Nghiên cứu sinh sản nhân tạo, ương nuôi cá trê đồng (Clarias fuscus) Phú Thọ

Học hỏi quy trình sinh sản nhân tạo và kỹ thuật ương nuôi cá trê đồng Clarias fuscus tại Phú Thọ. Hướng dẫn chi tiết từ A-Z cho người mới bắt đầu.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

101
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về sinh sản nhân tạo cá trê đồng Clarias fuscus

Cá trê đồng (Clarias fuscus) thuộc bộ Siluriformes, phân bố rộng rãi tại các vùng nước ngọt Việt Nam. Đây là loài cá có giá trị kinh tế cao, thịt thơm ngon, được người tiêu dùng ưa chuộng. Tại tỉnh Phú Thọ, cá trê đồng được nuôi phổ biến nhưng nguồn giống chủ yếu dựa vào đánh bắt tự nhiên. Tình trạng này dẫn đến cung không đủ cầu, chất lượng giống không đồng đều. Nghiên cứu sinh sản nhân tạo nhằm mục tiêu chủ động nguồn giống, đảm bảo chất lượng và số lượng. Quy trình bao gồm chọn lọc cá bố mẹ, nuôi vỗ thành thục, tiêm kích dục tố và ấp nở. Kỹ thuật này đã được áp dụng thành công tại nhiều địa phương trên cả nước. Tại Phú Thọ, nghiên cứu được thực hiện tại Công ty TNHH thủy sản công nghệ cao khu 2 xã Sơn Vi, huyện Lâm Thao. Kết quả mở ra hướng đi mới cho ngành thủy sản địa phương.

1.1. Đặc điểm sinh học cá trê đồng

Cá trê đồng Clarias fuscus có thân dài, dẹp bên, phần đầu dẹp bằng. Da trần, không vây, có màu nâu sẫm đến đen. Cá có bốn đôi râu, mắt nhỏ. Đây là loài hô hấp phụ bằng cơ quan hô hấp dạng cây. Cá trê đồng chịu được môi trường nước nghèo oxy, sống được trong điều kiện khắc nghiệt. Thức ăn chủ yếu là động vật không xương sống nhỏ, cá con, tảo và mùn bã hữu cơ. Mùa sinh sản tự nhiên từ tháng 4 đến tháng 8 hàng năm.

1.2. Tình hình sản xuất giống cá da trơn tại Việt Nam

Nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá da trơn đã được triển khai rộng rãi tại Việt Nam. Các loài như cá lăng chấm, cá ngạnh, cá chiên đều đã được sản xuất giống thành công. Kỹ thuật sử dụng kích dục tố LRH-A, Domperidone và HCG cho kết quả khả quan. Tỷ lệ đẻ của cá lăng chấm đạt trên 90% trong điều kiện nuôi vỗ tốt. Nghiên cứu tại Thừa Thiên Huế cho thấy sức sinh sản cá trê đồng đạt 21.170 trứng/kg cá cái. Tại Phú Thọ, công tác sản xuất giống cá trê đồng còn hạn chế, cần nghiên cứu hoàn thiện quy trình.

II. Phân tích thực trạng và thách thức sản xuất giống cá trê đồng

Sản xuất giống cá trê đồng tại Phú Thọ đối mặt nhiều thách thức lớn. Nguồn cá bố mẹ trong tự nhiên ngày càng suy giảm do khai thác quá mức. Chất lượng cá bố mẹ không đồng đều ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ thụ tinh và nở. Kỹ thuật nuôi vỗ thành thục chưa được chuẩn hóa, dẫn đến kết quả không ổn định. Việc lựa chọn loại kích dục tố và liều lượng phù hợp là vấn đề then chốt. Các nghiên cứu trước đây sử dụng não thùy thể cho kết quả biến động lớn. Sự khác biệt về điều kiện môi trường, mùa vụ cũng tác động đến hiệu quả sinh sản. Tại Phú Thọ, chưa có quy trình kỹ thuật hoàn chỉnh được xây dựng riêng cho điều kiện địa phương. Nhu cầu con giống ngày càng tăng trong khi nguồn cung hạn chế. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nghiên cứu, tối ưu hóa quy trình sản xuất giống.

2.1. Hạn chế về nguồn cá bố mẹ chất lượng

Nguồn cá trê đồng bố mẹ tại Phú Thọ chủ yếu thu từ tự nhiên hoặc nuôi thương phẩm. Cá tự nhiên có số lượng hạn chế, kích thước không đồng đều. Cá nuôi thương phẩm thường chưa đạt độ thành thục sinh dục tối ưu. Hệ số thành thục của cá cái thấp ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng trứng. Quá trình vận chuyển, chăm sóc cá bố mẹ trước khi tiêm kích dục tố chưa được chú trọng. Điều này dẫn đến tỷ lệ đẻ không cao, dao động từ 65-85% tùy nghiệm thức.

2.2. Vấn đề lựa chọn kích dục tố và liều lượng

Hiệu quả kích thích sinh sản phụ thuộc lớn vào loại kích dục tố sử dụng. Não thùy thể truyền thống có ưu điểm rẻ tiền nhưng liều lượng khó kiểm soát chính xác. LRH-A kết hợp Domperidone cho kết quả ổn định hơn, tỷ lệ đẻ cao hơn. HCG đơn độc cũng được sử dụng nhưng hiệu quả thấp hơn so với phối hợp. Liều lượng quá thấp không đủ kích thích rụng trứng, quá cao gây sốc cho cá. Nghiên cứu tại Phú Thọ so sánh ba nghiệm thức với các loại kích dục tố khác nhau.

