CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Hệ nhóm máu ABO 1. Lịch sử phát hiện Năm 1900, nhà bác học Karl Landstainer và cộng sự đã làm thực nghiệm trộn các mẫu máu của các cá thể với nhau và quan sát hiện tượng ngưng kết, Ông nhận thấy có những mẫu ngưng kết, có những mẫu không ngưng kết. Qua phân tích hiện tượng ngưng kết giữa hồng cầu của người này với huyết thanh của người kia và ngược lại, ông đã phát hiện ra hệ thống nhóm máu đầu tiên ở người.
Đó là hệ nhóm máu ABO với 3 nhóm máu là: Nhóm A, nhóm B, nhóm O [20], [24]. Năm 1902, Decastello và Sturli đã lặp lại thí nghiệm của Landstainer và phát hiện thêm nhóm máu AB [17]. Hệ nhóm máu ABO có bốn nhóm chính là nhóm A, nhóm B, nhóm AB và nhóm O. Bốn nhóm máu này được nhận biết dựa vào sự có mặt hoặc không có mặt của kháng nguyên A, B trên bề mặt hồng cầu và sự có mặt hoặc không có mặt của kháng thể kháng A, kháng thể kháng B trong huyết thanh.
Kháng nguyên của hệ nhóm máu ABO thường xuất hiện sớm vào khoảng tuần thứ năm sau khi thụ thai. Kháng thể kháng A và kháng thể kháng B thường là kháng thể tự nhiên có bản chất là IgM, xuất hiện sau khi sinh, tăng dần hiệu giá và đạt cực đại vào 5-10 tuổi, không qua được hàng rào nhau thai. Kháng thể kháng A và kháng B cũng có thể là kháng thể miễn dịch, có bản chất là IgG, được hình thành qua một quá trình đáp ứng miễn dịch do tiếp xúc với kháng nguyên của hệ ABO gặp trong trường hợp bất đồng nhóm máu giữa mẹ và con, truyền máu không hoà hợp hệ ABO, các kháng thể này có thể lọt qua hàng rào nhau thai, có khả năng kết hợp với bổ thể và gây tán huyết trong lòng mạch [6], [7], [17], [24]. Ngoài bốn nhóm máu chính đã được trình bày ở trên, năm 1911 Von Dungerm và Hirszfeld đã phát hiện nhóm máu A gồm có hai loại khác nhau là nhóm A1 và A2.
Nhóm máu A2 thường gặp hơn ở người Châu Âu (20%), trong số những người có nhóm máu A2 thì có khoảng 1-8 % là có kháng thể tự nhiên chống lại hồng cầu 22 A1 và khoảng 35% người có nhóm A2B có kháng thể tự nhiên chống lại hồng cầu A1 [9]. Đặc điểm hệ nhóm máu ABO Nhóm máu A: có kháng nguyên A trên bề mặt hồng cầu và có kháng thể trong huyết tương kháng nhóm máu B. Các phụ nhóm máu A là : A1, A2, A3, Ax, đặc biệt quan trọng trong truyền máu là nhóm máu A1 và A2 và quan trọng trong định nhóm máu là từ nhóm máu A3, Ax… Nhóm máu B: có kháng nguyên B trên bề mặt hồng cầu và có kháng thể trong huyết tương kháng nhóm máu A. Ngoài ra còn có phụ nhóm máu là: B3, Bx, Bm… ít quan trọng trong truyền máu nhưng quan trọng trong định nhóm máu.
