Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sản xuất rau màu tại Việt Nam nói chung và khu vực chuyên canh vùng đồng bằng sông Hồng nói riêng giữ vai trò trọng yếu trong việc cung cấp thực phẩm và gia tăng thu nhập cho người nông dân. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của diện tích gieo trồng rau đã kéo theo áp lực gia tăng từ nhiều loại dịch hại, trong đó nhện đỏ hai chấm (Tetranychus urticae Koch) thuộc họ Tetranychidae, bộ Acarina là một trong những đối tượng dịch hại nguy hiểm nhất. Nhện đỏ hai chấm có kích thước cơ thể rất nhỏ (con trưởng thành chỉ dài khoảng 0,4 – 0,5 mm), vòng đời ngắn, sức sinh sản cao và khả năng chích hút dịch tế bào làm suy giảm nghiêm trọng khả năng quang hợp, khiến lá biến vàng, khô cháy, rụng hàng loạt và làm sụt giảm năng suất cây trồng.

Trước áp lực gây hại của loài dịch hại này, người sản xuất nông nghiệp phần lớn phụ thuộc vào biện pháp hóa học để dập dịch nhanh. Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) thường xuyên, không đúng kỹ thuật và lạm dụng một vài nhóm hoạt chất đã dẫn đến nguy cơ hình thành tính kháng thuốc cao ở các quần thể nhện đỏ, đồng thời gây ảnh hưởng tiêu cực đến thiên địch, môi trường sinh thái và an toàn nông sản. Nhằm tìm kiếm các loại thuốc hóa học có hiệu quả cao, hạn chế tính kháng và định hướng sử dụng thuốc hợp lý, đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đến quần thể nhện đỏ hai chấm Tetranychus urticae Koch hại rau tại Gia Lâm và Đông Anh, Hà Nội năm 2022” đã được thực hiện.

Mục tiêu tổng quát của đề tài là thông qua các thí nghiệm đánh giá hiệu lực thuốc trừ nhện để xác định các loại thuốc có hiệu quả trong phòng trừ Tetranychus urticae, đảm bảo an toàn với môi trường, con người và sinh vật có ích. Các nhiệm vụ và yêu cầu nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  1. Điều tra các loại thuốc trừ nhện đỏ trên rau đang được người nông dân sử dụng tại Gia Lâm, Hà Nội.
  2. Điều tra thành phần và diễn biến mật độ nhện đỏ trên rau tại Gia Lâm, Hà Nội.
  3. Đánh giá hiệu lực của các loại thuốc trừ nhện đang được sử dụng ngoài sản xuất đối với các quần thể nhện đỏ hai chấm thu thập trên rau tại Gia Lâm và Đông Anh, Hà Nội.
  4. Xác định mức độ kháng thuốc của một số quần thể nhện đỏ hai chấm đối với một số hoạt chất thuốc trừ nhện đang được sử dụng rộng rãi ngoài sản xuất.
  5. Đánh giá ảnh hưởng của thuốc trừ sâu/nhện ở nồng độ dưới mức gây chết đến đặc điểm sinh học và sức tăng quần thể của nhện đỏ hai chấm.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Quần thể nhện đỏ hai chấm Tetranychus urticae hại cây rau; thức ăn nhân nuôi là cây đậu cove (Phaseolus vulgaris L.); loài nhện bắt mồi thiên địch Neoseiulus longispinosus Evans.
  • Phạm vi không gian: Thực địa điều tra nông hộ và đồng ruộng tại xã Văn Đức (huyện Gia Lâm) và vùng thu thập mẫu tại xã Vân Nội (huyện Đông Anh), TP. Hà Nội; các thí nghiệm sinh học chuyên sâu được thực hiện tại Bộ môn Côn trùng, Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài tiến hành từ tháng 1 năm 2022 đến tháng 9 năm 2022, trong đó số liệu theo dõi diễn biến mật độ đồng ruộng tập trung ở vụ xuân hè năm 2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thiết lập dựa trên hệ thống cơ sở lý thuyết về sinh học - sinh thái học của nhóm nhện nhỏ hại cây trồng (phytophagous mites), cơ chế kháng thuốc của bộ ve bét (Acarina) và phương pháp đánh giá độc học côn trùng tiêu chuẩn:

  • Văn bản pháp lý và tiêu chuẩn chuyên ngành: Điều tra thành phần và mật độ dịch hại tuân thủ theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng (QCVN 01-38: 2010/BNNPTNT).
  • Phương pháp điều tra xã hội học nông thôn: Sử dụng phiếu phỏng vấn bán cấu trúc trực tiếp đối với 30 hộ nông dân chuyên canh rau tại xã Văn Đức, huyện Gia Lâm để thu thập các chỉ tiêu về cơ cấu thuốc, liều lượng, số lần phun, nồng độ phối trộn và tập quán sử dụng thuốc BVTV.
  • Phương pháp điều tra đồng ruộng: Điều tra định kỳ 7 ngày/lần trên đậu cove vụ xuân hè 2022; bố trí 10 điểm theo đường chéo góc; mỗi điểm thu 10 lá phân bố theo 3 tầng tán (lá non, lá bánh tẻ, lá già) trên 5 cây liên tiếp; đếm số cá thể sống dưới kính hiển vi soi nổi để tính mật độ trung bình (con/lá) và mức độ phổ biến (%).
  • Phương pháp thử nghiệm sinh học (Bioassay) và đánh giá độc tính: Thực hiện theo quy trình chuẩn của Khajehali và cộng sự. Thí nghiệm tiến hành trên đĩa lá đậu cove tươi (kích thước 4x4 cm) đặt úp trên miếng mút xốp ẩm trong đĩa Petri, xung quanh viền bằng dải giấy ướt để ngăn nhện đào thoát. Mỗi đĩa bố trí 20 trưởng thành cái, lặp lại 4 lần. Phun thuốc trực tiếp bằng tháp phun vi lượng Potter (Burckard Manufacturing, Rickmansworth, Vương quốc Anh) với thể tích phun chuẩn 2 mL/đĩa lá ở áp suất 1 Bar. Mẫu sau xử lý được giữ trong tủ định ôn ở điều kiện chuẩn: nhiệt độ 27 ± 0,5°C, độ ẩm tương đối 75% RH và chu kỳ chiếu sáng 16 giờ sáng : 8 giờ tối (L16:D8).
  • Đánh giá hiệu lực và tính kháng: Đánh giá tỷ lệ tử vong sau 24 giờ và 48 giờ. Tỷ lệ chết thực tế được hiệu chỉnh trừ tỷ lệ chết ở công thức đối chứng (phun nước cất, yêu cầu < 10%) bằng công thức Abbott. Mức độ kháng thuốc được phân loại dựa trên tỷ lệ tử vong ở các nồng độ nhân chuẩn: kháng khi tỷ lệ tử vong < 50% ở liều khuyến cáo (FD), kháng vừa khi tỷ lệ tử vong < 50% ở liều 2xFD, và kháng cao khi tỷ lệ tử vong < 50% ở liều 4xFD.
  • Xác định giá trị độc học và phân tích bảng sống: Tính toán nồng độ gây chết 30% và 50% số cá thể (LC30 và LC50) thông qua phần mềm Polo Plus chuyên dụng. Nghiên cứu ảnh hưởng dưới mức gây chết (LC30) đến đặc điểm sinh học thế hệ thứ 2 theo phương pháp của Bùi Xuân Thắng & Hồ Thị Thu Giang (2018), theo dõi các chỉ tiêu vòng đời, sức đẻ trứng, tỷ lệ giới tính và lập bảng sống (life-table) với các thông số: tỷ lệ tăng tự nhiên ($r$), hệ số nhân một thế hệ ($R_0$), thời gian thế hệ trung bình ($T$).
  • Đo đạc hình thái và xử lý số liệu: Kích thước các pha phát dục được chụp ảnh qua kính hiển vi soi nổi kết nối phần mềm NMS và đo đạc chuẩn hóa trên phần mềm Axiovision Rel. 4.8. Số liệu nghiên cứu được phân tích thống kê trên phần mềm SPSS 20.0; kiểm tra phân phối chuẩn bằng kiểm định Shapiro-Wilk; sử dụng phân tích phương sai một nhân tố (One-Way ANOVA) hoặc các kiểm định phi tham số Kruskal-Wallis và Mann-Whitney U khi dữ liệu không chuẩn; tỷ lệ đực/cái được phân tích bằng mô hình tuyến tính tổng quát (Generalized Linear Model).

