Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh thái học của sâu keo mùa thu spodoptera frugiperda trên một số cây ký chủ tại diễn châu nghệ an năm 2021 khóa luận tốt nghiệp

Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học của sâu keo mùa thu Spodoptera frugiperda trên cây ký chủ tại Diễn Châu, Nghệ An năm 2021.

Chuyên ngành

Nông học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2021

111
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. PHẦN 1: MỤC LỤC

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ NGOÀI NƯỚC

2.1. Tình hình nghiên cứu sâu keo mùa thu ngoài nước

2.1.1. Phân loại

2.1.2. Phân bố

2.1.3. Phạm vi ký chủ

2.1.4. Mức độ gây hại và thiệt hại kinh tế

2.1.5. Đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái học của sâu keo mùa thu

2.1.5.1. Pha trứng
2.1.5.2. Pha sâu non
2.1.5.3. Pha nhộng
2.1.5.4. Pha trưởng thành

2.2. Tình hình nghiên cứu sâu keo mùa thu trong nước

2.3. Biện pháp phòng trừ

3. PHẦN 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu

3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành

3.3. Nội dung nghiên cứu

3.4. Phương pháp nghiên cứu

3.4.1. Phương pháp điều tra ngoài đồng ruộng

3.4.2. Phương pháp tiến hành thí nghiệm trong phòng

4. PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Thành phần sâu hại Ngô vụ xuân tại Diễn Châu, Nghệ An năm 2021

4.2. Phạm vi ký chủ của sâu keo mùa thu tại Diễn Châu, Nghệ An vụ xuân năm 2021

4.3. Triệu chứng gây hại của sâu keo mùa thu trên cây ngô

4.4. Đặc điểm hình thái của sâu keo mùa thu

4.5. Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của sâu keo mùa thu

4.6. Ảnh hưởng của thức ăn đến đặc điểm sinh vật học của sâu keo mùa thu

4.7. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến đặc điểm sinh vật học của sâu keo mùa thu

4.8. Sự lựa chọn thức ăn của sâu non các tuổi sâu keo mùa thu

5. PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Sinh thái học và phân bố địa lý của sâu keo mùa thu

Nghiên cứu tập trung vào sinh thái họcphân bố địa lý của sâu keo mùa thu (Spodoptera frugiperda) tại Diễn Châu, Nghệ An. Loài này được xác định là dịch hại xuyên biên giới, có khả năng lây lan nhanh chóng do hoạt động thương mại quốc tế. Sâu keo mùa thu xuất hiện trên nhiều loại cây ký chủ, bao gồm ngô, lúa, lạc và khoai lang. Nghiên cứu chỉ ra rằng mật độ sâu cao nhất vào giai đoạn cây ngô 4-7 lá, đạt 2,4 con/m². Điều này cho thấy tác động mạnh mẽ của loài này đến nông nghiệp địa phương.

1.1. Phân bố địa lý

Sâu keo mùa thu có nguồn gốc từ châu Mỹ và đã lan rộng sang châu Phi và châu Á. Tại Việt Nam, loài này được phát hiện gây hại trên diện rộng từ năm 2019, đặc biệt tại các tỉnh như Nghệ An, Hải Dương và Thái Bình. Nghiên cứu tại Diễn Châu cho thấy sự xuất hiện của sâu trên nhiều loại cây trồng, gây thiệt hại đáng kể đến năng suất.

1.2. Tác động môi trường

Tác động môi trường của sâu keo mùa thu được thể hiện qua khả năng thích nghi với nhiều điều kiện khí hậu và cây ký chủ. Nghiên cứu chỉ ra rằng nhiệt độ và thức ăn ảnh hưởng trực tiếp đến chu kỳ sinh trưởng của sâu. Ví dụ, vòng đời của sâu khi nuôi trên ngô là 34,4 ngày, trong khi trên lạc là 33,52 ngày.

II. Đặc điểm sinh học và tập tính ăn uống

Nghiên cứu chi tiết về đặc điểm sinh họctập tính ăn uống của sâu keo mùa thu cho thấy loài này có sáu tuổi sâu non. Sâu non có màu xanh với đầu đen, chuyển sang màu nâu khi trưởng thành. Tập tính ăn uống của sâu non gây thiệt hại nghiêm trọng đến cây trồng, đặc biệt là ngô và lạc. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sâu non ẩn mình vào ban ngày và hoạt động mạnh vào ban đêm.