III. Phương pháp kỹ thuật sinh sản nhân tạo và ương nuôi cá trê đồng

Quy trình sinh sản nhân tạo cá trê đồng bao gồm nhiều bước kỹ thuật quan trọng. Bước đầu tiên là chọn lọc cá bố mẹ đạt tiêu chuẩn về kích thước và độ thành thục. Cá cái cần có bụng to mềm, lỗ sinh dục sưng đỏ, ấn nhẹ trứng chảy ra. Cá đực cần có cơ quan sinh dục phát triển, tinh dịch trắng đục khi ấn nhẹ. Nuôi vỗ thành thục trong ao có điều kiện kiểm soát tốt về nhiệt độ và oxy. Kích dục tố được tiêm vào cơ hoặc dưới da với liều lượng tính theo kg trọng lượng cá. Thời gian hiệu lực từ 8-14 giờ tùy loại kích dục tố và nhiệt độ nước. Sau khi cá đẻ, trứng được thụ tinh nhân tạo và chuyển vào bể ấp. Ấp trứng trong điều kiện nước sạch, oxy hòa tan cao, nhiệt độ 26-30 độ C. Cá bột nở sau 24-36 giờ và được ương nuôi bằng thức ăn phù hợp.

3.1. Kỹ thuật tiêm kích dục tố và thu trứng

Ba nghiệm thức tiêm kích dục tố được nghiên cứu so sánh hiệu quả. NT1 sử dụng LRH-A kết hợp Domperidone với liều lượng 15-20µg LRH-A và 6mg Dom. NT2 sử dụng HCG với liều lượng 4.500UI/kg cá cái. NT3 sử dụng hỗn hợp Domperidone, LRH-A và HCG phối hợp. Cá được tiêm một lần hoặc hai lần tùy theo liều lượng. Sau tiêm, cá được đặt trong bể có tạo dòng chảy nhẹ kích thích đẻ. Tỷ lệ đẻ đạt cao nhất ở nghiệm thức NT1 và NT3.

3.2. Kỹ thuật ương nuôi cá bột đến cá hương

Cá bột sau khi nở được ương trong bể xi măng hoặc bể composite. Mật độ ương ban đầu từ 2.000-3.000 con/m2. Thức ăn giai đoạn đầu là động vật phù du và trùng chỉ. Sau 15 ngày, cá đạt chiều dài trung bình 1,99-2,03cm, trọng lượng 0,058-0,062g. Tỷ lệ sống đạt 84,92-87,32% ở mật độ phù hợp. Cá hương tiếp tục được ương trong ao đất với thức ăn công nghiệp. Chất lượng nước cần được kiểm tra thường xuyên, thay nước định kỳ.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn tại Phú Thọ

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đẻ của cá trê đồng dao động 75-85% tùy nghiệm thức. Nghiệm thức NT1 và NT3 cho tỷ lệ đẻ cao hơn NT2 có ý nghĩa thống kê. Sức sinh sản thực tế đạt trung bình 16.987 trứng/kg cá cái, không có sai khác giữa các nghiệm thức. Tỷ lệ thụ tinh dao động từ 70-85%, tỷ lệ nở đạt 60-75%. Tỷ lệ sống của cá bột sau 15 ngày ương đạt trên 85%. Kết quả này cao hơn nhiều nghiên cứu trên các loài cá da trơn khác. So với nghiên cứu tại Thừa Thiên Huế, sức sinh sản thực tế thấp hơn nhưng tỷ lệ đẻ tương đương. Ứng dụng thực tiễn tại Phú Thọ đã chứng minh tính khả thi của quy trình. Công ty TNHH thủy sản công nghệ cao xã Sơn Vi là cơ sở thí điểm thành công. Kết quả nghiên cứu đóng góp quan trọng vào việc chủ động nguồn giống cá trê đồng.

4.1. So sánh hiệu quả các nghiệm thức kích dục tố

Nghiệm thức NT1 sử dụng LRH-A + Dom và NT3 sử dụng phối hợp ba loại cho kết quả tương đương. Tỷ lệ đẻ của NT1 và NT3 cao hơn NT2 sử dụng HCG đơn độc. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Khối lượng cá đẻ và số lượng trứng thu được cũng cao hơn ở NT1 và NT3. So với nghiên cứu của Bùi Phú Thịnh (2017) tại Chi cục Thủy sản Phú Thọ, tỷ lệ đẻ cải thiện đáng kể. Kết quả khẳng định hiệu quả vượt trội của việc sử dụng hỗn hợp kích dục tố.

4.2. Ứng dụng và triển vọng phát triển tại địa phương

Quy trình sinh sản nhân tạo cá trê đồng đã được áp dụng thành công tại Phú Thọ. Nguồn giống chủ động giúp giảm phụ thuộc vào đánh bắt tự nhiên. Chất lượng cá giống đồng đều, khỏe mạnh, tỷ lệ sống cao. Nông dân địa phương tiếp cận được nguồn giống đảm bảo với giá thành hợp lý. Mô hình có thể nhân rộng ra các huyện khác trong tỉnh. Đào tạo kỹ thuật viên tại địa phương giúp duy trì bền vững quy trình sản xuất.

28/05/2026
Nghiên cứu sinh sản nhân tạo và ương nuôi giống cá trê đồng clarias fuscus lacepède 1803 trên địa bàn tỉnh phú thọ