Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Nghiên cứu về Keo tai tượng Keo tai tượng (Acacia mangium Willd) là loài cây sinh trưởng nhanh, thuộc nhóm loài cây gỗ lớn, chiều cao có thể đạt tới 30m, đường kính trên 60cm(MacDicken và Brewbaker,1984). Hoa lưỡng tính, tràng hoa màu kem, nhị nhiều vươn dài, hoa có mùi thơm,vị ngọt nhẹ.
Quả có màu xanh lá cây rộng 3-5mm dài 7-8 cm, lúc chín có màu đen. Quả non thẳng, sau đó quả xoăn lại bện vào nhau thành những bó không đều. Các hạt có màu nâu đen, sáng bóng hạt dài từ 3-5mm và rộng 2-3mm. Keo tai tượng có thân thẳng đẹp, rễ có nốt sần do cộng sinh với vi khuẩn Rhizobium nên có khả năng cải tạo đất, song có nhược điểm là rễ nông, dễ bị đổ khi có gió bão (Racz, K.
và Zakaria Ibrahim, 1986);(Harwood, C.,1991); (Pinyopusarerk et al. Gỗ Keo tai tượng được dùng làm đồ nội thất, vật liệu xây dựng, nguyên liệu giấy, ván dăm, ván sàn, củi đun, than hoạt tính và mùn cưa có thể nuôi trồng nấm. Các tính chất cơ lý của gỗ Keo tai tượng tăng theo tuổi và biến động rất lớn giữa các cây. Gỗ Keo tai tượng có trọng lượng trung bình từ 420-600 kg/m3(MacDicken và Brewbaker, 1984), tỷ trọng trung bình từ 0,45-0,5 nhưng ở giai đoạn 12 tuổi có thể đạt 0,59.
Keo tai tượng 14 năm tuổi có tỷ trọng tăng từ lõi ra vùng giữa thân và giảm tới phần giác(Razali và Kuo, 1991). Phân bố và sinh thái: Keo tai tượng có nguồn gốc từ Australia, Papua New Guinea (PNG) và Indonesia đã trở thành một loài cây được trồng phổ biến ở vùng nhiệt đới. Phân bố chủ yếu từ 190 vĩ Nam đến 240 vĩ Bắc, độ cao Luan van 6 100 - 780m trên mặt nước biển. Keo tai tượng phù hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới, lượng mưa trung bình từ 1446 – 2970 mm/năm song Keo tai tượng có thể chịu được ở điều kiện khô hạn 1000 mm/năm.
Keo tai tượng phù hợp với những nơi có nhiệt độ bình quân từ 25 - 320C, đất hơi chua thoát nước tốt, pH từ 4,5 - 6,5 (Pinyopusarerk et al. Hạt Keo tai tượng có khả năng nảy mầm tốt, hạt sau khi xử lý bằng nước sôi trong vòng 30 giây kích thích sự nảy mầm tốt, hạt có thể gieo trực tiếp vào bầu hoặc gieo vào khay đến khi thành cây con thì cấy vào bầu. Cây 3 tháng tuổi trong giai đoạn vườn ươm cao từ 25-40 cm(Srivastava, 1993). Keo tai tượng ở Philippines để lấy hạt khi bón phân lân tăng khả năng đậu quả (Manubag et al.
Keo tai tương có thể trồng với các mật độ khác nhau phụ thuộc vào mục đích kinh doanh và độ phì của đất. Trồng rừng để cung cấp gỗ với mật độ trung bình 1100 cây/ha (Srivastava, 1993). Nghiên cứu về bệnh hại Keo tai tượng Nhiều nhà nghiên cứu của Ấn Độ, Malaysia, Philipin, Trung Quốc cũng được công bố nhiều loại nấm bệnh gây hại các loài keo. Tại hội nghị lần thứ III nhóm tư vấn nghiên cứu và phát triển của các loài Acacia, họp tại Đài Loan cuối tháng 6 năm 1964 nhiều đại biểu kể cả các tổ chức Quốc tế như CIFOR (Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp Quốc tế) cũng đã đề cập đến các vấn đề bệnh hại các loài Acacia là bệnh đốm lá do nấm Colletotrichum sp.
