Đặt vấn đề Sâu keo da láng Spodoptera exigua Hubner (Lepidoptera : Noctuidae) là một trong những loài gây hại nguy hiểm của vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới.exigua là loài có phạm vi ký chủ rộng. Nó tấn công khoảng 90 loài thực vật từ 18 họ thực vật khác nhau, bao gồm bông, cà chua, cà rốt, bắp cải, củ cải, cỏ đinh lăng, củ cải đƣờng, khoai tây, khoai lang, lạc, lúa mì, ngô, măng tây, súp lơ, thuốc lá, tỏi, vừng, cam quýt… (Xia-lin Z. Ở Việt Nam, sâu keo da láng S. exigua đã đƣợc ghi nhận trên 25 loại cây trồng khác nhau, trong đó có 4 loài thuộc họ Alliaceae và nó đã gây hại đáng kể cho hành lá ở Tiền Giang và các tỉnh khác trong nƣớc (Phạm Văn Lầm & cs, 2010).
Cây hành hoa hay hành ăn lá Allium fistulosum (Họ hành tỏi Liliaccae) bị nhiều loài sâu hại làm ảnh hƣởng đến năng suất, chất lƣợng trong đó có loài sâu keo da láng đƣợc ghi nhận ở nhiều nơi trên thế giới (CABI, 2014). Ở Việt Nam, hành lá là một loại rau gia vị quan trọng, đƣợc dùng làm hƣơng liệu hay còn đƣợc coi là cây thuốc có giá trị cao. Việc trồng hành lá đang đƣợc mở rộng ở các vùng miền Bắc, Việt Nam bao gồm Hà Nội, Hƣng Yên, Hải Dƣơng, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Phòng, Vĩnh Phúc. exigua đang gây hại đáng kể tại các vùng sản xuất hành ở hầu hết cả nƣớc, nó xuất hiện với mật độ dày, gây hại nặng trên hành lá, làm giảm đến 30% sản lƣợng và thu nhập của ngƣời nông dân (Nguyễn Thị Hƣơng, 2018).
Theo Smits (1987), sâu keo da láng có thể tồn tại quanh năm trên đồng ruộng, gây hại từ vụ này sang vụ khác, từ cây trồng này sang cây trồng khác hoặc gây hại trên các cây cỏ dại quanh đồng ruộng, gây thiệt hại nghiêm trọng cho nền sản xuất nông nghiệp. Sản xuất hành an toàn và trên diện rộng vẫn còn nhiều thách thức, đặc biệt là quản lý dịch hại. Nhiệt độ môi trƣờng có ý nghĩa quyết định chiều hƣớng và mức độ mọi hoạt động sống của côn trùng nói chung. Nhiệt độ ảnh hƣởng đến tốc độ phát dục, quy 1 luật phát sinh phát triển, sức sinh sản và hoạt tính của côn trùng (Nguyễn Viết Tùng, 2006).
Ví dụ, nhiệt độ càng tăng thì loài sâu cắn gié Leucaunia separata Walk có thời gian phát dục càng ngắn và sức sinh sản của trƣởng thành lớn nhất ở 30℃ sức đẻ giảm sút rõ rệt so với ở nhiệt độ 19-23℃, thậm chí chúng không đẻ trứng ở 35℃ (Nguyễn Viết Tùng, 2006). Tuy nhiên, hiện chƣa có nhiều nghiên cứu về yếu tố nhiệt độ đến sâu keo da láng. Những dữ liệu khoa học về loài sâu hại nguy hiểm này trên hành lá còn rất hạn chế, trong đó việc nghiên cứu về đặc điểm sinh học và sinh thái dƣới sự tác động của nhiệt độ, sẽ là cơ sở khoa học để xác định các biện pháp phù hợp trong phòng chống sâu keo da láng hại cây hành. Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn, cần phải có những nghiên cứu sâu hơn đặc biệt là về yếu tố nhiệt độ đến sâu keo da láng.
Việc xác định chính xác các đặc điểm hình thái, sinh thái và sinh học của Spodoptera exigua là cơ sở để xác định các biện pháp phòng ngừa phù hợp. Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài : “Nghiên cứu ảnh hƣởng của nhiệt độ đến đặc điểm sinh học của sâu keo da láng Spodoptera exigua hại hành năm 2022”. Mục tiêu của đề tài 1. Mục đích Trên cơ sở nghiên cứu ảnh hƣởng của nhiệt độ đến một số chỉ tiêu sinh học cơ bản của sâu keo da láng để từ góp phần đề xuất biện pháp phòng trừ hiệu quả sâu keo da láng hại hành theo hƣớng an toàn, bảo đảm hiệu quả kinh tế.
