Luận văn thạc sĩ tình hình nhiễm bệnh ngoài da do demodex sarcoptes nấm da trên chó nuôi tại thành phố thái nguyên và kết quả điều trị

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu tình hình nhiễm bệnh ngoài da do Demodex, Sarcoptes và nấm trên chó tại Thái Nguyên, đánh giá hiệu quả điều trị.

Trường đại học

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Chuyên ngành

Thú y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2013

56
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. PHẦN 1: CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT

1.1. ĐIỀU TRA CƠ BẢN

1.1.1. Điều kiện tự nhiên

1.1.1.1. Vị trí địa lý
1.1.1.2. Đặc điểm địa hình đất đai
1.1.1.3. Đặc điểm khí hậu thủy văn
1.1.1.4. Giao thông vận tải
1.1.1.5. Điều kiện kinh tế - xã hội
1.1.1.5.1. Điều kiện xã hội
1.1.1.5.2. Điều kiện kinh tế
1.1.1.6. Tình hình chăn nuôi của tỉnh Thái Nguyên
1.1.1.6.1. Cơ cấu tổ chức của Chi cục thú y tỉnh Thái Nguyên
1.1.1.6.2. Tình hình phát triển sản xuất nông nghiệp

1.1.2. NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP VÀ KẾT QUẢ PHỤC VỤ SẢN XUẤT

1.1.2.1. Nội dung công tác phục vụ sản xuất
1.1.2.2. Biện pháp thực hiện
1.1.2.3. Kết quả phục vụ sản xuất

1.1.3. KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ

2. PHẦN 2: CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

2.1. Mục đích của đề tài

2.2. Ý nghĩa của đề tài

2.3. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.3.1. Cơ sở khoa học

2.3.2. Cấu tạo da

2.3.3. Sự tuần hoàn và hệ thống thần kinh của da

2.3.4. Những hiểu biết về bệnh Demodex, Sarcoptes và nấm da trên chó

2.3.5. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.3.5.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
2.3.5.2. Tình hình nghiên cứu nước ngoài

2.4. ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.4.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu

2.4.2. Vật liệu nghiên cứu

2.4.3. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.4.3.1. Địa điểm nghiên cứu
2.4.3.2. Thời gian nghiên cứu

2.4.4. Nội dung nghiên cứu

2.4.5. Phương pháp nghiên cứu

2.4.5.1. Phương pháp đánh giá tỷ lệ nhiễm
2.4.5.2. Phương pháp lấy mẫu
2.4.5.3. Phương pháp xét nghiệm mẫu
2.4.5.4. Qui định độ tuổi và giống chó
2.4.5.5. Phương pháp xác định hiệu quả của thuốc điều trị
2.4.5.6. Phương pháp xử lý số liệu

2.5. KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ

2.5.1. Tỷ lệ mắc bệnh ngoài da trên tổng số chó điều tra

2.5.2. Tỷ lệ chó mắc bệnh demodex, sarcoptes, nấm da trên chó mắc bệnh ngoài da

2.5.3. Tỷ lệ chó mắc bệnh do demodex, sarcoptes, nấm da theo giống

2.5.4. Tỷ lệ mắc bệnh do demodex, sarcoptes, nấm da theo tính biệt

2.5.5. Tỷ lệ mắc bệnh ngoài da do demodex, sarcoptes, nấm da theo tuổi

2.5.6. Kết quả điều trị bệnh do demodex, sarcoptes, nấm da gây ra ở chó

2.6. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tình hình nhiễm bệnh ngoài da trên chó

Nhiễm bệnh ngoài da do DemodexSarcoptes là một vấn đề nghiêm trọng trong chăn nuôi chó tại Thái Nguyên. Theo kết quả điều tra, tỷ lệ mắc bệnh ngoài da ở chó nuôi tại thành phố Thái Nguyên khá cao, với nhiều trường hợp nhiễm DemodexSarcoptes. Các bệnh này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của chó mà còn gây ra thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi. Demodex là một loại ký sinh trùng gây ra bệnh viêm da, trong khi Sarcoptes gây ngứa ngáy và tổn thương da nghiêm trọng. Việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời là rất quan trọng để giảm thiểu thiệt hại. Theo một nghiên cứu, tỷ lệ chó mắc bệnh do Demodex chiếm khoảng 30% trong tổng số chó mắc bệnh ngoài da. Điều này cho thấy sự phổ biến của bệnh và cần có các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

