CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các định nghĩa và khái niệm cơ bản 1. Tai nạn thương tích Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tai nạn thương tích là bất cứ tổn thương nào về mặt thể chất do sự truyền năng lượng quá sức chịu đựng của cơ thể người được gây nên một cách cấp tính hoặc trong thời gian ngắn. Đó có thể là tổn thương cho cơ thể do phơi nhiễm cấp tính với các dạng năng lượng cơ học, nhiệt học, hóa học, điện học tới mức vượt quá sức chịu đựng của cơ thể hoặc làm cơ thể suy yếu do sự thiếu vắng các yếu tố thiết yếu (nước, không khí, sức nóng) như đuối nước, ngạt thở hay bị lạnh cóng[3].
Ngã là một trong các nguyên nhân của TNTT, ngã được định nghĩa là sự chuyển đột ngột ngoài ý muốn sang vị trí thân sát trên mặt nền do bị mất thăng bằng. Thường là những trường hợp bị ngã, rơi từ trên cao hoặc ngã trên cùng một mặt bằng[3]. Ngã là một trong số các nguyên nhân gây thương tích, được mã hoá là E880-E888 trong Phân loại quốc tế bệnh tật và tử vong 9 (ICD-9), và W00-W19 trong ICD-10, trong đó ngã bao gồm một loạt các kiểu ngã trên cùng mặt phẳng, ngã cao, hay không xác định độ cao[20]. Tai nạn thương tích trên thế giới Hàng năm trên thế giới đã có khoảng 5,5 triệu người chết, gần 100 triệu người tàn tật vĩnh viễn do tai nạn thương tích (TNTT).
Đây là nguyên nhân xếp hàng thứ 4 trong 10 nguyên nhân gây tử vong nhiều nhất. Ở nhiều nước, số người bị TNTT phải nhập viện chiếm 10-30% so với tổng số bệnh nhân, thiệt hại ước tính hàng ngàn tỷ USD, chiếm 5-6% tổng thu nhập quốc dân (số liệu của Tổ chức Y tế thế giới 2007). Dự báo đến năm 2020, số người bị TNTT mỗi năm sẽ tăng thêm 20%. Các TNTT trong lao động sản xuất, thương mại dịch vụ ước tính hàng năm xảy ra 250.000 trường hợp, làm 330.000 người chết gây tổn thất tương đương 4% tổng sản phẩm xã hội toàn cầu.
TNTT trong sinh hoạt gia đình 5 chiếm 30-40%, học đường 10%, hoạt động thể thao 15-20%, hoạt động văn hoá và các hoạt động vui chơi giải trí 2-4%[9]. Té ngã và hậu quả của thương tích là những vấn đề y tế công cộng chính thường yêu cầu chăm sóc y tế. Té ngã dẫn đến 20-30% chấn thương (từ nhẹ đến chấn thương nghiêm trọng) và đang tiềm ẩn nguyên nhân của 10-15% của tất cả các lần khám tại khoa cấp cứu. Hơn 50% số ca nhập viện liên quan đến những người từ 65 tuổi trở lên.
Các lý do chính của ngã liên quan đến nhập viện là gãy vùng xương chậu, chấn thương não và chấn thương chi trên. Thời gian nằm viện do ngã khác nhau; Tuy nhiên nó dài hơn nhiều so với các thương tích khác. Nó dao động từ 4 đến 15 ngày Trong các trường hợp gãy xương chậu, nằm viện kéo dài đến 20 ngày. Với độ tuổi và sự già yếu ngày càng tăng, người lớn tuổi có khả năng phải nằm viện sau khi ngã cho toàn bộ phần còn lại của cuộc sống của họ.
Ngoài ra, ngã cũng có thể dẫn đến hội chứng sau ngã bao gồm sự phụ thuộc, mất tự chủ, sự nhầm lẫn, rối loạn vận động và trầm cảm, và sẽ dẫn đến một sự hạn chế hơn nữa trong các hoạt động hàng ngày. Té ngã chiếm 40% của tất cả các trường hợp tử vong chấn thương. Tỷ lệ tử vong do ngã ở những người từ 65 tuổi trở lên tại Mỹ là 36,8 trên 100 000 dân (46,2 đối với nam và 31,1 đối với nữ) trong khi tỷ lệ tử vong Canada cho cùng nhóm tuổi là 9,4 trên 10 000 dân số. Tỷ lệ tử vong cho những người từ 50 tuổi trở lên ở Phần Lan là 55,4 đối với nam và 43,1 đối với phụ nữ trên 100 000 dân.