2.1. Chu kỳ sinh trưởng

Chu kỳ sinh trưởng của sâu keo mùa thu bao gồm bốn giai đoạn: trứng, sâu non, nhộng và trưởng thành. Thời gian phát triển từ trứng đến trưởng thành dao động từ 21 đến 29 ngày, tùy thuộc vào điều kiện nhiệt độ và thức ăn. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sức sinh sản của trưởng thành cái đạt trung bình 710 trứng khi nuôi trên ngô.

2.2. Tập tính ăn uống

Tập tính ăn uống của sâu non gây thiệt hại nghiêm trọng đến cây trồng, đặc biệt là ngô và lạc. Sâu non ăn mô lá, ngọn và đỉnh sinh trưởng, làm cây không phát triển được. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sâu non ưa thích lá ngô hơn lá lạc, với tỷ lệ sống sót cao hơn khi nuôi trên ngô.

III. Phương pháp nghiên cứu và quản lý dịch hại

Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa điều tra đồng ruộng và thí nghiệm trong phòng. Các dữ liệu sinh thái được thu thập và phân tích để đánh giá mức độ gây hại của sâu keo mùa thu. Kết quả nghiên cứu đã đề xuất các biện pháp quản lý dịch hại hiệu quả, bao gồm kiểm soát sinh học và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.

3.1. Phương pháp điều tra

Phương pháp điều tra đồng ruộng được thực hiện để xác định mật độ sâu và phạm vi ký chủ. Các mẫu sâu và cây trồng được thu thập và phân tích trong phòng thí nghiệm để đánh giá đặc điểm sinh học và sinh thái học của sâu.

3.2. Quản lý dịch hại

Nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý dịch hại hiệu quả, bao gồm sử dụng thiên địch và thuốc bảo vệ thực vật. Kiểm soát sinh học được xem là giải pháp bền vững để giảm thiểu tác động của sâu keo mùa thu đến nông nghiệp.

IV. Giá trị và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu cung cấp dữ liệu quan trọng về sinh thái họcsinh học của sâu keo mùa thu, giúp hiểu rõ hơn về tác động của loài này đến nông nghiệp. Kết quả nghiên cứu có giá trị thực tiễn cao, hỗ trợ việc xây dựng chiến lược quản lý dịch hại hiệu quả tại Diễn Châu, Nghệ An và các khu vực lân cận.

4.1. Giá trị khoa học

Nghiên cứu đóng góp vào kho tàng dữ liệu sinh thái về sâu keo mùa thu, giúp các nhà khoa học hiểu rõ hơn về chu kỳ sinh trưởng và tập tính của loài này. Đây là cơ sở quan trọng cho các nghiên cứu tiếp theo về kiểm soát sinh họcquản lý dịch hại.

4.2. Ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu được áp dụng trực tiếp vào thực tiễn nông nghiệp, giúp nông dân tại Diễn Châu, Nghệ An giảm thiểu thiệt hại do sâu keo mùa thu gây ra. Các biện pháp quản lý dịch hại được đề xuất đã chứng minh hiệu quả trong việc bảo vệ cây trồng.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Sâu keo mùa thu Spodoptera frugiperda (J. Smith) (Lepidoptera: Noctuidae) là loài côn trùng đa thực nguy hiểm có nguồn gốc tại châu Mỹ. Gần đây, sâu keo mùa thu đã trở thành dịch hại xâm lấn gây hại nghiêm trọng trên cây ngô tại châu Phi và châu Á. Tại châu Phi, đầu năm 2016, sâu keo mùa thu được phát hiện ở 5 nước Tây và Trung Phi và đến năm 2018, loài này đã được phát hiện gây hại trên cây ngô tại trên 30 quốc gia ở châu Phi (FAO, 2018).

Tại châu Á, sâu keo mùa thu được phát hiện gây hại đầu tiên tại Ấn Độ và Yê Men vào tháng 7 năm 2018. Đến đầu năm 2019, loài này đã xuất hiện tại 5 quốc gia khác là Bangladesh, Trung Quốc, Myanmar, Sri Lanka và Thái Lan (FAO, 2019). Sâu keo mùa thu được ghi nhận gây hại trên 353 cây ký chủ khác nhau thuộc 76 họ trong đó họ Hoà thảo (Poaceae: 106), họ Cúc (Asteraceae: 31), họ Đậu (Fabaceae: 31). Ngoài cây ngô và cây lúa, loài này còn gây hại nghiêm trọng trên nhiều loại cây trồng khác như mía, bông, đậu tương, lạc, hoa hướng dương, hành, tỏi, củ cải, rau họ hoa thập tự, cây họ bầu bí, cà chua, khoai lang, táo, xoài,… Ở Việt Nam, từ tháng 3 đến tháng 7 năm 2019, sâu keo mua thu đã gây hại trên 16.000 hecta ngô và gây hại nặng trên 2.000 hecta tại trên 34 tỉnh thành trong cả nước.