Yêu cầu - Nghiên cứu ảnh hƣởng của nhiệt độ đặc điểm cơ bản về hình thái học của sâu keo da láng S. - Nghiên cứu ảnh hƣởng của nhiệt độ đặc điểm sinh học của sâu keo da láng S. exigua trên cây hành hoa. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nƣớc 2.1 Tình hình gây hại của sâu keo da láng Spodoptera exigua Vị trí phân loại khoa học: Giới (regnum): Animalia; Ngành (phylum) : Eulepidoptera; Lớp (class): Insecta; Bộ (ordo): Lepidoptera; Họ (familia): Noctuidae; Chi (genus): Spodoptera; Loài (species): Spodoptera exigua.
Danh pháp Spodoptera exigua Hubner, 1808. Phạm vi kí chủ: Sâu keo da láng Spodoptera exigua Hubner, có phạm vi ký chủ rộng, cƣ trú và phá hoại trên nhiều loại cây trồng khác nhau. Spodoptera exigua là một trong những loài gây hại nguy hiểm của vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Nó tấn công gây hại hơn 90 loài thực vật thuộc ít nhất 18 họ trên khắp Bắc Mỹ, bao gồm bông, cà chua, cà rốt, bắp cải, củ cải, cỏ linh lăng, củ cải đƣờng, khoai tây, khoai lang, lạc, lúa mì, ngô, măng tây, súp lơ, cây thuốc lá, hoa hồng, tỏi, vừng, cây họ cam quýt, v.
Một số loài cỏ dại thích hợp cho sự phát triển của sâu non sâu keo da láng nhƣ Chenopodium album, Verbascum sp., Amaranthus spp, Portulaca spp.(Amaldoss & Hsue, 1989; Farahani & cs. Phân bố và sự gây hại Sâu keo da láng, một trong những sâu hại nguy hiểm của nhiều vùng trồng rau trên thế giới. Theo Capinera (2020), sâu keo da láng S.exigua có nguồn gốc từ Đông Nam Á, lần đầu tiên phát hiện ở Bắc Mỹ vào khoảng năm 1876 ở Oregon, sau đó trong khoảng gần 50 năm chúng đã xuất hiện trở lại ở Florida vào năm 1924. Sâu keo da láng S.exigua phân bố rộng sang Bắc Mỹ, Mexico, châu Phi, châu Âu, Ấn Độ và Australia (Waterhouse, 1993).
Chúng đƣợc coi là một trong những loài côn trùng hại cây trồng nông nghiệp chính tại hầu hết các vùng trên thế giới nhƣ châu Phi, châu Á, châu Úc, châu Mỹ, phía nam châu Âu, đặc biệt ở châu Mỹ 4 và châu Á (Liburd & cs. Sâu keo da láng hiếm khi phát sinh ở những nơi có mùa đông lạnh kéo dài, do đó S.exigua ít đƣợc ghi nhận ở Arizona, Florida. Vào năm 1980, sâu keo da láng tấn công hành tây ở Nhật Bản và hiện nay trở thành loài côn trùng nguy hiểm của vùng Tây Nam, Nhật Bản (Takai, 1991). Ở Malaysia, trƣởng thành sâu keo da láng S.exigua đƣợc tìm thấy quanh năm ở cao nguyên Cameron, Pahang, Malaysia, sâu non của chúng tấn công các cánh đồng bắp cải, đậu, rau cần tây và các cánh đồng trồng hoa cẩm chƣớng với các giống hoa màu hồng, tím và đỏ (Azidah, 2008).
Tại các tỉnh trồng hành ở Philippines, S.exigua đã bùng phát đặc biệt là ở Nueva Ecija, Pangasinan, và Tarlac vào năm 2016 (Navasero & cs.exigua gây thiệt hại về năng suất của những vùng sản xuất rau, là loài sâu hại chính tại các vùng cà chua ở Geogria và trở thành loài sâu hại thứ cấp trên cây bông ở Alabama, Georgia, ouisiana, Mississippi và Texas của Mỹ (Douce & McPherson, 1991; Huffman, 1996; Layton, 1994). Năm 1988 các vùng trồng bông ở Georgia cũng bị loài sâu hại này tấn công gây hại 102.505 ha bị hại rất nặng. Sản lƣợng bông bị mất ở vùng này lên đến 2. Các vùng trồng đậu tƣơng ở Geogria cũng bị loài sâu hại này tấn công cùng thời điểm này, chi phí phòng trừ dịch hại đến 558.