1.1. Nguyên nhân và triệu chứng

Nguyên nhân chính gây ra nhiễm bệnh ngoài da ở chó là do ký sinh trùng DemodexSarcoptes. Demodex thường xuất hiện ở những chó có hệ miễn dịch yếu, trong khi Sarcoptes có thể lây lan nhanh chóng qua tiếp xúc trực tiếp. Triệu chứng của bệnh bao gồm ngứa ngáy, viêm da, rụng lông và có thể dẫn đến nhiễm trùng thứ phát. Việc nhận biết sớm các triệu chứng này là rất quan trọng để có thể điều trị kịp thời và hiệu quả.

II. Phương pháp điều trị bệnh ngoài da

Điều trị bệnh ngoài da do DemodexSarcoptes cần phải được thực hiện một cách khoa học và có hệ thống. Các phương pháp điều trị bao gồm sử dụng thuốc chống ký sinh trùng, thuốc kháng viêm và thuốc kháng sinh nếu cần thiết. Việc sử dụng thuốc cần phải tuân thủ đúng liều lượng và thời gian điều trị để đạt hiệu quả cao nhất. Theo một nghiên cứu, việc điều trị bằng thuốc Ivermectin cho thấy hiệu quả cao trong việc loại bỏ Demodex. Bên cạnh đó, việc chăm sóc da cho chó cũng rất quan trọng, bao gồm tắm rửa thường xuyên và giữ cho môi trường sống sạch sẽ. Điều này không chỉ giúp giảm thiểu triệu chứng mà còn ngăn ngừa tái phát bệnh.

2.1. Các loại thuốc điều trị

Các loại thuốc điều trị cho chó mắc bệnh ngoài da do DemodexSarcoptes bao gồm Ivermectin, Selamectin và Amitraz. Ivermectin là một trong những thuốc phổ biến nhất, có tác dụng hiệu quả trong việc tiêu diệt ký sinh trùng. Selamectin cũng được sử dụng rộng rãi và có thể áp dụng dễ dàng qua đường bôi. Amitraz thường được sử dụng trong các trường hợp nặng hơn. Việc lựa chọn loại thuốc phù hợp cần dựa trên tình trạng sức khỏe của chó và mức độ nhiễm bệnh.

III. Đánh giá tình hình bệnh da chó tại Thái Nguyên

Tình hình bệnh da do DemodexSarcoptes trên chó tại Thái Nguyên đang có xu hướng gia tăng. Các yếu tố như khí hậu, điều kiện sống và chế độ dinh dưỡng có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của bệnh. Theo thống kê, tỷ lệ mắc bệnh ở chó nuôi tại các hộ gia đình chiếm tỷ lệ cao hơn so với chó nuôi trong các trang trại. Điều này cho thấy sự cần thiết phải nâng cao nhận thức của người chăn nuôi về việc phòng ngừa và điều trị bệnh. Các biện pháp giáo dục và tuyên truyền về chăm sóc sức khỏe cho chó cần được thực hiện thường xuyên để giảm thiểu tình trạng nhiễm bệnh.

3.1. Đề xuất giải pháp

Để cải thiện tình hình bệnh da ở chó, cần có các giải pháp đồng bộ như tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục cho người chăn nuôi về các biện pháp phòng ngừa và điều trị bệnh. Cần thiết lập các chương trình tiêm phòng định kỳ cho chó, đồng thời tổ chức các buổi hội thảo về chăm sóc sức khỏe cho chó. Ngoài ra, việc hợp tác giữa các cơ quan thú y và người dân trong việc phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp nhiễm bệnh cũng rất quan trọng.

09/03/2025
Luận văn thạc sĩ tình hình nhiễm bệnh ngoài da do demodex sarcoptes nấm da trên chó nuôi tại thành phố thái nguyên và kết quả điều trị

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Từ lâu chó đã trở thành con vật gần gũi với đời sống con người. Khác hẳn với các loài vật nuôi khác, chó có các giác quan rất phát triển, đặc biệt là khả năng thị giác, thính giác cao hơn rất nhiều so với con người, do đó từ xưa con người đã biết thuần hóa, huấn luyện, nuôi chó với nhiều mục đích khác nhau: làm cảnh, giữ nhà, làm bạn, làm chó nghiệp vụ, săn thú…. Chó được nuôi ở tất cả các nước trên thế giới. Tại các nước phát triển, chó được nuôi, chăm sóc, khám chữa bệnh rất cẩn thận và có cả những quy định bảo vệ chó.

