thuật khác như tạo hình, làm cỏ, bảo vệ thực vật. còn nhiều hạn chế, chưa đúng với quy trình (Vũ Hồng Tráng, 2013). Tình hình nghiên cứu về bệnh thán thư hại cây cà phê trên thế giới và Việt Nam 1. Tác hại của bệnh thán thư đối với cây cà phê Đối với cây cà phê, bệnh thán thư (Colletotrichum spp.) là bệnh thứ hai quan trọng sau bệnh gỉ sắt (H.
Bệnh làm khô quả, khô cành, cháy lá, tàn lụi hoa và gây chết cây. Nấm Colletotrichum được ghi nhận ở tất cả các vùng trồng cà phê trên thế giới. Bệnh gây thành dịch ở Ấn Độ vào năm 1928, ở Kenya vào năm 1960 làm giảm năng suất đến 50%, một số đồn điền giảm đến 75%, chất lượng bị ảnh hưởng lớn, nhiều hộ trồng cà phê đã phải chuyển đổi sang cây trồng khác (Dẫn theo Lê Thị Ánh Hồng, 2007). Ở Ethiopia, bệnh có thể làm giảm tới 80% năng suất, ở những nơi trồng giống nhiễm và điều kiện môi trường thời tiết thuận lợi, bệnh không cho thu hoạch (Etana, 2018).
Hằng năm ở Ethiopia, bệnh làm giảm 30% năng suất, tỷ lệ bệnh trung bình 50%, chỉ số bệnh trung bình khoảng 10% (Emana, 2015).