ĐẶT VẤN ĐỀ Trong xu thế phát triển của nền nông nghiệp thế giới, những năm gần đây nền nông nghiệp nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn. Sản xuất gạo không những đáp ứng đủ nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu đến các nước lớn trên thế giới như Mỹ. Ngoài cây lương thực, cây công nghiệp, các cây thực phẩm cũng phát triển mạnh mẽ trong sản xuất. Song sản xuất nông nghiệp cũng gặp không ít khó khăn như thời tiết bất lợi, dịch hại do sâu bệnh, cỏ dại, chuột, ốc bươu vàng…, đã làm giảm năng suất và phẩm chất nông sản.
Theo thống kê của FAO (1984) hàng năm bệnh hại cây trồng không những làm giảm năng suất, phẩm chất cây trồng mà còn làm tăng chi phí sản xuất. Bởi vậy để bảo vệ sản xuất, chúng ta phải áp dụng hàng loạt các biện pháp như canh tác, cơ giới vật lý…, đặc biệt biện pháp hiện đang được sử dụng phổ biến trong sản xuất nông nghiệp là biện pháp hoá học đã gây ra hàng loạt vấn đề ảnh hưởng tới môi sinh, môi trường như ô nhiễm nguồn nước, đất, dư lượng vượt quá ngưỡng cho phép. Vì vậy tìm kiếm biện pháp phòng trừ bệnh hại tối ưu là một trong những hướng đi đúng đắn và cần thiết cho một nền nông nghiệp sạch và bền vững. Một số cây thực phẩm trồng trên cạn như cây cà chua, cây dưa chuột, cây đậu tương… là những cây có giá trị dinh dưỡng cao, đem lại hiệu quả kinh tế.
Nhưng hàng năm cây thực phẩm thường bị nhiều loại bệnh gây hại làm tổn thất khá nặng nề trong sản xuất do vậy việc nghiên cứu các bệnh hại cây thực phẩm để tìm ra các biện pháp phòng trừ bệnh có hiệu quả là rất cần thiết. 1 Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đỗ Tiến hoàng - BVTV 49A Một nhóm bệnh hại cây trồng nguy hiểm trong sản xuất là nhóm nấm có nguồn gốc trong đất như: Fusarium, Phytophthora, Rhizoctonia, Phythium, Sclerotium…. Nhóm nấm này có phổ ký chủ rộng, gây hại trên nhiều loại cây trồng khác nhau như: Đậu đỗ, cây họ cà, họ bầu bí và gây ra nhiều triệu chứng khác nhau như: Lở cổ rễ, héo rũ gốc mốc trắng, thối thân khi bệnh nặng cây ký chủ bị chết rất nhanh. Đặc biệt là nấm Fusarium oxysporum gây bệnh héo vàng làm cây chết nhanh.
Nguồn bệnh các loài nấm trên thường bảo tồn chủ yếu là dạng hạch nấm, sợi nấm và hậu bào tử ở trong đất và trong tàn dư cây bệnh, khả năng bảo tồn chủ yếu là dạng hạnh nấm, khả năng bảo tồn của hạnh nấm cũng như của sợi nấm tuỳ thuộc vào điều kiện môi trường và tuỳ từng loài nấm khác nhau. Ở nước ta kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái, khả năng tấn công, xâm nhiễm của các loài nấm gây bệnh có nguồn gốc trong đất còn chưa nhiều, điển hình là nấm Fusarium oxysporum gây bệnh héo vàng trên một số cây trồng cạn. Để góp phần làm sáng tỏ những vấn đề trên và tìm ra biện pháp phòng trừ có hiệu quả cao, đặc biệt là biện pháp phòng trừ sinh học vừa có tác dụng hạn chế được tác hại của bệnh, vừa hạn chế được tác hại của thuốc hoá học bảo vệ thực vật gây ra, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu bệnh héo vàng (Fusarium oxysporum) hại một số cây trồng cạn vụ hè thu năm 2007 tại vùng Gia Lâm - Hà Nội và thử nghiệm chế phẩm sinh học phòng trừ bệnh.” 2 Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đỗ Tiến hoàng - BVTV 49A II. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU 1.