Ở nước ta, những năm gần đây, khi kinh tế phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, người dân đã quan tâm nhiều hơn đến việc nuôi chó để làm cảnh, làm bạn thân thiết của con người và phục vụ những mục đích kinh tế khác nhau. Chó được nuôi nhiều thì vấn đề dịch bệnh xảy ra trên chó cũng ngày càng nhiều hơn. Bệnh dịch không những gây thiệt hại cho chó mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Ngoài những bệnh truyền nhiễm gây thiệt hại cho chó như các bệnh dại, Carê, bệnh xoắn khuẩn, bệnh do Parvovirus…bệnh do ký sinh trùng cũng gây nhiều thiệt hại cho chó, đặc biệt là đặc điểm khí hậu nóng ẩm ở nước ta tạo điều kiện thuận lợi cho các loại mầm bệnh ký sinh trùng tồn tại và phát triển.

Bệnh do Demodex, Sarcoptes, nấm da là một trong những bệnh thường xảy ra trên chó, chó khi mắc bệnh thường ngứa ngáy, khó chịu, viêm nhiễm kế phát kèm theo. Trong những năm gần đây, chó được nuôi ở thành phố Thái Nguyên khá nhiều. Tuy nhiên, việc phòng trị bệnh ký sinh trùng, đặc biệt là bệnh ngoài da cho chó còn ít được chú ý. Xuất phát từ nhu cầu của thực tế nuôi chó ở thành n 17 phố Thái Nguyên, chúng em thực hiện đề tài: "Tình hình nhiễm bệnh ngoài da do Demodex, Sarcoptes, nấm da trên chó nuôi tại thành phố Thái Nguyên và kết quả điều trị” 2.

Mục đích của đề tài - Điều tra tình hình nhiễm Demodex, Sarcoptes, nấm da trên chó nuôi tại các hộ gia đình thành phố Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên. - Xây dựng phác đồ điều trị bệnh có hiệu quả. Ý nghĩa của đề tài - Kết quả của đề tài là cơ sở phục vụ cho nghiên cứu và học tập của sinh viên ngành Chăn nuôi thú y các khóa tiếp theo. - Đánh giá được tình hình nhiễm Demodex, Sarcoptes, nấm da trên chó nuôi tại các hộ gia đình thành phố Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên và biện pháp điều trị bệnh có hiệu quả.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2. Cấu tạo da Theo Nguyễn Xuân Hoạt, Phạm Đức Lộ (1980) [7], da gồm có 3 lớp: - Biểu bì: + Biểu bì là biểu mô lát kép hóa keratin (sừng) mạnh. Bề dày của lớp này thay đổi tùy nơi.

Thường dày ở những chỗ không có lông và có sự cọ sát mạnh. Lớp này không có mạch máu, dinh dưỡng thực hiện nhờ sự nhờ sự thẩm thấu từ các mao mạch bên dưới. Lớp này có tác dụng: .Lót mặt ngoài và bảo vệ cơ thể nhờ sự sừng hóa.Chứa sắc tố bào, là những tế bào tạo ra sắc tố có tác dụng bảo vệ cơ thể chống lại các tia bức xạ. Biểu bì không chứa mạch máu nên vi khuẩn không xâm nhập vào cơ thể nếu vết thương chưa sâu đến lớp chân bì.

- Chân bì Chân bì là mô liên kết sợi vững chắc, có nhiều mạch máu và thần kinh. Chân bì thường lồi lên biểu bì và tạo thành những nhú chân bì. Chân bì được phân ra 3 lớp: n 18 + Lớp nhú: ngay sát biểu bì. Mỗi nhú là một khối mô liên kết thưa không có hướng nhất định, ở đó ngoài thành phần mô liên kết còn chứa tương bào và một số bạch cầu.

Đôi khi có những bó cơ trơn tạo thành cơ dựng lông. + Lớp bình diện: là phần mô liên kết nằm song song với bề mặt da, lớp này chứa nhiều sợi keo và sợi đàn hồi, mạch máu, mạch bạch huyết, các sợi thần kinh và đầu thần kinh như tiểu thể Meissner, tiểu thể Golgi Mazzoni. + Lớp dạng gân: tạo bởi mô liên kết với nhiều sợi chạy song song bề mặt da và nén chặt nhau. Ở đây chỉ có mạch máu chạy xuyên qua chứ không phân nhánh cũng có những đầu thần kinh có bao.