sâu keo mùa thu đã xuất hiện và gây hại trên cây ngô ở nhiều tỉnh thành như Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Phú Thọ, Cao Bằng.; vùng Bắc Trung Bộ có các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa, Quảng Bình, Hà Tĩnh…; khu vực Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên có các tỉnh Quảng Ngãi, Đăk Nông. 1 Từ tình hình gây hại của sâu keo mùa thu Spodoptera frugiperda trên cây ngô ở Việt Nam trong thời gian gần đây, nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái và các cây kí chủ của sâu keo mùa thu trở nên cấp thiết để từ đó đề xuất các nghiên cứu về quản lý và phòng chống chúng. Trên cơ sở đó, dưới sự phân công của Bộ môn Côn trùng, khoa Nông học và sự hướng dẫn của PGS TS. Phạm Hồng Thái, tôi thực hiện đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học của sâu keo mùa thu Spodoptera frugiperda trên một số cây ký chủ tại Diễn Châu, Nghệ An năm 2021” 2.

Mục đích và yêu cầu 2. Mục đích Nghiên cứu được đặc điểm sinh học, sinh thái học của sâu keo mùa thu, so sánh được khả năng gây hại của sâu keo mùa thu Spodoptera frugiperda trên các ký chủ từ đó đề xuất biện pháp quản lý và phòng chống loài dịch hại này một cách hiệu quả. Yêu cầu - Điều tra xác định được phạm vi ký chủ của sâu keo mùa thu S.frugiperda ở Diễn Châu, Nghệ An vụ xuân năm 2021. - Xác định được diễn biến mật độ sâu keo mùa thu S.

frugiperda trên một số cây ký chủ tại Diễn Châu, Nghệ An vụ xuân năm 2021. - Xác định được đặc điểm hình thái, sinh học của sâu keo mùa thu S. frugiperda trên một số cây ký chủ cây ngô và cây lạc. 2 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ NGOÀI NƯỚC 2.

Tình hình nghiên cứu sâu keo mùa thu ngoài nước 2. Phân loại Phân loại loài sâu keo mùa thu được các nhà nghiên cứu xác định như sau: Giới: Động vật (Metazoa) Ngành: Chân đốt (Arthropoda) Lớp: Côn trùng (Insecta) ` Bộ: Cánh vẩy (Lepidoptera) Họ: Ngài đêm (Noctuidae) Giống: Sâu keo (Spodoptera) Loài: Sâu keo mùa thu (Spodoptera frugiperda) (CABI, 2020) 2. Phân bố Theo (FAO, 2019) sâu keo mùa thu đã lan rộng tại rất nhiều nơi trên thế giới. Năm 2016 đã ghi nhận thấy sâu keo mùa thu xuất hiện tại Trung và Tây Phi.

Vào tháng 7 năm 2018 Theo ghi nhận cho thấy nó đã được xác định tại Ấn Độ và Yemen. Vào năm 2019, nó đã xuất hiện lại ở Bangladesh, Myanmar, Sri Lanka, Thái Lan và Trung Quốc. Sâu keo mùa thu là loài dịch hại xuyên biên giới nguy hiểm có khả năng lây lan liên tục cao do khả năng phân bố tự nhiên và thương mại quốc tế của nó. Phạm vi ký chủ Theo (Kabwe & cs., 2018) sâu keo mùa thu gây hại trên rất nhiều loài cây kí chủ.

Các loại cây kí chỉ thường bị sâu keo mùa thu gây hại là: ngô, lúa mạch, bông, yến mạch, kê, lạc, gạo, lúa miến, củ cải đường, đậu tương, mía, thuốc lá 3 và lúa mì cùng những loại khác. Ngoài ra, sâu keo mùa thu còn gây hại nghiêm trọng trên, cây rau họ hoa thập tự, hành, khoai tây, cà chua, các cây họ cà khác, và các loại cây cảnh khác nhau. Theo (Montezano & cs., 2018) Sâu keo mùa thu gây hại trên một số lượng lớn cây ký chủ. Sâu keo mùa thu Spodoptera frugiperda được ghi nhận là gây hại trên 353 cây ký chủ khác nhau thuộc 76 họ thực vật, chủ yếu là họ Cúc (Asteraceae: 31), họ Hòa thảo (Poaceae: 106) và họ Đậu (Fabaceae: 31).