Nội dung chính theo từng phần

Phần 1: Mở đầu

Phần này trình bày tính cấp thiết của việc bảo vệ cây trồng trước sự bùng phát của dịch hại nhện nhỏ trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp thâm canh. Tác giả nhấn mạnh rằng mặc dù các biện pháp sinh học và canh tác có tính bền vững cao nhưng đòi hỏi kiến thức chuyên môn sâu và khó dập tắt dịch hại nhanh chóng khi bùng phát trên diện rộng. Do đó, biện pháp hóa học vẫn giữ vị trí chủ chốt trong thực tế canh tác rau màu. Tuy nhiên, việc thiếu hiểu biết về đặc tính sinh học của loài nhện đỏ hai chấm kích thước nhỏ (dưới 0,5 mm) cùng thói quen lạm dụng thuốc đã gây ra hiện tượng giảm sút hiệu quả phòng trừ. Từ đó, đề tài xác lập mục đích, 5 nhiệm vụ trọng tâm và phạm vi nghiên cứu nhằm cung cấp căn cứ khoa học cho việc lựa chọn hoạt chất thuốc BVTV hiệu quả, kiểm soát nguy cơ kháng thuốc và giảm thiểu tác hại đến hệ sinh thái.

Phần 2: Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước

Tác giả hệ thống hóa các tài liệu khoa học liên quan đến nhện hại cây trồng trên thế giới và tại Việt Nam:

  • Tổng quan quốc tế: Điểm lại lịch sử phân loại bộ Ve bét (Acarina) với hơn 50.000 loài đã được miêu tả, trong đó bốn họ gây hại kinh tế nghiêm trọng nhất gồm Tetranychidae, Tarsonemidae, Tenuipalpidae và Eriophyidae. Nhện đỏ hai chấm T. urticae có phổ ký chủ rộng với 3.877 loài thực vật, gây hại nghiêm trọng trên dâu tây (thiệt hại năng suất đến 15%), ngô (14%) và bông vải (14 - 44%). Tác giả phân tích các nghiên cứu quốc tế về tính kháng thuốc sâu rộng của T. urticae đối với clofentezine, hexythiazox, dicofol, amitraz cũng như ảnh hưởng của nồng độ dưới mức gây chết của các hoạt chất bifenazate, spirodiclofen, abamectin đến khả năng sinh sản và tốc độ tăng trưởng nội tại ($r_m$). Ngoài ra, các hướng nghiên cứu sử dụng chiết xuất thực vật (cây xô thơm, ngải cứu, tinh dầu họ Hoa môi Lamiaceae) cũng được tổng thuật.
  • Tổng quan trong nước: Nêu bật các công trình của GS.TS. Nguyễn Văn Đĩnh về đặc điểm sinh thái, tập tính chích hút nhựa tế bào mô lá và chu kỳ nhân đôi số lượng chỉ sau 5 - 7 ngày của nhện nhỏ. Điểm lại nghiên cứu của Mai Văn Hào (2010) về nhện hại bông và thiên địch N. longispinosus; nghiên cứu của Trần Ngọc Cảm & Nguyễn Đức Tùng (2019) về ảnh hưởng của thức ăn (đậu cove và dưa chuột) đến sinh học của T. urticae; và các báo cáo của Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (2019) về tình trạng nhện đỏ kháng các hoạt chất Abamectin, Emamectin benzoate, Pyridaben, Fenpyroximate tại các vùng cây ăn quả có múi.

Phần 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Phần này mô tả chi tiết toàn bộ vật liệu, thiết bị, quy trình bố trí thí nghiệm và các thuật toán tính toán:

  • Danh mục 12 loại thuốc BVTV với 12 hoạt chất hóa học được đưa vào khảo nghiệm bao gồm: Comite 73EC (Propargite 73% w/w, nồng độ thử nghiệm 0,09%), Alfamite 20WP (Pyridaben 200 g/kg, 0,10%), Secure 10EC (Chlorfenapyr, 0,05%), Nilmite 550SC (Fenbutatin oxide, 0,04%), Talstar 250EC (Bifenthrin, 0,15%), Goldmite 240SC (Spirodiclofen, 0,10%), Banter 500WG (Bifenazate, 0,048%), Danisaraba 20SC (Cyflumetofen, 0,15%), Mitac 20EC (Amitraz, 0,20%), Borneo 11SC (Etoxazole, 0,07%), Taron 50EC (Chlorpyrifos Methyl), và chế phẩm sinh học Catex 3.6EC (Abamectin).
  • Quy trình chuẩn bị vật chủ và nuôi nhện: Kỹ thuật trồng đậu cove trong bầu nilon đặt trên khay cách ly nguồn nước; lây nhiễm nhện đỏ hai chấm khi cây đạt 2 lá thật (14 ngày sau gieo) trong lồng lưới mica chuyên dụng nhằm duy trì nguồn nhện đồng đều, không nhiễm tạp nhện bắt mồi.
  • Thiết lập thí nghiệm độc học: Mô tả chuẩn mực thao tác trên tháp Potter, nồng độ pha chế theo phương thức pha loãng nồng độ mẹ $C_1V_1 = C_2V_2$, cách tính ppm, các công thức toán học xác định sức sinh sản, tỷ lệ nở, tỷ lệ đực/cái, thời gian phát dục trung bình kèm độ lệch chuẩn, và 6 bước đo kích thước tiêu bản bằng thước trắc vi 1 mm trên phần mềm Axiovision Rel. 4.8.

Phần 4: Kết quả và thảo luận

Chương này công bố toàn bộ dữ liệu thực nghiệm và điều tra thực tế thu thập được:

  • Kết quả điều tra thực trạng sử dụng thuốc trừ nhện tại xã Văn Đức, huyện Gia Lâm trên 30 hộ nông dân:
Tên thương phẩm Hoạt chất chính và hàm lượng Số hộ sử dụng Tỷ lệ sử dụng (%)
Detect 50WP Diafenthiuron 50% w/w 12/30 40,00
Catex 3.6EC Abamectin 3,6% w/w 7/30 23,33
Comite 73EC Propargite 73% w/w 4/30 13,33
Ortus 5SC Fenpyroximate 5% w/w 4/30 13,33
Asian Gold 500SC Diafenthiuron 500 g/L 4/30 13,33
Agasi 55EC Abamectin 54 g/L 2/30 6,67
Alfamite 20WP Pyridaben 200 g/kg 2/30 6,67
Sauso 10EC Fenpropathrin 100 g/L + Phụ gia 2/30 6,67
  • Thành phần nhện và mức độ phổ biến: Ghi nhận 1 loài nhện gây hại duy nhất là Tetranychus urticae Koch và 1 loài thiên địch bắt mồi là Neoseiulus longispinosus Evans. Mức độ phổ biến của T. urticae tăng nhanh từ ít phổ biến (++: 25 - 50%) trong tháng 3 lên mức rất phổ biến (++++: > 75%) vào tháng 4 và tháng 5. Đồng thời, nhện bắt mồi N. longispinosus cũng có xu hướng gia tăng từ rất ít (+: < 25%) ở tháng 3 lên mức ít phổ biến (++: 25 - 50%) trong tháng 4 và tháng 5 theo biến động của con mồi.
  • Diễn biến mật độ nhện đỏ hai chấm trên đậu cove vụ xuân hè 2022 tại Văn Đức: Mật độ biến động theo các giai đoạn sinh trưởng của cây và yếu tố thời tiết:
Ngày điều tra Giai đoạn sinh trưởng cây đậu Mật độ trung bình (con/lá)
12/03/2022 Phát triển thân lá 0,42
19/03/2022 Phát triển thân lá 1,37
26/03/2022 Phát triển thân lá 1,45
02/04/2022 Ra hoa đậu quả 3,46
09/04/2022 Ra hoa đậu quả 4,40
16/04/2022 Thu hoạch 6,19
23/04/2022 Thu hoạch 6,45
30/04/2022 Thu hoạch 6,40
07/05/2022 Thu hoạch (Đạt đỉnh cao nhất) 7,77
14/05/2022 Thu hoạch 7,48
21/05/2022 Sau thu hoạch 5,28
28/05/2022 Sau thu hoạch 5,10
  • Đánh giá hiệu lực và tính kháng thuốc: Chế phẩm Catex 3.6EC đạt hiệu lực diệt trừ nhện trưởng thành cái cao nhất trong số 12 thuốc thử nghiệm trên cả hai quần thể. Tại liều khuyến cáo (FD), hiệu lực của Catex 3.6EC đối với quần thể Gia Lâm sau 24 giờ và 48 giờ lần lượt là 98,75% và 100%; đối với quần thể Đông Anh đạt 100% tại cả hai thời điểm 24 giờ và 48 giờ. Hiệu lực của toàn bộ 12 loại thuốc khảo nghiệm giữa hai quần thể thu tại Gia Lâm và Đông Anh không có sự sai khác rõ rệt.
  • Ảnh hưởng của nồng độ LC30 đến các thông số sinh học thế hệ thứ 2: Xử lý thuốc ở nồng độ LC30 của 3 hoạt chất (Catex 3.6EC, Danisaraba 20SC, Banter 500WG) làm kéo dài vòng đời của nhện đỏ hai chấm rõ rệt so với đối chứng phun nước lã. Khả năng sinh sản của nhện cái bị ức chế nghiêm trọng: tổng số trứng đẻ ở công thức đối chứng đạt cao nhất với 65,77 quả/cái, trong khi ở công thức Banter 500WG giảm xuống còn 37,75 quả/cái, công thức Danisaraba 20SC còn 27,56 quả/cái, và công thức Catex 3.6EC đạt mức thấp nhất. Tỷ lệ tăng tự nhiên ($r$) của quần thể ở đối chứng đạt 0,325, cao hơn rõ rệt so với các công thức xử lý Catex 3.6EC (0,195), Danisaraba 20SC (0,221) và Banter 500WG (0,246).