Sản lƣợng đậu tƣơng bị mất là 272 tấn (Gore & cs. Sâu keo da láng đã phát triển thành dịch ở Texas vào năm 1995, gây thiệt hại cho hơn 1.000 ha cây bông, với chi phí hơn 31 triệu USA để kiểm soát dịch bệnh cho khoảng 480. Sâu keo da láng S.exigua cũng đã lây nhiễm trên 2.000 ha bông trồng ở Hoa Kỳ vào năm 1998, gây ra thiệt hại đáng kể và thiệt hại gần 1,2 triệu USA (Williams, 2005). Năm 2017, tại trang trại thử nghiệm ở ICAR-DOGR, Pune sâu keo da láng S.exigua xuất hiện gây hại nghiêm trọng đến sản lƣợng hành trong vùng.
Trong vụ đầu tiên có khoảng 44,72% cây bị hại, trong khi ở giai đoạn sau, mức độ thiệt hại lên đến 81,90% (Soumia & cs. Sâu keo da láng đã phá hủy khoảng 200 ha 5 cây ăn quả có múi trong nhà kính ở California trong các mùa hè 1957, 1958 và 1959, gây ra thiệt hại kinh tế đáng kể (Atkins, 1960). Nghiên cứu về đặc điểm hình thái của sâu keo da láng Spodoptera exigua Trứng Spodoptera exigua có dạng hình cầu màu trắng, đƣợc đẻ thành từng ổ từ 50 – 150 quả/ổ đƣợc bao phủ bởi một lớp lông, do đó các ổ trứng có hình dạng bông đặc biệt, trứng đƣợc đẻ chủ yếu trên ngọn lá hành (Soumia & cs. Do đƣợc bao phủ bởi lông cứng của trƣởng thành cái, ổ trứng đƣợc bảo vệ khỏi tác động của môi trƣờng và các loài thiên địch (Amaldoss & Hsue, 1989).exigua thƣờng có 5-6 tuổi (Chen & cs.
Sâu non có màu sắc thay đổi qua từng tuổi, từ màu xanh lá cây nhạt đến màu xanh thẫm. Sâu non mới nở có màu xanh lục nhạt và sau đó chuyển sang màu xám với đầu màu đen và cơ thể đƣợc bao phủ bởi những gai nhọn (Soumia & cs. Sâu non tuổi 1 và tuổi 2 có màu xanh nhạt hoặc màu vàng. Bắt đầu từ tuổi 3 sâu non xuất hiện những sọc nhạt màu trên thân.
Đến tuổi 4 những sọc trên lƣng có màu đậm hơn (Capinera, 1999). Sâu non tuổi 5 biến đổi nhiều về màu sắc, có thể có nhiều màu sắc khác nhau nhƣ màu xanh vàng, nâu đen, vàng nâu hoặc màu hồng. Màu sắc của sâu non tuổi 6 từ vàng xanh đến nâu đen, nâu vàng đến hồng. Chúng có màu đen trƣớc khi hóa nhộng.exigua có màu sắc thay đổi rất nhiều qua quá trình lột xác chuyển tuổi, do đó không có kiểu màu điển hình cho bất kỳ cá thể nào (Atkins, 1960).
Kích thƣớc chiều rộng của 5 tuổi sâu tƣơng ứng 0,25; 0,45; 0,70; 1,12 và 1,80 mm. Sâu non đẫy sức có chiều dài thân 20 - 25,4 mm (Amaldoss & Hsue, 1989; Wilson, 1932). Sâu non tuổi 1 và tuổi 2 có xu hƣớng thả tơ để đu đƣa. Từ sâu non tuổi 3 trở đi di cƣ đến các bộ phận khác của cây sống riêng lẻ (Chen & cs.
Theo Soumia & cs.exigua có màu nâu. Nhộng mới có màu nâu sáng, sau chuyển sang màu nâu đỏ. Nhộng có chiều dài 9-15 mm (Ronal & cs. Khối lƣợng nhộng khoảng 0,053 - 0,099 g (Idris & Emelia, 2001) và có khối lƣợng ở 15℃ và 25℃ lần lƣợt là 107,2 mg 109,5 mg, tối đa 117,5 mg ở 35℃ (Jaba & cs.
Nhộng cái có khối lƣợng trung bình cao hơn (0,07g) so với nhộng đực (0,058g) (Amaldoss & Hsue, 1989). Theo Zheng & cs. (2011), nhộng sâu keo da láng hóa nhộng trong đất ở độ sâu 1,1 – 2,0 cm gần gốc của cây ký chủ.