Theo (FAO, 2019), Sâu keo mùa thu gây hại trên hơn 80 loài thực vật khác nhau bao gồm ngô, lúa, kê, mía, cây rau và bông …. Mức độ gây hại và thiệt hại kinh tế Thiệt hại về cây trồng chủ yếu là do sâu non gây ra do ăn mô lá, ngọn, đỉnh sinh trưởng, bắp non, hoa non làm cây không phát triển được hoặc bắp không có hạt, bắt hư hỏng. Thiệt hại do sâu keo mùa thu gây ra có thể lên 60%. Theo CABI, (2020), diện tích ngô bị gây hại từ 26,4% đến 55,9% ảnh hưởng đến năng suất là 11,57%.

Tại Hoa Kỳ năm 1975, sâu keo mùa thu gây hại nặng trên cây trồng trồng thiệt hại ước tính 61,2 triệu đô la. Năm 1976 mức độ gây hại được ước tính là 31,9 triệu đô la. Theo Kuate & cs., (2019), tại Cameroon ghi nhật có tới 10 khu vực đã có sự xuất hiện và gây hại của sâu keo mùa thu,theo thống kê ta thấy tỷ lệ thiệt hại từ 22,9 ± 5,7% ở vùng Đông Bắc đến 79,2 ± 3,4%, tại khu vực ở phía Tây trong cuộc khảo sát sau đó. Mức độ thiệt hại do sâu keo mùa thu gây ra dao động từ 2,15 ± 0,08% ở vùng Đông Bắc được ghi nhận trong cuộc khảo sát thứ hai, đến 3,64 ± 0,10% ở vùng Littoral trong cuộc khảo sát thứ hai.

Số lượng sâu non trung bình dao động trong khoảng 6,33 ± 1,51 (con/ô thí nghiệm) đến 19,78 ± 3,03 (con/ô thí nghiệm) tại các ô không được xử lý. Các ô đã đực xử lý thì mật độ sâu keo mùa thu đao động từ 4,43 ± 1,73 (con/ô thí nghiệm) đến 29,0 ± 2,70 (con/ô thí nghiệm). Số lượng sâu keo mùa thu lớn hơn trên mỗi cánh đồng được ghi nhận ở khu vực phía Tây (20,1 ± 2,30 con/m2), tiếp theo là phía Đông (15,9 4 ± 2,45 con/m2) và Tây Bắc (15,3 ± 2,14 con/m2). Số lượng sâu keo mùa thu thấp nhất ở vùng Đông Bắc được ghi nhận lại là (6,59 ± 1,39 con/m2).

Theo Mugo & cs., (2018) ghi nhận có hơn 1,5 triệu ha ngô bị sâu keo mùa thu gây hại gây ảnh hưởng ở 6 quốc gia như: Nigeria, Ghana, Kenya, Ethiopia, Zambia và Zimbabwe. Việc gây hại của sâu keo mùa thu trên ngô đã làm năng suất ngô trên toàn lục địa giảm gây thiệt hại nặng, năng xuất chỉ còn nằm trong khoảng 8,3 đến 20,6 triệu tấn/năm thấp hơn so với năng suất dự kiến là 39 triệu tấn / năm. Sâu keo mùa thu đã gây thiệt hại từ 2,5 đến 6,1 tỷ USD mỗi năm so với tổng giá trị dự kiến là 11,5 USD tỷ mỗi năm. Ngoài ra sâu keo mùa thu gây hại còn làm ảnh hưởng tới những cánh đồng chuyên sản xuất các giống ngô.