Tỷ lệ phụ nữ tử vong sau gãy xương chậu là lớn hơn ở nam giới (báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới năm 2007) Một nghiên cứu dịch tễ học loại hình thương tích ngã ở Ấn Độ điều tra ở 5.000 nam và nữ độ tuổi 60 chỉ ra rằng 1/3 người đã từng bị ngã ít nhất 1 lần, gần ¾ trong số đó bị thương tích (khoảng 1/3 bị gãy xương), 40 % trong số họ không hồi phục hoàn toàn sau chấn thương [9]. Tình hình tai nạn thương tích tại Việt Nam Cùng với sự phát triển của đất nước, cơ cấu bệnh tật tại Việt Nam đã có nhiều thay đổi. Bệnh mạn tính và TNTT ngày càng tăng trong khi các bệnh truyền nhiễm có xu hướng giảm dần. Số liệu thống kê y tế năm 2002-2003 6 cho thấy tỷ lệ tử vong do TNTT tại bệnh viện chiếm khoảng 10%-15% tỷ lệ tử vong chung trong bệnh viện.
Theo điều tra y tế quốc gia 2001-2002, tỷ lệ tử vong do TNTT chiếm 10,7% trong tổng số các trường hợp tử vong[9]. Tuy nhiên nếu xét về gánh nặng bệnh tật thì chấn thương là nguyên nhân hàng đầu gây nên sự mất số năm sống tiềm tàng của con người, sau đó là bệnh mạn tính và bệnh truyền nhiễm. Trong 5 nguyên nhân hàng đầu gây tử vong thì tai nạn giao thông chiếm tỷ lệ cao nhất với tỷ suất chấn thương do tai nạn giao thông gây tử vong là 26,7/100. Tổng số tử vong do tai nạn giao thông trên thực tế có thể cao hơn các con số thu được trong báo cáo định kỳ khoảng 50%.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Đức Chính, Cao Độc Lập và cộng sự năm 2006 tại bệnh viện Việt Đức trong vòng 4 tháng có 56.019 trường hợp vào khám tại bệnh viện trong đó có 14.461 trường hợp khám cấp cứu, số cấp cứu do bệnh là 4.500 chiếm 31%, số cấp cứu do TNTT là 9. Số bệnh nhân tử vong do TNTT là 114 trường hợp, số BN nặng về do TNTT là 625, tổng số nặng về và tử vong do TNTT là 739 trường hợp chiếm 7,4% số TNTT. Tổng số BN cấp cứu do TNTT được giám sát là 4.265 trường hợp xử trí bó bột, tiểu phẫu hoặc chuyển điều trị chuyên khoa, có 2.377 trường hợp nhập viện [2]. Người cao tuổi Ở Việt Nam, Pháp lệnh người cao tuổi quy định những người từ 60 tuổi trở lên được coi là người cao tuổi.
Khái niệm người cao tuổi được sử dụng bao hàm tính kính trọng, động viên vì thực tế nhiều người 60 tuổi trở lên vẫn hoạt động tham gia nhiều công tác xã hội[7]. Xu hướng già hóa trên thế giới Già hoá dân số đánh dấu thành công của chuyển đổi nhân khẩu học nhờ kết hợp giảm nhanh, giảm mạnh mức chết và mức sinh trong đó giảm mức sinh là yếu tố quyết định nhất dẫn đến làm thay đổi cơ cấu tuổi, phân bố dân số của từng nhóm tuổi (tỷ lệ người trưởng thành và người cao tuổi tăng lên trong cơ cấu dân số, tỷ lệ dân số trẻ so với tổng dân số giảm rõ rệt) và tuổi trung vị của dân số không ngừng 7 tăng lên. Ở hầu hết các nước phát triển, từ 65 tuổi trở lên được coi là người cao tuổi. Tuy nhiên với nhiều nước đang phát triển thì mốc tuổi này không phù hợp.