Bệnh phấn trắng thường hay bị đối với Keo tai tượng ở giai đoạn vườn ươm hoặc rừng trồng tuổi 1, nguyên nhân gây bệnh do thời tiết mưa ẩm kéo dài dẫn đến nấm bệnh phát triển (Hutacharem, 1993). Bệnh gỉ sắt, các bệnh hại lá xuất hiện nhiều vùng trồng Keo tai tượng trên toàn thế giới. Bệnh gỉ sắt do nấm Atelocauda digitata, bệnh phấn trắng do nấm Oidium sp., bệnh bồ hóng do nấm Meliola spp., bệnh đốm lá do các nấm Cercospora spp. và Colletotrichum spp., bệnh phấn hồng do nấm (Corticium salmonicolor) (Old et al., 1999; Old et al.
Luan van 7 Tại Papua New Guinea bệnh hại Keo tai tượng (Acacia mangium) có bệnh khô cành ngọn hay còn gọi là chết ngược do loài nấm Glomerella cingulata (giai đoạn vô tính là Colletotrichum gloeosporioides đó là nguyên nhân chủ yếu gây thiệt hại trong vườn giống (Roger, 1954). Theo kết quả nghiên cứu của Mercer (1982); Sharma và đồng tác giả (1985) bệnh rỗng ruột gây hại ở Keo tai tượng và các loài keo nói chung nguyên nhân là do cây bị tổn thương hoặc do tỉa cành không đúng kỹ thuật, tỉa cành vào mùa mưa, nấm gây bệnh dễ xâm nhiễm. Bệnh chết héo do nấm Ceratocystis sp. gây hại có triệu chứng như vỏ cây ở phần gốc và rễ lớn bị thối, gỗ bị biến màu (Ake et al., 1992; Wingfield et al.
Lần đầu tiên bệnh rỗng ruột được xác định ở Sabah (Gibson, 1981), có hầu hết những nước trồng Keo tai tượng như Malayxia (Mahmud et al., 1993) Bangladesh, papua New Gui, Thai lan và Việt Nam (Basak, 1997). Keo tai tượng hay bị một số bệnh như: Bệnh rỗng ruột thường bị ở các cây ở cấp tuổi cao hoặc do giống (Hutacharem, 1993). Bệnh chết héo được xác định do một số nấm gây hại: (1) Chết héo do nấm Phytophthora sp. gây hại, (2) Chết héo do nấm Ceratocystis sp.
Trong đó bệnh chết héo do nấm Phytophthora sp. có triệu chứng điển hình là hệ rễ cám bị thối (Kile, 1993). Trong khi đó bệnh chết héo do nấm Ceratocystis sp. gây hại có triệu chứng điển hình là thân hoặc cành bị nứt, xì nhựa hoặc xì nước, vỏ và gỗ ở quanh vết bệnh bị biến màu.
Lee và Maziah (1993) đã phân lập được 25 nấm bào tử lấy từ Keo tai tượng bị bệnh mục ruột ở các địa điểm khác nhau tại Malaysia, giám định là do nấm Phellinus noxius, Trametes sp., và Formes sp. Cũng theo Lee và Maziah (1993) các loại bệnh này gây hại ở cây 2 năm tuổi trở đi và làm giảm Luan van 8 chất lượng và trọng lượng gỗ. Theo Zakaria và đồng tác giả (1994) bệnh mục ruột có xu hướng tăng dần theo tuổi cây Keo tai tượng, như ở Malaysia cây trồng ở 2 năm tuổi tỷ lệ bị hại là 57% và đối với cây trồng ở 8 năm tuổi tỷ lệ bị mục ruột lên đến 98%. Ở Indonesia nấm Ceratocystis spp.
gây bệnh cho nhiều loài cây trồng, trong đó nấm này gây hại nghiêm trọng ở rừng Keo tai tượng (Tarigan et al. Brawner và đồng tác giả (2015) xác định nấm C. acaciivora đã gây bệnh chết héo hàng vài chục nghìn ha Keo tai tượng tại Sabah, Malaysia. Bệnh gây chết Keo tai tượng tại Indonesia là do nấm Ceratocytis acaciivora; Tuy nhiên theo tác giả Fourie và đồng tác giả (2016) giám định lại tên khoa học của loài nấm này là C.
manginecans (Tarigan et al. Nấm Ceratocystis spp. được xác định là tác nhân gây bệnh nghiêm trọng trên nhiều loài cây trồng tại Indonexia, trong đó có rừng trồng các loài keo (Tarigan et al., 2010; Tarigan et al. Những năm gần đây, rừng trồng keo tại Indonexia xuất hiện một số loại bệnh gây hại nghiêm trọng trên diện rộng, trong đó có bệnh chết héo do nấm Ceratocystis sp.