- Hạ bì Hạ bì là mô liên kết mỡ được ngăn thành nhiều thùy và tiểu thùy bởi những bó sợi tạo keo. Trong hạ bì chứa những động mạch, tiểu tĩnh mạch và mạch bạch huyết, dây thần kinh, đầu thần kinh trần và đầu thần kinh bọc như tiểu thể Ruffini. Sự tuần hoàn và hệ thống thần kinh của da * Mạch máu Những động mạch hay tĩnh mạch của da nối với nhau thành lưới mạch máu chạy song song với bề mặt da. Chính nhờ cấu trúc này mà da đảm nhận được nhiều chức năng.

Hệ động mạch và tĩnh mạch sẽ tạo thành 2 lưới mạch: lưới nông và lưới sâu. * Lưới mạch máu sâu Những mạch máu từ lớp dưới da tiến vào hạ bì rồi lên đến lớp dưới chân bì và phân nhánh tạo ra dưới dạng động mạch sâu, cũng là một hệ thống tĩnh mạch ngược lại. * Lưới mạch máu nông Từ lưới động mạch sâu sẽ phân nhánh tạo ra những động mạch nhỏ xuyên qua lớp dạng gân của chân bì lên tới lớp dưới nhú và tạo thành lưới mao mạch nông. Lớp này lại phân nhánh để tạo ra những mao mạch hình quai để tiếp xúc với tĩnh mạch của nhú.

* Mạch bạch huyết Bắt nguồn từ những mao mạch kín đầu nằm trong nhú chân bì sau đó đổ vào lưới mao mạch bạch huyết dưới nhú đến tầng sâu của chân bì tạo n 19 thành lưới bạch huyết trong chân bì, nằm giữa hai lưới mạch máu nông và sâu. Từ lưới này lại đỗ vào tĩnh mạch bạch huyết rồi xuyên qua hạ bì để đến tĩnh mạch bạch huyết dưới da. * Thần kinh Những nhánh thần kinh của da có 2 nguồn gốc: giao cảm và não tủy. Chúng tạo thành đám rối nằm ở hạ bì và có 2 loại: - Đám rối thần kinh có myelin: là những nhánh của thần kinh cảm giác, đuôi gai của nó tạo thành những tiểu thể Vater - Pacini, Ruffini hay Golgi-Mazzoni.

- Đám rối thần kinh không có myelin: gồm những sợi thần kinh giao cảm tiếp xúc quanh mạch máu và các tuyến dưới da. * Những tuyến phụ của da + Tuyến bã Tuyến bã là tuyến chế tiết ra chất làm mềm da và lông gọi là chất bã. + Tuyến mồ hôi Tuyến mồ hôi là những tuyến ống nằm sâu trong lớp chân bì và các tuyến cuộn lại thành bó. Tuyến mồ hôi thường được chia thành 3 đoạn: + Tiểu cầu mồ hôi Đoạn ống này cong nằm trong hạ bì, đó là phần chế tiết ra mồ hôi, đường kính lớn hơn ống bài xuất, cao 20-25 µm.

Vách ống cấu tạo bởi hai hàng tế bào: Tế bào tuyến: nằm bên trong, tùy giai đoạn hoạt động mà tế bào có hình khối hay trụ đơn. Nhân tế bào to, bào tương chứa nhiều bào quan và các chất vùi glycogen, lipid, hạt sắc tố. Có hai loại tế bào tuyến loại sẫm màu có hạt ưa base và loại sáng màu có hạt ưa acid, kích thước hạt nhỏ hơn. Tế bào cơ, biểu mô nằm ngoài: những tế bào này có khả năng co bóp để đẩy chất tiết ra khỏi tiểu cầu.

Những tuyến nhỏ không có tế bào cơ biểu mô. + Ống bài xuất Đoạn này chạy xuyên qua chân bì đến lớp mầm của biểu bì. Vách của ống được cấu tạo bởi hai hàng tế bào nằm trong màng đáy. Cả hai loại đều là khối đơn.