Theo Laron beemer (2018) ghi nhận thấy rằng sâu keo mùa thu đã xuất hiện và gây hại tới 12 quốc gia tại châu Phi, ước tính thiệt hại mà sâu keo mùa thu gây ra trên cây ngô từ 8,3 triệu đến 20,6 triệu tấn ngô hàng năm có nguy cơ cao đe dọa nghiêm trọng đến nền lương thực để cung cấp cho 100 triệu người chỉ riêng ở 12 quốc gia đó. Ở Ethiopia, sâu keo mùa thu đã xâm nhập và gây hại trên diện tích trồng ngô là 13% trêm tổng diện tích ngô được trồng, tính đến cuối tháng 3 năm 2018, chỉ có 40% diện tích bị nhiễm bệnh được xử lý bằng hóa chất hoặc các biện pháp khác. Trong vụ mùa 2017, sâu keo mùa thu đã gây hại cho hơn 24% diện tích trồng ngô trong tổng số 2,9 triệu ha trồng ngô, thiệt hại mà sâu keo mùa thu gây ra hơn 134.000 tấn cây trồng với trị giá gần 30 triệu USD. Đợt bùng phát này đã ảnh hưởng đến hàng triệu hộ chăn nuôi nhỏ lẻ trên khắp cả nước.

Đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái học của sâu keo mùa thu * Pha trứng: Theo CABI, (2020), trứng sâu keo mùa thu có đường kính 0,4 mm, cao 0,3 mm, trứng có màu vàng nhạt hoặc hơi kem tại thời điểm trứng mới đẻ và trở thành màu nâu nhạt trước khi nở. Thời gian nở của trứng mất 2-3 ngày (20- 30°C). Trứng thường được đẻ tập chung tạo thành một khối, trung bình một ổ có 5 khoảng 150-200 trứng, trứng được đẻ thành 2-4 lớp trên bề mặt lá. Trứng thường được bao phủ bởi một lớp vảy màu hồng xám bảo vệ từ bụng con cái.

Mỗi con cái có thể đẻ tới 1000 trứng. Các ổ trứng có thể được đẻ ở mặt dưới của lá hoặc ở mặt trên của lá. Trong một số trường hợp đặc biệt, trên cây còn rất nhỏ, trứng có thể được đẻ trên thân cây. Theo Capinera, (2017) trứng sâu keo mùa thu tròn và cong lên đến một điểm tròn rộng ở đỉnh.

Trứng của sâu keo mùa thu đẻ thành từng lớp nhưng hầu hết là rải đều trên mặt lá. Con cái trưởng thành rải một lớp vảy màu xám trông giống như lông. * Pha sâu non: Theo Capinera, (2017) pha sâu non của sâu keo mùa thu thường có sáu tuổi. Chiều rộng mảnh đầu từ tuổi một tới tuổi 6 tương ứng là khoảng 0,35, 0,45, 0,75, 1,3, 2,0 và 2,6 mm.

Sâu non có chiều dài từ tuổi 1-6 tương ứng khoảng 1,7, 3,5, 6,4, 10,0, 17,2 và 34,2 mm. Sâu non màu xanh có đầu đen, đầu chuyển sang màu nâu ở lần thứ hai. Khi sâu keo mùa thu lên tuổi 3 bề mặt lưng của cơ thể có màu nâu và có các đường trắng bên bắt đầu hình thành. Trong thời kì sâu keo mùa thu từ tuổi 4 tới tuổi 6 thì đầu có màu nâu đỏ, có đốm trắng, thường có màu sẫm và có gai.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu sinh thái sâu keo mùa thu Spodoptera frugiperda trên cây ký chủ tại Diễn Châu, Nghệ An 2021 là một tài liệu chuyên sâu về loài sâu hại nông nghiệp phổ biến, tập trung vào đặc điểm sinh thái và tác động của chúng trên các cây ký chủ tại khu vực Diễn Châu, Nghệ An. Nghiên cứu này cung cấp thông tin chi tiết về vòng đời, tập tính sinh học, và các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của sâu keo mùa thu, giúp nông dân và nhà quản lý hiểu rõ hơn về cách phòng trừ hiệu quả. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến bảo vệ cây trồng và quản lý dịch hại bền vững.

Để mở rộng kiến thức về các giải pháp nông nghiệp bền vững, bạn có thể tham khảo Luận văn ứng dụng và phát triển công nghệ sinh học trong nông nghiệp, nghiên cứu này sẽ cung cấp thêm góc nhìn về công nghệ hiện đại trong quản lý dịch hại. Ngoài ra, Luận văn giải pháp phát triển bền vững hoạt động nuôi trồng thủy sản tại Vân Đồn, Quảng Ninh cũng là một tài liệu đáng đọc để hiểu rõ hơn về các mô hình phát triển bền vững trong nông nghiệp. Cuối cùng, Luận văn ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sinh kế người dân trồng chè tại Thái Nguyên sẽ giúp bạn hiểu thêm về tác động của biến đổi khí hậu đến nông nghiệp và các giải pháp thích ứng.