Nhóm máu AB: có cả hai kháng nguyên A và kháng nguyên B trên bề mặt hồng cầu; không có kháng thể trong huyết tương kháng nhóm máu A và B. Các phụ nhóm AB là A1B, A2B… Nhóm máu O: không có kháng nguyên A, kháng nguyên B trên bề mặt hồng cầu; có cả hai kháng thể kháng nhóm máu A và B.1: Sự có mặt của kháng nguyên – kháng thể trong nhóm máu theo hệ thống ABO Nhóm Kháng nguyên Gen Kháng thể Có thể nhận Có thể cho máu (màng hồng cầu) (huyết thanh) máu từ máu đến Kháng thể kháng B Kháng nguyên A A AA, AO A, O A, AB Kháng thể kháng A Kháng nguyên B B BB, BO B, O B, AB Kháng nguyên A Kháng nguyên B Không có kháng thể AB A, B kháng A và kháng A, B, AB, O AB B Có cả kháng thể kháng A và kháng Không có kháng B O, A, B, O nguyên A, B OO O AB 24 1. Hệ thống nhóm máu Rhesus (RH) Vào năm 1939, Philip Levine và Rufus Stetson công bố một trường hợp kháng thể tìm thấy trong huyết thanh của người phụ nữ mang thai có hiện tượng tan máu của thai nhi và trẻ sơ sinh sau khi truyền máu từ người chồng. Vào năm 1940, Landsteiner và Wiener phát hiện rằng khi tiêm hồng cầu của khỉ Rhesus macaque vào thỏ thì tạo miễn dịch và hai ông đã thu được kháng thể này từ thỏ.
Kháng thể này tạo sự ngưng kết với khoảng 85% hồng cầu người. Họ gọi yếu tố tương ứng này là Rhesus (Rh). Trong cùng năm Levine và Katzin tìm thấy kháng thể tương tự trong huyết thanh của một số phụ nữ mới sinh, và ít nhất một trong số chúng tạo phản ứng như trường hợp tìm thấy huyết thanh kháng-Rhesus ở động vật. Cũng trong năm 1940, Wiener và Peters quan sát thấy kháng thể có các đặc trưng như trên trong hồng cầu của người thiếu yếu tố quyết định Rh nhưng có kết quả truyền máu hòa hợp trong quá khứ.
Các bằng chứng này đã cho thấy kháng nguyên phát hiện bởi kháng-Rhesus động vật và kháng-D chưa được định danh. Lúc này hệ nhóm máu Rh được công nhận và gọi tên là Rh. Không lâu sau kháng-D được khám phá; nghiên cứu trong họ này cho thấy kháng nguyên D được xác định về mặt di truyền. Hồng cầu của người bị ngưng kết gọi là Rh (+), không bị ngưng kết gọi là Rh (-) [20], [25].
Trong hệ thống nhóm máu Rh có 50 kháng nguyên có đặc tính khác nhau. Nhưng có 5 kháng nguyên cơ bản là: D, C, c, E, e và có các kháng thể chống lại các kháng nguyên cơ bản trên. Trong đó quan trọng nhất là kháng nguyên D, E, e là những kháng nguyên quan trọng trong bệnh lý thiếu máu tán huyết trẻ sơ sinh và trong tai biến truyền máu vì nó có khả năng tạo miễn dịch mạnh trong thai nhi và trong truyền máu không thuận hợp Rh. 2 Tỉ lệ kháng nguyên của hệ Rh Việt Nam Châu Âu Kháng nguyên D (Rho, RHI) 99,96% 85% Kháng nguyên C (rh’, RH2) 70% Kháng nguyên E (rh’’, RH3) 30% Kháng nguyên c (hr’, RH4) 80% Kháng nguyên e (hr’, RH5) 98% Hệ thống Rh ở người da trắng rất quan trọng với kháng nguyên D vì người da trắng không có kháng nguyên D là 15% (Rh (-)) do đó cần chặt chẽ trong truyền máu và trong hôn nhân.
Hệ thống Rh ở người Phương Đông thì tỉ lệ không có kháng nguyên D, Rh (-) rất thấp (khoảng 0,04-0,07%), tuy nhiên cũng cần quan tâm trong truyền máu hoặc hôn nhân. Hệ thống Rh không có kháng thể tự nhiên trong tất cả người có nhóm máu Rh (+) hay Rh (-). Nhóm máu Rh có 02 đặc điểm quan trọng: Trong vấn đề truyền máu: Người có nhóm Rh (+) có thể nhận máu từ người cho có nhóm Rh (+) hoặc Rh (-), đặc biệt người có nhóm Rh (-) chỉ có thể nhận máu từ người cho có nhóm Rh (-) mà thôi. Nếu người nhóm Rh (-) nhận máu từ người nhóm Rh (+) thì cơ thể sẽ sản sinh kháng thể chống lại hồng cầu Rh (+); và nếu tiếp tục truyền máu Rh (+) lần kế tiếp thì sẽ gây ra tai biến truyền máu nghiêm trọng.
