Đặt vấn đề Nền nông nghiệp nước ta giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế đất nước không những làm tăng thu nhập, tăng việc làm cho người nông dân mà còn cung cấp lượng thực, thực phẩm hằng ngày. Tuy nhiên dịch bệnh, côn trùng gây hại, động vật hại đã và đang suất hiện ngày càng nhiều. Chúng lan rộng đe dọa đến các thời kỳ phát triển của cây trồng làm thiệt hại lớn về kinh tế. Do đó, công cuộc Bảo vệ thực vật là tiềm năng để tăng năng xuất chất lượng nông sản phẩm.
Biện pháp bảo vệ thực vật sau một thời gian dài phát triển, đã có nhiều thay đổi rõ ràng. Đối với các loại dịch hại đã có nhiều biện pháp phòng trừ được áp dụng và nghiên cứu, một trong số biện phá như: biện pháp sinh học, biện pháp canh tác, biện pháp hóa học,… Đối với biện pháp sinh học hay canh tác, đây đều là các biện pháp an toàn và bền vững. Tuy nhiên, muốn đạt được hiệu quả cao thì người nông dân phải có một lượng kiến thức nhất định về cây trồng, dịch bệnh, sâu hại, động vật hại, thiên địch và nhiều yếu tố khác. Bên cạnh đó, đây cũng là cách làm khá tốn kém và không thể dập được dịch hại một cách nhanh chóng.
Hiện nay, với cách canh tác của bà con nông dân thì biện pháp hóa học vẫn là một trong những biện pháp hiệu quả trong thực tế sản suất. Sử dụng đúng cách biện pháp hóa học, chúng ta có thể dập dịch một cách nhanh chóng, đạt năng suất cao, bên cạnh đó ta có thể giảm được tác hại của thuốc đến môi trường, con người và các sinh vật có ích khác. Nông nghiệp nước ta gặp những trở ngại lớn do nhện hại gây ra làm cho cây còi cọc sinh trưởng phát triển kém, ảnh hưởng lớn đến năng xuất. Do chúng khó phát hiện với cơ thể nhỏ bé (con trưởng thành 0,5 mm), sức sinh sản rất lớn.
Bà con nông dân chưa có kiến thức rõ ràng về loài động vật hại nguy hiểm này. Bên cạnh đó, biện pháp sinh học đối với nên nông nghiệp nước ta vẫn còn rất mới và có rất ít loài thiên địch, do đó chưa có tính hiệu quả cao trong thực tế sản suất của bà con nông dân. Biện pháp hóa học là biện pháp dễ áp dụng, có tính hiệu quả cao, không yêu cầu quá cao về trình độ kiến thức. Nếu sử dụng đúng cách và các khuyến cáo, ta sẽ đạt được hiệu quả cao trong sản suất.
1 Trong những năm gần đây, diện tích rau đang phát triển khá nhanh, kéo theo đó là các dịch hại phát triển nhiều. Hiện nay một số vùng xuất hiện loài nhện đỏ hai chấm thuộc chi Tetranychus gây hại nhiều làm giảm năng suất cây trồng. Trước tình hình đó, người dân sử dụng nhiều thuốc BVTV mà chủ yếu dùng thuốc hoá học. Vì thế, việc tìm ra được các loại thuốc hóa học có hiệu quả cao trong phòng trừ nhện đỏ hai chấm, ít ảnh hưởng đến môi trường, con người và sinh vật có ích khác là một việc cực kì cấp thiết.
Từ đó để nghiên cứu tìm ra các hoạt chất hóa học đảm bảo được các yêu cầu trên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của PGS. Nguyễn Đức Tùng chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đến quần thể nhện đỏ hai chấm Tetranychus urticae Koch hại rau tại Gia Lâm và Đông Anh, Hà Nội năm 2022” 1. Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích Thông qua các thí nghiệm đánh giá hiệu lực thuốc trừ nhện, để tìm ra được các loại thuốc có hiệu quả trong phòng trừ nhện đỏ hai chấm Tetranychus urticae Koch, an toàn với môi trường, con người và sinh vật có ích khác.