Mục đích - Điều tra bệnh héo vàng (Fusarium oxysporum) hại một số cây trồng cạn vụ hè thu năm 2007 ở vùng Gia Lâm – Hà Nội. - Tìm hiểu ảnh hưởng của một số yếu tố liên quan tới sự phát triển của bệnh héo vàng (Fusarium oxysporum) trên đồng ruộng. - Sử dụng thuốc hoá học và chế phẩm sinh học nấm đối kháng Trichoderma viride để phòng chống bệnh héo vàng (Fusarium oxysporum). Yêu cầu - Mô tả, nhận xét triệu chứng và chụp ảnh bệnh héo vàng (Fusarium oxysporum).
- Theo dõi sự phát sinh, phát triển và đánh giá mức độ thiệt hại của bệnh héo vàng (Fusarium oxysporum) - Xác định nguyên nhân gây bệnh và các đặc điểm hình thái sinh học của nấm gây bệnh Fusarium oxysporum (nhiệt độ, pH môi trường ,…) - Tìm hiểu ảnh hưởng của một số yếu tố tới sự phát triển của bệnh héo vàng (Fusarium oxysporum) trên đồng ruộng (giống, thời vụ, chân đất, luân canh, mật dộ trồng). - Thí nghiệm lây bệnh nhân tạo trên cây trồng trong điều kiện bán đồng ruộng để xác định mức độ gây bệnh của nấm Fusarium oxysporum, xác định thời kỳ tiềm dục của bệnh. - Khảo sát hiệu lực của chế phẩm sinh học nấm đối kháng Trichoderma viride trong phòng thí nghiệm và ngoài đồng ruộng. 3 Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đỗ Tiến hoàng - BVTV 49A III.
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC VÀ TRONG NƯỚC 1. Tình hình nghiên cứu nấm Fusarium oxysporum ngoài nước Bệnh héo vàng do nấm Fusarium oxysporum gây ra là một trong những bệnh nguy hiểm gây thiệt hại lớn ở nhiều nước châu Âu, châu Á, châu Mỹ và châu Đại Dương. Bệnh thường thấy nhiều ở thời vụ có thời tiết nóng, nhiệt độ trong vụ trồng cà chua trên 250C. Ở những nước có nhiệt độ mát mẻ thường thấy bệnh trong nhà kính.
Theo Binder và Hutchinson (1959) cà chua bị bệnh héo vàng do nấm Fusarium sẽ chết nhanh và thiệt hại lớn khi cùng bị tuyến trùng (Meloidogine incognita) xâm nhập vì tuyến trùng làm giảm tính chống bệnh của cà chua đối với nấm Fusarium. Các loài nấm Fusarium sp đã được nghiên cứu từ khoảng đầu thế kỷ XIX. Đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về nấm Fusarium đã được công bố và có ý nghĩa lớn trong sự phát triển của khoa học kỹ thuật. Nấm Fusarium thuộc lớp Hyphomycetes., nhóm nấm bất toàn Fungi imperfecti, đây là loại nấm có thành phần rất phong phú và đa dạng, trong đó sự biến động của một số loài phụ thuộc cơ bản vào đặc điểm khí hậu ở các vùng khác nhau trên thế giới.
Loài nấm này gây hại nhiều loại cây trồng trên tất cả các bộ phận đặc biệt bộ phận gốc, rễ của cây. Bệnh héo vàng cà chua được mô tả đầu tiên do Massee. ở Anh năm 1895, đây là bệnh hại quan trọng trên cây cà chua ở ít nhất là 32 nước trên thế giới. Ở phía nam nước Mỹ bệnh này đã gây hại nghiêm trọng trên đồng ruộng (Jone, J.
Chu kỳ sinh trưởng của nấm bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau, trong quá trình phát tán bào tử nấm có mặt trong không khí và trong thời gian giữa các thời vụ. Kết quả điều tra thành phần loài nấm Fusarium vùng 4 Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đỗ Tiến hoàng - BVTV 49A Queensland Australia với 3 loài nấm Fusarium moniliforme, Fusarium serif và Fusarium semitectum, loài nấm Fusarium oxysporum xuất hiện ở hầu hết các mẫu phân lập (Burgess and Summerell,1992). Theo Burgess và cộng sự (1994), các loài nấm Fusarium xuất hiện ở hầu hết các vùng đó là loài nấm Fusarium chlamydosporum, Fusarium moniliforme, Fusarium solani, Fusarium tricinetum, các loài nấm khác như Fusarium subglutinans, Fusarium porotichisides, Fusarium culmorum, Fusarium evenacerum, Fusarium acuninatum thường thấy xuất hiện ở vùng ôn đới. Theo Martuy (1984) cho biết, bệnh héo vàng cây dưa tây do nấm Fusarium oxysporum gây ra được mô tả đầu tiên ở Mỹ.