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết các phát hiện cơ bản của khóa luận về thực trạng sử dụng thuốc, tính quy luật trong diễn biến mật độ trên đồng ruộng, mức độ mẫn cảm của hai quần thể nhện đỏ tại Hà Nội đối với các hoạt chất thử nghiệm, và tác động kìm hãm quần thể sâu sắc của liều lượng dưới mức gây chết (LC30). Từ đó, tác giả đưa ra các kiến nghị định hướng cho công tác quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây rau màu.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu mang lại các dữ liệu định lượng cụ thể về sinh thái và độc học của nhện đỏ hai chấm Tetranychus urticae tại Hà Nội năm 2022:

  • Xác định thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tại vùng rau chuyên canh Văn Đức (Gia Lâm): Nông dân sử dụng đa dạng hoạt chất nhưng mức độ tập trung không đồng đều. Thuốc Detect 50WP (Diafenthiuron) được sử dụng phổ biến nhất (40,00%), kế đến là Catex 3.6EC (Abamectin) chiếm 23,33%; các nhóm hoạt chất khác như Propargite, Fenpyroximate, Fenpropathrin, Pyridaben chiếm tỷ lệ thấp hơn (từ 6,67% đến 13,33%).
  • Xác định quy luật biến động mật độ: Mật độ nhện đỏ hai chấm trên đậu cove vụ xuân hè khởi đầu thấp ở giai đoạn cây phát triển thân lá (0,42 – 1,45 con/lá vào tháng 3), tăng mạnh ở giai đoạn ra hoa đậu quả (3,46 – 4,40 con/lá), đạt đỉnh điểm ở thời kỳ thu hoạch rộ ngày 07/05/2022 với 7,77 con/lá, và suy giảm nhẹ ở giai đoạn cây già cỗi sau thu hoạch (khoảng 5,10 – 5,28 con/lá). Quần thể thiên địch bắt mồi tự nhiên Neoseiulus longispinosus xuất hiện đồng hành và gia tăng mật độ theo sự phát triển của nhện hại.
  • Hiệu lực thuốc trừ nhện: Hoạt chất Abamectin (Catex 3.6EC) thể hiện hiệu lực tiếp xúc và diệt trừ nhện trưởng thành cái triệt để nhất (98,75% sau 24h và 100% sau 48h tại Gia Lâm; 100% tại Đông Anh ở cả 2 thời điểm). Hiệu lực phòng trừ của 12 loại thuốc trên hai quần thể nhện thu thập tại Gia Lâm và Đông Anh là tương đương nhau, chưa ghi nhận sự phân hóa tính kháng rõ rệt giữa hai địa bàn.
  • Tác động dưới mức gây chết (Sublethal effects) ở nồng độ LC30: Ba hoạt chất Catex 3.6EC, Danisaraba 20SC và Banter 500WG kéo dài vòng đời thế hệ sau, đồng thời suy giảm sức sinh sản từ 65,77 quả/cái (ở đối chứng) xuống lần lượt còn 37,75 quả/cái (Banter 500WG), 27,56 quả/cái (Danisaraba 20SC) và mức thấp nhất ở Catex 3.6EC. Tỷ lệ tăng tự nhiên ($r$) của quần thể giảm mạnh từ 0,325 xuống 0,195 (Catex 3.6EC), 0,221 (Danisaraba 20SC) và 0,246 (Banter 500WG).