Yêu cầu - Điều tra các loại thuốc trừ nhện đỏ trên rau đang được bà con nông dân sử dụng tại Gia Lâm, Hà Nội. - Điều tra thành phần, diễn biến mật độ nhện đỏ trên rau tại Gia Lâm, Hà Nội. - Đánh giá hiệu lực của các loại thuốc trừ nhện đang được sử dụng ngoài sản xuất đối với một số quần thể nhện đỏ hai chấm thu được trên rau tại Gia Lâm và Đông Anh, Hà Nội. - Xác định mức độ kháng thuốc của một số quần thể nhện đỏ hai chấm đối với một số hoạt chất thuốc trừ nhện hiện đang được sử dụng rộng rãi ngoài sản xuất.
- Đánh giá ảnh hưởng của thuốc trừ sâu nhện đến đặc điểm sinh học của nhện đỏ hai chấm. 2 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ NGOÀI NƯỚC 2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước 2. Một số nghiên cứu chung về nhện Nhện thuộc ngành động vật chân khớp Anthropada, nhện là nhóm có bụng không phân đốt rõ ràng (Krantz, 1978).
Theo Krantz (1978)cho đến nay đã có hơn 30000 loài nhện đã được miêu tả trong nửa triệu loài. Theo nghiên cứu trên, ở các vùng khác nhau thì sự phân bố của các loài nhện là khác nhau, có những họ chỉ có ở vùng ôn đới mà không có ở vùng nhiệt đới. Như họ Antypidar, họ Parotopidae chỉ có ở Amazon, hay họ Migidae chỉ ở vùng Nam Phi và trên đảo Madagasca, Milan. Nhện hại là các đối tượng gây hại nghiêm trọng trên nhiều loài cây trồng ở nhiều vùng trên thế giới, chúng là điểm thu hút của nhiều nhà khoa học.
Nhện hại cây trồng là những loài động vật nhỏ đến rất nhỏ nằm trong: + Bộ Ve bét (Acarina). + Lớp hình nhện (Arachnida). + Ngành chân khớp (Arthropoda). Nhện thường có 4 đôi chân (một số chỉ có 2 đôi chân).
Quá trình phát triển trải qua các giai đoạn: trứng, nhện non các tuổi và nhện trưởng thành. Một số nghiên cứu chung về nhện hại Nghiên cứu về nhện nhỏ hại cây trồng mới chỉ được tập trung vào nửa sau của thế kỉ 20. Nghiên cứu chủ yếu tập trung vào 2 tổng họ: tổng họ Tetranychidea và tổng họ Eriophyoidea. Tổng họ Eriophyoidea có khoảng 3.000 loài, tổng họ Tetranychidea bao gồm 2 họ chính là họ Tetranychidae có khoảng 1.200 loài và họ Tenuipalpidae có khoảng 800 loài.
Một số loài nhện hại cây trồng thuộc tổng họ Eriophyidae hoặc Tenuipalpidae là môi giới quan trọng trong việc truyền bệnh virus cho cây trồng (Vásquez & cs. Acarina thuộc lớp Arachnida phân ngành động vật chân kìm. Môi trường sống chủ yếu của chúng là trên cạn, số ít sống dưới nước, với hơn 50.000 loài được mô tả trên 3 toàn thế giới, thức ăn của chúng rất phong phú như thực vật, xác chết động vật và kí sinh trùng. Cơ thể của nhện được chia làm ha phần chính gồm đầu ngực và bụng, có 4 cặp chân, không có cánh và râu.
Đối với ấu trùng ve bét chỉ có 6 chân, tới giai đoạn nhộng và trưởng thành mới đủ 8 chân. Ve bét có kích thước rất nhỏ, hầu hết dài từ 0,3-0,5 mm riêng họ Eriophyidae chỉ dài 0,1-0,2 mm. Các cấu trúc của phần phụ có sự biến đổi tùy thuộc vào điều kiện sinh thái, thói quen sinh hoạt và tùy thuộc vào thức ăn. Trong một số trường hợp các phần phụ có tác dụng giúp giao phối thuận tiện và dễ dàng hơn (Zhang & Zhi-Qiang, 2003).
Lớp da của ve bét rất mỏng gồm nhiều lớp biểu bì, sau mỗi lần lột xác ta dễ thấy da của chúng trở lên xanh xao, yếu ớt và dần trở lại màu vàng sau 1 thời gian. Ve bét có thể hô hấp qua da hoặc khí quản, các khí quản mở qua 1-4 cặp lỗ thở nằm ở phía trước của cơ thể hoặc ở hai bên. Ve bét có một hoặc hai cặp mắt, đôi khi chỉ có một mắt. Ve bét là đơn tính khác gốc.