gây ra (Hardiyanto, 2014; Yong et al., 2014) với hàng chục nghìn ha rừng bị chết trong những năm qua, gây tổn thất nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất lâm nghiệp của nước này Đặc điểm nhận biết của nấm Ceratocystis spp. gây hại keo đã được một số tác giả đã mô tả (Barnes et al, 2005); Tarigan và đồng tác giả (2010); Thu và đồng tác giả (2014), nấm Ceratocystis spp., bào tử có hình cầu hoặc gần cầu, có màu nâu đen, kích thước thể hình cầu dài từ 106 đến 288µm, ở phía đầu cổ có những sợi tua ra khi chuẩn bị phun bào tử; bào tử hữu tính hình mũ có chiều dài từ 4,5 đến 9,3µm, chiều rộng từ 2,0 đến 4,9µm; bào tử hữu tính hình mũ có chiều dài từ 11,0 đến 25,6µm và chiều rộng từ 1,6 đến 4,9µm; bào tử vô tính hình trống chiều dài từ 12,1 đến 25,5µm và có chiều rộng từ 9,2 đến 13,6µm. Luan van 9 Theo một số tác giả như Barnes và đồng tác giả (2005); Tarigan và đồng tác giả (2010); Harrington và Wingfield (1998) có một số kết quả bước đầu về nấm Ceratocystis spp. nuôi cấy thích hợp trong điều kiện nhiệt độ từ 25 đến 300C, độ ẩm từ 80 đến 90%.
Tarigan và đồng tác giả (2011) xác định nấm Ceratocystis acaciivora xâm nhiễm gây hại Keo tai tượng thông qua các công thức tỉa cành, xác định được khả năng tỉa cành làm ảnh hưởng đến cành làm cho tăng khả năng xâm nhiễm. Nấm Ceratocystis manginecans đã được xác định là loài nấm gây bệnh chết héo nghiêm trọng trên Keo tai tượng ở Indonesia (Fourie et al., 2014), đồng thời cũng chính là loài nấm gây bệnh chết héo Keo tai tượng tại Indonesia (Barnes và Wingfield, 2016). Bệnh chết héo do nấm C. acaciivora gây dịch hại rất nghiêm trọng tại Malaixia, đặc biệt là đối với rừng trồng Keo tai tượng.
Bệnh chết héo đã gây chết hàng nghìn ha Keo tai tượng tại phía Đông Sabah, Malaixia (Brawner et al. Các loài keo bị bệnh khô cành ngọn do nấm Colletotrichum sp. gây hại nên sử dụng thuốc hóa học có hoạt chất chlorothalonil để phòng trừ (Bamard và Schroeder, 1984). Theo Chin (1990), bệnh phấn hồng ở Sarawak, Malayxia được phòng trừ hiệu quả bởi Perenox là một hợp chất hóa học có chứa đồng.
Lee (1993) bệnh phấn hồng có thể sử dụng phương pháp tuyển chọn trồng các giống cây có cơ chế kháng bệnh. Biện pháp phòng trừ bệnh chết héo do nấm Ceratocystis sp. gây hại trên rừng trồng keo tại Indonexia đã được khuyến cáo nên áp dụng một số biện pháp chính như: không sử dụng hạt giống thu từ các cây mẹ nhiễm bệnh; Xây dựng các chương trình cải thiện giống kháng bệnh; Cải thiện chất lượng Luan van 10 vườn cây mẹ cung cấp vật liệu hom và thay đổi cơ cấu cây trồng sau mỗi luân kỳ (Yong et al. Các loài nấm Ceratocystis spp.
thường gây bệnh nguy hiểm trên nhiều cây chủ với một số bệnh điển hình như: bệnh thối rễ, thối gốc, loét thân cành và gây thối quả trên nhiều loài cây nhiệt đới (Kile, 1993). Loài Ceratocystis fimbriata gây chết héo hàng loạt rừng bạch đàn ở Cộng hòa Công gô (Roux et al., 2000); gây hại nghiêm trọng đối với cây Cà phê ở Colombia và Venezuela (Marin et al. fimbriata đã được xác định là tác nhân gây bệnh chết héo cây keo tại Nam Phi, loài nấm này cũng đồng thời là tác nhân gây bệnh nghiêm trọng trên nhiều loài cây khác trên thế giới (Ake et al., 1992; Wingfield et al. Ngoài ra, nhiều triệu chứng bệnh khác nhau đã được ghi nhận trên Keo đen tại Nam Phi như bệnh bồ hóng, nứt vỏ, chết ngược.