ĐẶT VẤN ĐỀ Cây ngô là loại cây trồng ngũ cốc đầu tiên và quan trọng nhất trên thế giới, là loại cây đứng thứ ba về diện tích trồng trọt sau lúa mì và lúa gạo, đứng thứ hai về sản lƣợng và đứng thứ nhất về năng suất. Cây ngô tên khoa học Zea mays L., thuộc họ hòa thảo Poaceae. Ngày nay, cây ngô đã đƣợc trồng ở tất cả các châu lục, có thể thích nghi với tất cả các điều kiện sinh thái khí hậu, từ vùng ôn đới đến nhiệt đới. Trên thế giới có hơn 100 nƣớc trồng ngô gồm các nƣớc công nghiệp và các nƣớc đang phát triển, nƣớc có diện tích trồng ngô lớn nhất là Trung Quốc với 26 triệu ha, Brazil 12 triệu ha, Mexico 7.5 triệu ha và Ấn Độ 6 triệu ha.
Nó có thể gây ra 112 bệnh ở nhiều nơi trên thế giới, gây ra bởi nấm, vi khuẩn, virus và tuyến trùng gây ra thiệt hại to lớn. Với vai tr làm lƣơng thực cho ngƣời, thức ăn chăn nuôi, nguyên liệu công nghiệp và xuất khẩu, ngô đã trở thành cây trồng đảm bảo an ninh lƣơng thực, góp phần chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp theo hƣớng từ trồng trọt sang chăn nuôi, cung cấp cho nông nghiệp và sản phẩm hàng hóa cho xuất khẩu ở nhiều nƣớc trên phạm vi thế giới. Ở Việt Nam, ngô và lúa nƣớc là hai cây trồng chủ yếu tạo cơ sở đảm bảo cho an ninh lƣơng thực quốc gia, nhất là trung du và miền núi phía Bắc. Cây ngô có đặc điểm dễ canh tác, phù hợp với nhiều loại đất trồng, địa hình, dễ chăm bón, ít công lao động, giá cả và thị trƣờng tiêu thụ ổn định đã tạo điều kiện để cây ngô là cây trồng quan trọng và phổ biến.
Ở một số tỉnh nhƣ Phú Thọ, Lai Châu, Hà Giang, Cao Bằng, Sơn La. thì ngô dƣờng nhƣ là cây trồng truyền thống số một. Ngô đƣợc dùng làm lƣơng thực chủ yếu cho một số đồng bào dân tộc H’Mông, Dao, Tày, Nùng,… mặc dù sản lƣợng lúa ở vùng này đã tăng lên đáng kể nhƣng một lƣợng lớn ngô vẫn đƣợc dùng làm lƣơng thực và cả chăn nuôi. Những năm gần đây, nƣớc ta có chính sách mở cửa nên nhiều giống ngô đã đƣợc cho nhập nội: C919, NK4300, DK414, ngô ngọt, ngô lai đơn HK4, cho năng suất cao, đáp ứng đƣợc nhu cầu sử dụng của con ngƣời và làm nguồn thức ăn dồi dào cho chăn nuôi.
Tuy nhiên, ngô là loại cây trồng bị nhiều loại sâu bệnh hại tấn công mà đặc biệt là các loại bệnh hại. Chúng có thể lây lan qua nhiều con đƣờng khác nhau: gió, mƣa, nƣớc, các kí chủ phụ và tàn dƣ cây trồng. Thiệt hại do sâu bệnh gây ra cho các loại cây trồng lƣơng thực (trong đó có ngô) ƣớc tính hàng năm dao động từ 10-30%. 1 c Các loại bệnh hại ảnh hƣởng rất lớn tới năng suất cũng nhƣ chất lƣợng của cây ngô.
Chúng không chỉ gây hại ngoài đồng ruộng mà còn gây hại trong bảo quản. Gây thiệt hại nghiêm trọng tới năng suất kinh tế của ngƣời dân. Các bệnh hại ngô đa phần là do nấm gây ra. Chúng làm hao hụt nông sản rất lớn cả về số lƣợng cũng nhƣ chất lƣợng, giảm giá trị thƣơng phẩm,… Tuy nhiên số bệnh phát hiện ở Việt Nam hiện nhỏ hơn rất nhiều so với các công bố trên thế giới.