Lưỡng hình giới tính được thể hiện dưới nhiều hình thức của họ. Các vị trí của lỗ sinh dục khác nhau rất nhiều. Hầu hết ve và bọ ve là loài đẻ trứng. Các giai đoạn phát triển gồm trứng, ấu trùng, nhộng và trưởng thành (Uri Gerson & cs.
Trong bộ nhện hại cây trồng gồm 4 họ chính là họ Tetranychidae, Tarsonemoidae, Tenuipalpidae, Eriophyidae. Theo Zhang & Zhi-Qiang (2003), họ Tetranychidae hay còn gọi là họ nhện chăng tơ thuộc bộ Acari có khoảng 1200 loài, phân bố trên toàn thế giới, gây hại kinh tế nghiêm trọng trên các cây lương thực chính và cây cảnh. Cơ thể của nhện mềm, dài khoảng 0,4 mm thường có màu đỏ, cam hoặc vàng trong. Vòng đời của nhện kéo dài 1-2 tuần hoặc hơn tùy thuộc vào các yếu tố sinh học, sinh thái như loài nhện, nhiệt độ, độ ẩm, cây chủ, con người và các yếu tố môi trường khác.
Họ Tetranychidae có hai loài cực kì nguy hiểm chúng gây thiệt hại nặng nề cho nền nông nghiệp đó là nhện đỏ son (Tetranychus cinnabarinus Boisduval), nhện đỏ 2 chấm (Tetranychus urticae). Nhện đỏ 2 chấm Tetanychus urticae (Koch) thuộc họ Tetranychidae là một trong những loài nhện nhỏ hại cây trồng phân bố cực kì phổ biến trên toàn thế giới, chúng gây hại trên 150 cây kí chủ có giá trị kinh tế và hơn 300 loài thực 4 vật trong nhà kính. Nhện chích hút vào lá tạo ra các vết đốm nhỏ, nếu nhiều các vết đốm có thể liên kết với nhau, khi đó lá chuyển từ màu xanh sang màu vàng nhạt đến nâu. Thiệt hại nặng có thể gây khô rụng lá dẫn đến cây bị chết (Zhang & Zhi-Qiang, 2003).
Nhện đỏ son Tetranychus cinnabarinus (Boisduval) (Acari: Tetranychidae) phân bố phổ biến trên toàn thế giới, chúng gây hại chủ yếu trên các cây rau như rau đậu, cây họ cà, cây họ bầu bí. Ngoài ra chúng còn gây hại trên cây ăn quả và cây cảnh. Chúng sống ở mặt dưới lá, chúng dùng vòi chích hút vào mặt mô lá tạo những vết chích nhỏ li ti, vết chích ban đầu trắng nhạt sau chuyển sang vàng nhạt. Nếu không kiểm soát sẽ gây rụng lá (Ronald FL Mau & cs.
Họ Tarsonemoidae hay còn gọi là nhện trắng thuộc lớp Arachnida. Trên thế giới có khoảng 500 loài. Thức ăn của chúng rất đa dạng bao gồm nấm, thực vật và kí sinh vật cộng sinh trên côn trùng (Ashraf A & cs. Nhện trắng có kích thước rất nhỏ, chiều dài trung bình khoảng 0,1 mm và không thể nhìn thấy bằng mắt thường, chu kì sống của nhện rất ngắn, thường kéo dài hơn 1 tuần, vòng đời của nhện bao gồm trứng, ấu trùng và trưởng thành các tuổi.
Con cái đẻ trung bình khoảng 3 trứng mỗi ngày và đẻ trong 1-2 tuần. Cá thể cái có tuổi thọ dài hơn cá thể đực và thường xuất hiện nhiều hơn (Zhang, 2000). Nhện trắng Polyphagotarsonemus latus (Banks) (Acari: Tarsonemoidae) là mối đe dọa lớn trên khắp các vùng nhiệt đới và cây trồng trong nhà kính của vùng ôn đới. Chúng tấn công nhiều loài cây, trong đó nhiều cây có giá trị kinh tế cao như cà chua, tiêu, dưa chuột, hoa cúc.