Hiện tại chưa có một tiêu chuẩn thống nhất cho các quốc gia, tuy nhiên Liên Hợp quốc chấp nhận mốc để xác định dân số già là từ 60 tuổi trở lên trong đó phân ra làm ba nhóm: Sơ lão (60-69 tuổi), trung lão (70-79 tuổi) và đại lão (từ 80 tuổi trở lên). Già hoá dân số sẽ trở thành một vấn đề lớn ở các nước đang phát triển, nơi mà dân số sẽ bị già hoá nhanh chóng trong nửa đầu của thế kỷ XXI. Các nước đang phát triển sẽ là nơi có tỉ lệ người cao tuổi tăng cao nhất và nhanh nhất, theo dự báo số người cao tuổi ở khu vực này sẽ tăng gấp 4 lần trong vòng 50 năm tới[8]. Tỷ lệ người cao tuổi theo dự báo sẽ tăng từ 8% lên 19% vào năm 2025, trong khi đó tỷ lệ trẻ em sẽ giảm từ 33% xuống 22%.
Hơn một nửa dân số tuổi 80+ sống ở những nước đang phát triển, dự báo sẽ tăng lên 71% vào năm 2050. Tốc độ già hóa tại các nước đang phát triển ngày càng nhanh hơn tại các nước phát triển[8]. Có sự khác biệt lớn về phân bố dân số giữa các nước phát triển và đang phát triển. Trong khi phần lớn người cao tuổi ở các nước phát triển sống ở thành thị, thì phần lớn người cao tuổi ở các nước đang phát triển sống tại khu vực nông thôn.
Theo dự báo, đến năm 2025, 82% dân số ở các nước phát triển sẽ sống ở thành thị, trong khi đó ở các nước đang phát triển tỷ lệ này chưa đến 50%[8]. Trong số người cao tuổi thì phụ nữ nhiều hơn nam giới. Tuổi càng tăng sự khác biệt này càng lớn. Hiện trạng của phụ nữ già ở khắp nơi trên thế giới đòi hỏi sự ưu tiên trong các hành động chính sách.
Sự lão hoá tác động lên phụ nữ và nam giới một cách không giống nhau. Ý thức được điều này là yếu tố cần thiết để đảm bảo sự bình đẳng nam nữ một cách đầy đủ và phát triển các biện pháp hiệu quả nhằm giải quyết vấn đề. Do vậy, điều quan trọng là đưa sự khác nhau về giới vào tất cả các chính sách, chương trình và luật pháp[8]. Xu hướng già hóa tại Việt Nam Già hoá dân số sẽ là một thách thức lớn mà Việt Nam sẽ phải đối mặt trong thời gian tới.
Do những thành tựu đạt được trong lĩnh vực y tế và kế hoạch hóa gia đình, mức sinh của nước ta đã giảm mạnh từ trung bình 4,8 con năm 1979 xuống 2,33 con năm 1999, và 2,07 con năm 2007 và nâng tuổi thọ bình quân của Việt Nam từ 68,6 tuổi năm 1999 lên 72,2 tuổi năm 2005, dự kiến sẽ là 75 tuổi vào năm 2020[8]. Việt Nam sẽ bước vào giai đoạn “dân số già” vào năm 2017. Người cao tuổi không ngừng tăng lên cả về số tương đối và số tuyệt đối. Tỷ lệ người cao tuổi (60+) trong tổng dân số đã tăng từ 6,9% năm 1979 lên 9,45% năm 2007 xấp xỉ ngưỡng dân số già theo qui định của thế giới.
Tỷ lệ này dự kiến là 11,24% vào năm 2020 và sẽ tăng lên tới 28,5% năm 2050 thuộc vào mức cao trong khối ASEAN sau Singapore (39,8%), Thái Lan (29,8%). Bảng 1: Người cao tuổi ở Việt Nam Số dân Số người trên Tỷ lệ người trên Năm (triệu người) 60tuổi (triệu người) 60tuổi (%) (1) (2) (3) (4) =( 3): (2) 1979 53,74 3,71 6,90 1989 64,41 4,64 7,20 1999 76,32 6,19 8,12 2007 85,1549 8,05 9,45 2020 99,003 11,125 11,24 9 1.