Về mặt đóng góp khoa học và thực tiễn, đề tài cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm toàn diện về chỉ số độc tính và tham số sinh học quần thể (life-table parameters) của T. urticae dưới tác động của các thế hệ thuốc trừ nhện mới (như Cyflumetofen, Bifenazate) so sánh với nhóm truyền thống (Abamectin). Kết quả chứng minh rằng thuốc không chỉ tiêu diệt nhện qua liều gây chết trực tiếp mà ngay ở nồng độ LC30 còn làm suy giảm đáng kể tiềm năng bùng phát số lượng của thế hệ con cháu, tạo cơ sở để xây dựng lịch trình luân phiên hoạt chất và giảm áp lực phun thuốc trên đồng ruộng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số giới hạn xuất phát từ phạm vi nghiên cứu thực tế:

  • Địa bàn khảo sát thực địa và lấy mẫu chỉ tập trung tại hai huyện ngoại thành Hà Nội (Gia Lâm và Đông Anh) trong phạm vi một vụ gieo trồng (vụ xuân hè 2022 trên cây đậu cove), do đó chưa phản ánh được biến động mật độ nhện đỏ hai chấm qua các mùa vụ khác nhau trong năm (như vụ đông hoặc thu đông) cũng như trên các nhóm cây ký chủ mẫn cảm khác (như cà chua, dưa chuột, ớt).
  • Các đánh giá sâu về chỉ số bảng sống thế hệ thứ 2 mới chỉ tập trung phân tích chi tiết trên ba hoạt chất (Catex 3.6EC, Danisaraba 20SC, Banter 500WG) ở mức nồng độ LC30, chưa mở rộng ra toàn bộ 12 hoạt chất khảo nghiệm.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục theo dõi diễn biến mật độ và tính kháng thuốc của nhện đỏ hai chấm trên các loại rau màu khác nhau theo chu kỳ nhiều năm; mở rộng đánh giá ảnh hưởng thứ cấp của các loại thuốc này đối với các loài thiên địch tự nhiên, đặc biệt là loài nhện bắt mồi Neoseiulus longispinosus nhằm hoàn thiện quy trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) an toàn và bền vững.

Giá trị tham khảo

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Thị Huế là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Bảo vệ thực vật, Nông học, Côn trùng học ứng dụng và Khoa học cây trồng. Các nội dung có giá trị tham khảo kỹ thuật cao bao gồm:

  • Quy trình phương pháp chuẩn trong nuôi nhân sinh khối Tetranychus urticae trong điều kiện phòng thí nghiệm bằng cây đậu cove sạch bệnh.
  • Kỹ thuật vận hành tháp phun Potter để khảo nghiệm độc tính thuốc BVTV trên đĩa lá với áp suất và thể tích vi lượng chuẩn hóa.
  • Phương pháp xử lý dữ liệu độc học (tính LC30, LC50 qua Polo Plus), phân tích phương sai phi tham số trên SPSS 20 và kỹ thuật xây dựng bảng sống côn trùng.
  • Cơ sở dữ liệu thực tiễn cho cán bộ khuyến nông và nông dân tại các vùng chuyên canh rau trong việc nhận diện thời điểm bùng phát mật độ nhện hại (giai đoạn ra hoa - thu hoạch) để can thiệp kịp thời, cũng như lựa chọn các hoạt chất luân phiên nhằm ngăn chặn hiện tượng kháng thuốc.

