Đặt vấn đề Hiện nay cùng với sự phát triển không ngừng của xã hội thì nhiều ngành kinh tế cũng thay đổi không ngừng theo chiều hướng đi lên. Sự thay đổi theo nhiều lĩnh vực khác nhau và theo mức độ khác nhau. Cùng với sự phát triển chung này thì ngành Lâm nghiệp cũng không nằm ngoài quy luật đó. Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa, có diện tích đồi núi lớn (3/4 diện tích), là tiềm năng lớn cho phát triển Nông - Lâm nghiệp nói chung và ngành Lâm nghiệp nói riêng.
Hiện tại ngành Lâm nghiệp đang quản lý 16.24 triệu ha rừng, chiếm 1/2 diện tích lãnh thổ, liên quan trực tiếp đến cuộc sống của 24 triệu người trên cả nước. Rừng là một nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, rừng cung cấp gỗ, củi đốt , nguyên liệu cho các nhà máy chế biến gỗ, các loại đặc sản, lâm sản ngoài gỗ, mà còn tạo cảnh quan khu sinh thái, là lá phổi xanh của nhân loại điều hòa khí hậu bảo vệ môi trường và còn nhiều tác dụng to lớn khác… Nhưng do nhu cầu của con người với rừng và các sản phẩm từ rừng ngày một tăng, cháy rừng, sức ép dân số,vấn đề đô thị hóa, công tác quản lý rừng còn lỏng lẻo là nguyên nhân chính làm giảm diện tích rừng ở nước ta hiện nay. Với tình hình thu hẹp nhanh chóng về diện tích cũng như chất lượng rừng hiện nay dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như hạn hán, lũ lụt, biến đổi khí hậu toàn cầu, ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của con người và các loài sinh vật trên Trái đất. Trước thực trạng đó Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều biện pháp thiết thực nhằm giảm tình trạng khai thác rừng bừa bãi, tiếp tục phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, tiến hành trồng rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn, rừng trồng sản xuất tập trung nhằm đáp ứng nhu cầu của các nhà máy giấy 2 các nhà máy sợi, xí nghiệp chế biến ván dăm, các nhà máy chế biến gỗ khác.
Để đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho các nhà máy xí nghiệp gỗ và bảo vệ môi trường, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách chủ trương nâng cao độ che phủ của rừng, với nhiều dự án đề ra như dự án 661, dự án 327, dự án PAM và các dự án đầu tư và bảo vệ rừng khu vực miền núi… Ở nước ta công tác tuyển chọn cây trồng phù hợp với mục đích kinh doanh và yêu cầu phòng hộ là rất quan trọng, trong đó cây keo tai tượng được coi là cây trồng chủ yếu, cùng với keo lai, bạch đàn và thông ở các chương trình dự án. Theo số liệu tổng cục thống kê, diện tích rừng trồng mới tập trung năm 2014 la 28,3 nghìn ha, tăng 23,5% so với năm trước, chủ yếu là các loài nội nhập thông, keo, bạch đàn. Trong đó huyện Phú Lương có diện tích rừng tập trung lớn 3.500 ha chiến 7,5 % so với toàn tỉnh Thái Nguyên. Cây Keo tai tượng (Acacia mangium), thuộc chi Acacia, họ Trinh nữ (minosaceae) là một loài cây trồng sinh thái rộng, dễ trồng, mọc nhanh sớm khép tán nhanh, dễ thích ứng với điều kiện lập địa khác nhau, có tác dụng che phủ và cải tạo đất, có khả năng đảm bảo thành công trong công tác trồng rừng đã được đảm bảo.