Do đó dịch bệnh trên ngô đang trở thành vấn đề hàng đầu đƣợc quan tâm tại những vùng trồng ngô ở nƣớc ta. Có quản lý và kiểm soát sâu bệnh hại trên ngô nói chung và nấm hại trên ngô nói riêng thì sản xuất ngô mới ổn định. Để phòng trừ các bệnh do nấm gây ra, góp phần tăng năng suất và chất lƣợng ngô, ngƣời nông dân đã sử dụng nhiều biện pháp bảo vệ thực vật khác nhau nhƣ: Biện pháp thủ công, biện pháp canh tác kỹ thuật, biện pháp vật lý, nhƣng biện pháp chủ yếu vẫn đƣợc dùng hơn cả là biện pháp hóa học. Việc áp dụng các biện pháp hóa học kéo dài trong nhiều năm đã gây những hậu quả có ảnh hƣởng xấu tới đời sống và sức khỏe con ngƣời, phá vỡ sự cân bằng của hệ sinh thái nông nghiệp, để lại dƣ lƣợng thuốc bảo vệ thực vật trên nông sản và trong nguồn nƣớc.
Trƣớc những đ i hỏi của thực tế đó, các nhà khoa học đã nghiên cứu và đƣa ra biện pháp sinh học và đã đƣợc ứng dụng ở nhiều nƣớc trên thế giới nhằm phòng trừ các bệnh do nấm gây ra. Với mong muốn góp phần vào việc làm giảm tỷ lệ tổn thất năng suất và chất lƣợng của nông sản đồng thời nâng cao hiệu quả của công tác kiểm dịch và bảo vệ thực vật, hạn chế tới mức tối đa sự phát sinh, phát triển và gây hại của bệnh trên cây ngô, đặc biệt là các bệnh nấm hại, mang lại hiệu quả kinh tế, đảm bảo an ninh lƣơng thực quốc gia, đƣợc sự đồng ý của Khoa Nông học - Trƣờng Học viện Nông Nghiệp Việt Nam, dƣới sự hƣớng dẫn của TS Trần Nguyễn Hà, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu bệnh đốm lá nhỏ hại ngô tại huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh năm 2017”. MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU 1. Mục đích Điều tra xác định thành phần, mức độ phổ biến của bệnh nấm hại ngô vụ xuân hè tại Lƣơng Tài, tỉnh Bắc Ninh.
Khảo sát hiệu lực ph ng trừ nấm gây bệnh đốm lá nhỏ Bipolaris maydis (B. maydis) bằng một số vi sinh vật đối kháng. Yêu cầu - Điều tra, xác định thành phần và mức độ phổ biến của bệnh nấm hại ngô vụ xuân hè tại huyện Lƣơng Tài, tỉnh Bắc Ninh năm 2017. - Phân li nuôi cấy, nghiên cứu đặc điểm hình thái, đặc tính sinh học của các mẫu phân lập nấm gây bệnh đốm lá nhỏ hại ngô.
- Khảo sát hiệu lực ức chế của nấm Trichoderma viride và vi khuẩn Bacillus subtilis đối kháng với nấm Bipolaris maydis trên môi trƣờng nhân tạo PGA. - Khảo sát tính gây bệnh của các mẫu phân lập nấm Bipolaris maydis trên một số giống ngô trong điều kiện chậu vại. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. NHỮNG NGHIÊN CỨU NGOÀI NƢỚC 2.
Tình hình sản xuất, tiêu thụ ngô trên thế giới Trên thế giới, ngô là một trong những cây ngũ cốc quan trọng, diện tích đứng thứ 3 sau lúa mì và lúa nƣớc; sản lƣợng thứ hai và năng suất cao nhất trong các cây ngũ cốc. Năm 1961, diện tích ngô toàn thế giới đạt 105,5 triệu ha, năng suất 19,4 tạ/ha, sản lƣợng 205 triệu tấn, đến năm 2009, diện tích trồng ngô thế giới đạt khoảng 159,5 triệu ha, năng suất bình quân 51,3 tạ/ha, sản lƣợng 817,1 triệu tấn. Trong đó Mỹ, Trung Quốc, Brazil là những nƣớc đứng đầu về diện tích và sản lƣợng. Cây ngô đƣợc đánh giá là cây trồng có vai tr hết sức quan trọng trong cơ cấu cây trồng ở nƣớc ta; năm 2010 là 1126,9 nghìn ha (trong đó trên 90% diện tích trồng ngô lai), sản lƣợng đạt trên 4,6 triệu tấn.