Nấm Fusarium vasinfectum gây bệnh héo vàng cây bông, là bệnh héo vàng đầu tiên được công bố có phạm vi rất rộng. Vùng đông nam nước Mỹ, đồng bằng châu thổ sông Nile, phía đông và nam hồ Victoria của Tanzania và một số vùng khác thuộc Ấn Độ. Kappelmen (1981), Kelman và Cock (1981) đều công bố rằng bệnh này gây hại lớn đối với các vùng trồng bông ở Trung Quốc. Như vậy nấm Fusarium oxysporum có phạm vi ký chủ rất rộng lớn và tồn tại nhiều dạng khác nhau trong đất.
Mặt khác, thành phần và sự phân bố của nấm Fusarium oxysporum trong đất có liên quan chặt chẽ với sự xuất hiện và mức độ gây hại trên cây ở mỗi vùng sinh thái khác nhau. Nấm Fusarium equiseti gây bệnh thối bầu bí khi quả tiếp xúc với đất (Burgess et al, 1988). Nấm Fusarium oxysporum gây bệnh thối nõn ngô (Nelson et al, 1988) và gây thối nõn dứa (Bolkan et al, 1974). Cũng theo Burgess và các cộng sự (1998) nấm Fusarium oxysporum là tác nhân gây bệnh héo và thối rễ, thân, mầm cây.
Theo Binder và Hutchison (1959) cà 5 Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đỗ Tiến hoàng - BVTV 49A chua bị bệnh sẽ bị chết nhanh hơn và thiệt hại nhanh hơn khi cùng bị tuyến trùng (Meloidogin incognita) xâm nhập vì tuyến trùng đã làm giảm khả năng chống bệnh của cây gây ra bệnh thối rễ và lở cổ rễ ở cây bí ngô là do nấm. Ngoài ra, theo R.Stover ở vùng nhiệt đới loài nấm Fusarium oxysporum còn gây hại trên nhiều ký chủ khác nhau như thuốc lá, cà chua, khoai lang, khoai tây, cây hoa huệ…. Đây là những bệnh có tác hại kinh tế lớn trong sản xuất. Nấm Fusarium oxysporum có dạng bào tử lớn trong suốt, có nhiều vách ngăn, bào tử hình trăng khuyết, một đầu thắt lại hình bàn chân.
Dạng bào tử nhỏ, đơn hoặc đa bào hình cầu hoặc hình bầu dục. Một số loài Fusarium oxysporum có bào tử nhỏ, bào tử hậu và quả thể hoặc không có bào tử hậu.Booth năm 1977 -1979 đã chú ý vào bản chất tế bào phân sinh mà từ đó sinh ra bào tử nhỏ, là một trong những chỉ tiêu đầu tiên để phân loại nấm trên cơ sở đó ông cho rằng nấm Fusarium oxysporum có số lượng 90 loài. Gần đây Burgess và cộng sự (1993) đã đưa ra cơ sở phân loại nấm Fusarium oxysporum gồm 7 chỉ tiêu như sau: 1) Hình thành bào tử lớn. 2) Hình thành bào tử nhỏ.
3) Hình dạng và kiểu bào tử nhỏ. 4) Kích thước của bào tử nhỏ. 5) Sự có mặt hay không có mặt của bào tử hậu trên môi trường PGA. 6) Đường kính tản nấm trên môi trường PGA.
7) Hình thái tản nấm. Nấm Fusarium oxysporum ban đầu gồm hơn 100 loài được mô tả dựa trên kiểm nghiệm về cấu trúc của ổ sinh bào tử lớn là thực vật. Theo phân 6 Báo cáo thực tập tốt nghiệp Đỗ Tiến hoàng - BVTV 49A loại của Wellenneper Reikinh (1935), số loài giảm xuống còn 65 loài, 55 giống và 22 dạng. Bằng phương pháp cấy truyền đơn bào tử dùng trong hệ thống phân loại của Snyder và Hanser đã bổ sung về sự giống và khác nhau giữa các loài Fusarium oxysporum, Snyder và Hanser đã đề nghị giảm số lượng xuống còn 9 loài.