Là cây cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến gỗ, tinh bột…tuy là cây trồng dễ thích ứng, dễ sinh trưởng song cây Keo tai tượng lại là một cây trồng rừng mắc sâu bệnh hại xảy ra tại vườn ươm cũng như rừng trồng, gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng cũng như sản lượng của rừng, bệnh gây hại rất nghiêm trọng có thể làm chết cây. Theo kết quả điều tra bệnh hại rừng trồng mới được thực hiện năm 2010 và năm 2011 tại Thừa Thiên Huế cho thấy trên các diện tích rừng trồng Keo tai tượng, Keo lá tràm và Keo lai ở một số địa phương của Tỉnh đã xuất hiện, hiện tượng cây keo chết héo với tỷ lệ 5-7%. Bệnh hại keo ở Thừa Thiên Huế được xác định là một loài nấm Ceratocystis gây nên ảnh hưởng lớn đến năng suất cây trồng. 3 Xuất phát từ thực trạng tác hại của bệnh nấm Ceratocystis gây ra em tiến hành nghiên cứu đề tài, “Đánh giá mức độ bị bệnh do nấm Ceratocystis gây hại trên Keo tai tượng (Acacia mangium Willd) theo độ tuổi tại huyện Phú Lương- tỉnh Thái Nguyên”.
Mục tiêu và yêu cầu của đề tài - Xác định được cây bị bệnh, cấp bệnh cho từng cây trong OTC. - Xác định nguyên nhân gây bệnh chết héo do nấm Ceratocystis trên Keo tai tượng. - Nghiên cứu các đặc điểm sinh thái, hình thái về nấm bệnh. - Đánh giá tỷ lệ bị bệnh, mức độ bị bệnh do nấm Ceratocystis gây hại với rừng trồng Keo tai tượng ở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
- Đề xuất một số biện pháp phòng trừ bệnh do nấm Ceratocystis trên Keo tai tượng. Ý nghĩa nghiên cứu đề tài 1. Ý nghĩa trong khoa học Nghiên cứu đề tài giúp cho học sinh củng cố, hệ thống lại kiến thức đã học, từ đó vận dụng vào thực tiễn sản xuất. đồng thời có cơ hội làm quen với một số phương pháp sử dụng ngoài thực tế, cũng như trong nghiên cứu đề tài cụ thể cũng như điều tra đánh giá bệnh hại do nấm Ceratocystis gây hại keo tai tượng ở rừng trồng.
đồng thời đây cũng là cơ hội để giúp chúng em học tập tích lũy kinh nghiệm, nâng cao rèn luyện kỹ năng làm đề tài cho bản thân. Ý nghĩa thực tiễn Thông qua việc nghiên cứu bệnh hại, trên cơ sơ đó xác định các biện pháp, giảm thiểu ngăn ngừa dịch bệnh, bảo vệ cây trồng rừng, không làm ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng gỗ và lợi ích kinh tế của người trồng keo tai tượng. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học 2.
Đặc điểm sinh thái cây keo tai tượng Keo tai tượng (Acacia mangium) còn có tên khác là keo lá to, keo đại, keo mỡ, là một cây thuộc họ Trinh nữ (Mimosaceae). Keo tai tượng phân bố tự nhiên ở phía Bắc Australia, Papua New Guinca, Đông Indonesia. Vùng phân bố chính rộng nhưng không liên tục từ vĩ tuyến 8 - 180 Nam. Thường phân bố ở những nơi có độ cao rất thấp từ 10 - 400 m và không vượt quá 800 m.
Loài này đã được đem trồng thành công ở Sabab (Malaysia), Philippines, Hawaii, Costa Rica và nhiều nơi khác ở Châu Á. Người ta sử dụng keo tai tượng để bảo vệ cảnh quan môi trường và lấy gỗ. Ở Việt Nam, Keo tai tượng được trồng với mục đích chủ yếu là cải tạo môi trường sinh thái và sản xuất gỗ, cung cấp gỗ nguyên liệu cho nghành công nghiệp chế biến bột giấy, ván sợi ép, trụ mỏ dùng đóng đồ mộc,gỗ xây dựng, làm ván ghép thanh… Loài Keo tai tượng thích hợp nơi có nhiệt độ bình quân năm 23 - 340C, độ cao dưới 600-700m so với mực nước biển, độ dốc dưới 20 - 250, ưa đất tốt sâu dày hơn keo lá tràm, thành phần cơ giới trung bình, thoát nước. Cây mọc tốt trên nhiều loại đất có pH: 4 - 5, đặc biệt sinh trưởng tốt ở những nơi đất tốt, tầng đất dày, nơi có lượng mưa từ 1500-2500mm/năm.