Tế bào ở hàng ngoài sẫm màu. n 20 Tế bào ở trong có tính bắt màu acid mạnh, đỉnh tế bào có ngấm một chất mỡ có tác dụng bảo vệ. + Đường mồ hôi Đoạn ống này xoắn ốc trong biểu bì lên đến mặt da, tùy theo tính chất của chất tiết, tuyến mồ hôi được phân thành hai loại: Dịch loãng không mùi: thường có ở vùng ít lông hay không có lông. Dịch đậm đặc: có nhiều hạt protid và có mùi riêng biệt đối với từng loại, có khi với từng cá thể.

Loại này có lòng ống rộng, đổ ra bẹ lông và phân bố trên toàn bộ mặt da. + Tuyến sữa Tuyến sữa là loại tuyến mồ hôi biến đổi để thích ứng với chức phận tạo ra sữa. Tuyến này chỉ phát triển mạnh ở thú cái. Tuyến sữa là một khối tròn dẹt nằm trong hạ bì, đẩy da phồng lên.

Tùy loại thú mà vị trí và số lượng tuyến thay đổi. * Lông Là sự biến dạng của lớp biểu bì. Biểu bì chạy lồng vào lớp bì và các tế bào của nó bị hóa sừng. Lông có hình trụ dài, cắm sâu vào trong da và gồm có phần: thân lông và chân lông.

+ Thân lông Trồi lên trên mặt da, cấu tạo gồm có: Tủy lông: ở chính giữa trục lông, chứa những tế bào chưa hóa sừng, còn nhân, nếu ở gia súc lông lớn và có màu sắc thì tế bào có chứa những hạt sắc tố. Giữa các tế bào có khoang chứa không khí, nhờ vậy lông có tính không dẫn nhiệt. Màng vỏ lông: cấu tạo bởi những tế bào dẹp xếp thành lớp đã hóa sừng, không có nhân, không có sắc tố. Hình thái và cách sắp xếp của vảy này tùy loại gia súc.

+ Chân lông Nằm sâu trong da, đó là vùng dinh dưỡng sinh trưởng của lông. Thân lông không cắm chéo đối với bề mặt da. Phần tận cùng của chân lông phình to gọi là củ lông. Cắt dọc theo chân lông có 2 phần: Ngoài cùng là bao sợi liên kết n 21 Trong là bẹ lông, là phần kéo dài của biểu bì da * Chức năng sinh lý của da Da bao bọc cơ thể và có 2 lớp chính (biểu bì và bì).

Chức năng của da gồm: - Bảo vệ cơ thể không bị tổn thương bởi các tác nhân cơ học và hoá học - Ngăn ngừa mất nước của cơ thể - Ngăn chặn vi sinh vật xâm nhập - Điều hoà thân nhiệt - Cung cấp cảm giác về áp lực, nhiệt độ, đau, tiếp xúc. - Truyền các tín hiệu hoá học ra xung quanh - Dự trữ mỡ và nước - Tổng hợp 7- dehydrocholesterol để chuyển thành vitamin D3 bởi tia cực tím từ mặt trời. - Bảo vệ những mô bên dưới da trách khỏi tác dụng bất lợi của tia cực tím từ mặt trời. Những hiểu biết về bệnh Demodex, Sarcoptes và nấm da trên chó 2.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nhiễm bệnh ngoài da do Demodex và Sarcoptes trên chó tại Thái Nguyên: Tình hình và điều trị" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình trạng nhiễm bệnh ngoài da ở chó, đặc biệt là do hai loại ký sinh trùng Demodex và Sarcoptes. Tài liệu không chỉ nêu rõ các triệu chứng và cách nhận biết bệnh mà còn đề cập đến các phương pháp điều trị hiệu quả, giúp người nuôi chó có thêm kiến thức để chăm sóc thú cưng của mình tốt hơn.

Để mở rộng hiểu biết về các bệnh ngoài da ở chó, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ thực hiện các biện pháp phòng và điều trị các bệnh ngoài da cho chó đến khám tại phòng mạch thú y vi hoàng an, nơi cung cấp các biện pháp phòng ngừa và điều trị cụ thể. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh lý do parvovirus gây ra trên chó đến khám điều trị tại bệnh xá thú y trường đại học nông lâm thái nguyên cũng có thể cung cấp thêm thông tin về các bệnh lý khác mà chó có thể mắc phải. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về sức khỏe thú cưng của mình.