Thai kỳ của phụ nữ nhóm Rh (-) lại mang thai đứa bé có nhóm Rh (+). Người phụ nữ có nhóm Rh (-) có chồng nhóm Rh (+) thì đứa bé sinh ra có thể mang nhóm Rh (+) hoặc Rh (-). Nếu đứa bé thứ hai trở đi là nhóm máu Rh (+) thì khi sinh ra sẽ gặp nguy hiểm vì người mẹ có Rh (-) sẽ tạo ra kháng thể chống lại hồng cầu Rh (+) của đứa bé, và sẽ phá huỷ hồng cầu của đứa bé gây ra tình trạng bé thiếu máu trầm trọng, vàng da và có thể nguy hiểm đến tính mạng. 1 Yếu tố Rh ở mẹ và thai nhi 1.
Các phương pháp xác định nhóm máu Để truyền máu cho người trước tiên phải xác định nhóm máu, người ta xác định nhóm máu A, B, O, AB qua hai phương pháp: Phương pháp trực tiếp hay còn gọi là phương pháp Beth Vincent, phương pháp này sử dụng 3 loại huyết thanh mẫu kháng A, B, AB để xác định sự có mặt của kháng nguyên trên bề mặt hồng cầu của nhóm máu chưa biết. Phương pháp gián tiếp hay còn gọi là phương pháp Simonin, phương pháp này sử dụng 3 loại hồng cầu mẫu A, B, AB để xác định sự có mặt của kháng thể trong huyết thanh của nhóm máu chưa biết. Ngoài ra, để chắc chắn rằng máu người cho và người nhận được hòa hợp và an toàn, người ta thực hiện thêm phản ứng chéo hay còn gọi là phản ứng hòa hợp đầy đủ giữa hồng cầu của người cho và huyết thanh của người nhận [1], [3]. Trong xét nghiệm thường quy thường sử dụng các kỹ thuật định nhóm máu: trên lame, trên tube và gelcard [9]: Kỹ thuật định nhóm máu trên lame kính: mẫu và thuốc thử được nhỏ trên lame, quan sát sự ngưng kết trên lame.
27 Kỹ thuật định nhóm máu trên tube: mẫu và thuốc thử cho vào ống, quan sát sự ngưng kết trong ống. Đối với kỹ thuật gelcard, đây là kỹ thuật có độ nhạy và độ đặc hiệu cao, phản ứng ngưng kết kháng nguyên kháng thể xảy ra tạo thành đám ngưng kết bị giữ lại trên cột gel. Đảm bảo an toàn truyền máu Đảm bảo an toàn trong truyền máu nói riêng và đảm bảo chất lượng xét nghiệm nói chung là điều kiện tiên quyết trong phòng xét nghiệm y khoa. Các vấn đề trong đảm bảo chất lượng được quy định trong tiêu chuẩn ISO 15189 cho phòng xét nghiệm y khoa bao gồm: Tổ chức và hệ thống quản lý chất lượng.
Quản lý nguồn lực thực hiện công việc của phòng xét nghiệm như: cơ sở vật chất, nhân sự, thiết bị và hóa chất. Đánh giá và cải tiến liên tục hiệu quả công việc. Ngoài ra, cần thực hiện nội kiểm tra và tham gia ngoại kiểm tra chất lượng xét nghiệm để giám sát và kiểm soát chất lượng xét nghiệm. 2 Sơ đồ đảm bảo chất lượng xét nghiệm theo tiêu chuẩn ISO 15189 1.
Các sai sót trong phòng xét nghiệm Cung cấp an toàn, phù hợp về máu và các sản phẩm từ máu phục vụ trong công tác truyền máu liên quan đến một số quá trình. Rủi ro của mỗi quá trình từ việc lựa chọn và thu thập máu người cho đến việc kiểm tra máu trên bệnh nhân. Phòng xét nghiệm đóng vai trò quan trọng trong “chuỗi truyền” này và việc kiểm tra chưa tốt về chất lượng kiểm tra hoặc thực hiện quy trình gây ảnh hưởng nghiêm trọng cho việc nhận máu và các sản phẩm từ máu[8], [22], [26], [28]. Mục đích của việc xét nghiệm mẫu máu bệnh nhân và túi máu để việc truyền máu được an toàn.