Cây mọc nhanh, khỏe, chịu đựng mọi hoàn cảnh. Mọc trên nhiều loại đất: đất cát ven biển, đất bazan, đất bồi tụ, vàng đỏ, phù sa cổ… Cây gỗ lớn cao 25-30m, đường kính có thể đạt tới 60- 80cm. Thân nập, thẳng, vỏ ngoài màu xám, phân cạnh dài, nhánh non có 3 cạnh to, cây ưa sáng, mọc nhanh, có khả năng cải tạo đất, chống xói nòm, chống cháy rừng. 5 Gỗ thẳng màu vàng trắng có vân, có giác lõi phân biệt, gỗ có tác dụng nhiều mặt: kích thước nhỏ làm nguyên liệu giấy, kích thước lớn sử dụng trong xây dựng đóng đồ mộc mỹ nghệ hàng hóa xuất khẩu.
Đất đai: chủ yếu trồng trên các loại đất feralit, tầng dày tối thiểu 35cm, tối ưu 40-50cm, đất phù sa cổ đất xám bạc màu, đất phèn lên luống không bị ngập nước đều có thể trồng được. Lá đơn, mọc cách, dạng thân dài, cong phình rộng ở phần trên, đầu thuôn tù thu hẹp dần ở góc, hẹp theo cuống, màu xanh lục bóng. Có 4 gân từ góc lá, cong theo phiến, gân nhỏ mạng lưới. Cụm hoa dạng bông ở nách lá.
Hoa nhỏ màu vàng. Quả đậu, dài, xoắn lại nhiều vòng, màu nâu đậm. Keo tai tượng mọc tự nhiên Austrialia được nhập trồng ở nhiều nước nhiệt đới Châu Á. Ở Việt Nam Keo tai tượng được trồng rộng rãi trong toàn quốc, thường trồng thành rừng tập trung, trồng xen, trồng phân tán… Gỗ màu nhạt dễ cưa xẻ đóng đồ gia dụng, vật liệu dùng trong xây dựng, xẻ ván, làm bột, giấy, sản xuất ván nhân tạo.
Là loài cây đa mục đích, thuộc loài cây cố định đạm, có tác dụng cải tạo đất. Cơ sở khoa học bệnh cây Bệnh cây rừng là một loại bệnh gây hại tự nhiên vô cùng phổ biến. Bệnh hại thường làm cho cây rừng sinh trưởng kém, lượng sinh trưởng của cây gỗ hàng năm giảm xuống, một số bệnh hại có thể làm cây chết hàng loạt. Khoa học bệnh cây được hình thành và phát triển do đòi hỏi của nhu cầu cầu sản xuất cây nông nghiệp và do quá trình đấu tranh giữa thiên nhiên và con người, giữa ý thức hệ duy tâm và duy vật.
Ngay từ giai ðoạn ðầu của lịch sử trồng trọt, nhân dân lao ðộng thông qua thực tế sản xuất và những kinh nghiệm của mình đã phát hiện và phòng trừ một số bệnh hại nguy hiểm (Trần Văn Mão,1997) [8]. 6 Việt Nam ta là nước thuộc khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, đây là điều kiện thuận lợi để phát triển nghành Nông lâm nghiệp nói chung và nghành Lâm nghiệp nói riêng, tuy nhiên cũng đem đến không ít khó khăn làm cản trở hoặc phá hoại cơ sở vật chất và thành quả của nghành Lâm nghiệp, do dịch bệnh và sâu hại hoành hành như nạn dịch sâu ăn lá, sâu đục thân, nấm cổ rễ…phát sinh ở hầu hêt khắp nơi gây thiệt hại đáng kể cho sản xuất lâm nghiệp. Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học bệnh cây đã phát hiện nhiều loại bệnh hại cây rừng ở nước ta như: Năm 1960 khi điều tra rừng ở miền nam Việt Nam, Hoàng Thị Mỹ đã đề cập đến một số bệnh hại lá chủ yếu: bệnh gỉ sắt, bệnh phấn trắng, bệnh bồ hóng…Vào năm 1966, Nguyễn Sỹ Dao phát hiện bệnh khô lá thông ở vườn ươm. Tác giả cũng nghiên cứu các đặc điểm sinh học, áp dụng một số loại biện pháp khoa học cho việc phòng trừ loại bệnh này.