Câu hỏi thường gặp

1. Trong các loại thuốc bảo vệ thực vật khảo nghiệm, chế phẩm nào đạt hiệu lực diệt trừ nhện đỏ hai chấm cao nhất?
Chế phẩm Catex 3.6EC (hoạt chất Abamectin) đạt hiệu lực cao nhất trên cả hai quần thể nhện đỏ hai chấm thu tại Gia Lâm và Đông Anh. Tại liều lượng khuyến cáo (FD), hiệu lực sau 24 giờ và 48 giờ đối với quần thể Gia Lâm đạt lần lượt là 98,75% và 100%; đối với quần thể Đông Anh đạt 100% ở cả hai mốc thời gian 24 giờ và 48 giờ.

2. Mật độ nhện đỏ hai chấm trên đậu cove tại Văn Đức (Gia Lâm) đạt đỉnh điểm vào thời gian nào và đạt bao nhiêu con/lá?
Theo số liệu điều tra vụ xuân hè 2022, mật độ nhện đỏ hai chấm đạt giá trị cao nhất vào ngày 07/05/2022 (giai đoạn thu hoạch) với mật độ trung bình là 7,77 con/lá, sau đó giảm dần khi ruộng đậu bước vào giai đoạn già cỗi sau thu hoạch (còn 5,10 con/lá vào ngày 28/05/2022).

3. Tại xã Văn Đức, loại thuốc BVTV nào được người nông dân sử dụng phổ biến nhất để trừ nhện hại?
Thuốc Detect 50WP (hoạt chất Diafenthiuron 50% w/w) được nông dân địa phương sử dụng nhiều nhất, chiếm tỷ lệ 40,00% (12 trong tổng số 30 hộ điều tra). Xếp thứ hai là Catex 3.6EC (Abamectin 3,6% w/w) với tỷ lệ 23,33% (7/30 hộ).

4. Nồng độ dưới mức gây chết (LC30) của các hoạt chất thử nghiệm ảnh hưởng như thế nào đến khả năng sinh sản của nhện đỏ hai chấm?
Xử lý ở nồng độ LC30 làm suy giảm nghiêm trọng sức đẻ trứng của nhện trưởng thành cái ở thế hệ thứ hai: công thức đối chứng đẻ trung bình 65,77 trứng/cá thể cái, trong khi công thức Banter 500WG chỉ đạt 37,75 trứng/cái, Danisaraba 20SC đạt 27,56 trứng/cái, và công thức xử lý Catex 3.6EC ghi nhận mức sinh sản thấp nhất.

5. Thí nghiệm độc học trên đĩa lá được thực hiện bằng thiết bị gì và trong điều kiện môi trường nào?
Thí nghiệm phun thuốc được thực hiện bằng tháp phun vi lượng Potter (Burckard Manufacturing, Rickmansworth, Vương quốc Anh) với lượng nước thuốc 2 mL/đĩa lá ở áp suất 1 Bar. Sau khi phun, mẫu thử được bảo quản trong tủ định ôn ở nhiệt độ 27 ± 0,5°C, độ ẩm không khí 75% RH và chu kỳ quang kỳ 16 giờ chiếu sáng : 8 giờ tối (L16:D8).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Thị Huế đã giải quyết đầy đủ các mục tiêu đề ra về điều tra thực trạng canh tác, quy luật phát sinh mật độ và đánh giá độc học của 12 loại thuốc bảo vệ thực vật đối với nhện đỏ hai chấm Tetranychus urticae tại Hà Nội năm 2022. Kết quả nghiên cứu khẳng định hiệu lực tiếp xúc vượt trội của chế phẩm Catex 3.6EC (Abamectin), đồng thời chứng minh tác động kìm hãm sinh học sâu sắc của các hoạt chất mới (Banter 500WG, Danisaraba 20SC) ở nồng độ LC30 đối với vòng đời, sức sinh sản và tỷ lệ tăng tự nhiên của dịch hại. Toàn bộ phát hiện thực nghiệm cung cấp luận cứ khoa học vững chắc và có giá trị ứng dụng cao cho việc thiết lập quy trình quản lý nhện hại tổng hợp trên cây rau màu.