Tuy vậy sản xuất ngô trong nƣớc vẫn chƣa đáp ứng đủ nhu cầu, hàng năm nƣớc ta phải nhập khẩu lƣợng lớn ngô nguyên liệu cho chế biến thức ăn chăn nuôi. Theo Cục trồng trọt (2011), những năm qua nhà nƣớc cũng đã hết sức quan tâm đầu tƣ cho việc nghiên cứu phát triển cây ngô. Hai dự án phát triển giống ngô lai đã đƣợc đầu tƣ là dự án phát triển giống ngô lai giai đoạn 2006 - 2010 và dự án phát triển sản xuất giống ngô lai giai đoạn 2011 - 2015. Nhà nƣớc có nhiều cơ chế chính sách hỗ trợ giống đã khuyến khích các doanh nghiệp trong và ngoài nƣớc sản xuất, cung cấp giống, giới thiệu các giống mới có năng suất, chất lƣợng tốt vào sản xuất, nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật về sản xuất ngô đã đƣợc chuyển giao đến ngƣời nông dân.
Tuy nhiên việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất vẫn c n nhiều hạn chế, với địa hình phức tạp, trên 70% diện tích ngô đƣợc trồng trên đất có độ cao, phụ thuộc vào nƣớc trời, ít đầu tƣ thâm canh nên năng suất ngô vẫn c n thấp so với tiềm năng của giống. Năm 2010, NSTB cả nƣớc đạt 40,9 tạ/ha, sản lƣợng trên 4,6 triệu tấn so với năng suất ngô có thâm canh là 70 - 80 tạ/ha. Bên cạnh đó các giống ngô có khả năng thích nghi tốt với điều kiện thời tiết bất thuận nhƣ hạn hán và mƣa lũ vẫn c n thiếu. Trong những năm vừa qua diện tích và thị trƣờng ngô chƣa có biến động lớn, chỉ có năng suất ngô là tăng tƣơng đối nhanh ở nhiều quốc gia.
Năng suất 4 c ngô tăng mạnh sẽ làm cho sản lƣợng ngô tăng, đặc biệt ở các nƣớc đang phát triển nhƣ Trung Quốc. Giá ngô trên thị trƣờng thế giới trong thời gian qua đã có sự biến động đáng kể, bình quân thời kỳ 1994 - 1999 là 138 - 142 USD/tấn; hiện nay là 300 - 305 USD/tấn. Các nƣớc xuất khẩu ngô chính vẫn là Mỹ, Achentina, Pháp… các nƣớc nhập khẩu ngô chính gồm Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Malaysia, Đài Loan… Ngành sản xuất ngô trên thế giới tăng liên tục từ đầu thế kỷ XX đến nay. Năm 2000, năng suất ngô trung bình của thế giới đạt 4,3 tấn/ha, năm 2005 đạt 4,8 tấn/ha và đến năm 2009, diện tích trồng ngô thế giới đạt 156,04 triệu ha, năng suất 5,2 tấn/ha và sản lƣợng đạt kỷ lục với 808,8 triệu tấn.
Mỹ là nƣớc đứng đầu thế giới cả về diện tích, năng suất và sản lƣợng ngô. Nhờ ứng dụng ngô lai vào sản xuất đại trà nên kết quả sản xuất ngô của nƣớc Mỹ liên tục tăng. Tiếp đến Trung Quốc với diện tích 30,4 triệu ha, năng suất đạt 5,1 tấn/ha và sản lƣợng đạt 155 triệu tấn. Các nƣớc có năng suất ngô cao là: Mỹ (10,34 tấn/ha), Argentina (8,33 tấn/ha), Canada (8,31 tấn/ha).
Hiện nay sản lƣợng ngô sản xuất ra ngày càng tăng và châu là nơi có sản lƣợng ngô đứng đầu thế giới. Đi đầu là Trung Quốc với diện tích đứng thứ hai thế giới chiếm 20% (2009) và Đông Nam đạt 27 triệu tấn. Những nghiên cứu về bệnh hại ngô trên thê giới Cây ngô là cây lƣơng thực quan trọng trên thế giới, chính vì vậy mà có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về cây ngô. Một trong những nghiên cứu quan trọng nhất mà các nhà khoa học đã và đang nghiên cứu là tình hình sâu bệnh hại trong cây ngô ngoài sản xuất và trong quá trình bảo quản.
Theo Shurtlef (1993) cho thấy có đến trên 130 bệnh hại ngô, trong đó có tới 74 bệnh hại do nấm gây ra.