Luận án tiến sĩ tình hình sử dụng dịch vụ chăm sóc mắt trong bệnh glôcôm và mô hình can thiệp ở người dân trên 40 tuổi tại thành phố huế

Luận án tiến sĩ phân tích tình hình sử dụng dịch vụ chăm sóc mắt và đề xuất mô hình can thiệp hiệu quả cho bệnh glôcôm ở người trên 40 tuổi tại Huế.

Chuyên ngành

Y tế công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2022

206
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tình hình sử dụng dịch vụ chăm sóc mắt

Nghiên cứu về dịch vụ chăm sóc mắt cho thấy rằng người dân trên 40 tuổi tại Huế có tỷ lệ sử dụng dịch vụ này còn thấp. Theo số liệu thu thập, chỉ một phần nhỏ trong số những người mắc bệnh glôcôm thực sự tham gia vào các dịch vụ chăm sóc mắt. Điều này có thể do thiếu kiến thức về bệnh lý, cũng như sự thiếu hụt trong việc truyền thông giáo dục sức khỏe. Nghiên cứu chỉ ra rằng, 66,9% bệnh nhân glôcôm không biết mình mắc bệnh, dẫn đến việc không tham gia vào các dịch vụ chăm sóc mắt. Việc nâng cao nhận thức về bệnh glôcômchăm sóc sức khỏe mắt là rất cần thiết để cải thiện tình hình này. Một nghiên cứu tại Đà Nẵng cho thấy tỷ lệ mắc bệnh glôcôm ở người trên 40 tuổi là 4,86%, trong đó phần lớn không được chẩn đoán và điều trị kịp thời. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có một mô hình can thiệp hiệu quả nhằm tăng cường sử dụng dịch vụ chăm sóc mắt.

1.1. Tình hình mắc bệnh glôcôm

Bệnh glôcôm là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây mù lòa không hồi phục. Tại Việt Nam, tỷ lệ mù do glôcôm ước tính khoảng 6,4%, với khoảng 329.300 người mù do bệnh này. Sự gia tăng số lượng người cao tuổi là yếu tố chính dẫn đến sự gia tăng tỷ lệ mắc bệnh. Nghiên cứu cho thấy, bệnh glôcôm thường không được phát hiện sớm, dẫn đến tình trạng mù lòa. Việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời là rất quan trọng để bảo tồn thị lực cho bệnh nhân. Các yếu tố nguy cơ như tuổi tác, tiền sử gia đình và các bệnh lý đi kèm như tăng huyết áp và đái tháo đường cần được chú ý trong việc sàng lọc và quản lý bệnh glôcôm.

II. Mô hình can thiệp

Mô hình can thiệp được xây dựng nhằm tăng cường sử dụng dịch vụ chăm sóc mắt cho người dân trên 40 tuổi tại Huế. Mô hình này bao gồm ba nhóm giải pháp chính: nâng cao kiến thức, thay đổi thái độ và cải thiện thực hành về bệnh glôcôm. Việc huy động sự tham gia của cán bộ y tế tại các trạm y tế là rất quan trọng. Họ sẽ đóng vai trò trong việc truyền thông giáo dục sức khỏe, giúp người dân nhận thức rõ hơn về bệnh glôcôm và tầm quan trọng của việc khám mắt định kỳ. Mô hình này không chỉ giúp phát hiện sớm bệnh mà còn tạo điều kiện cho việc điều trị kịp thời, từ đó bảo tồn thị lực cho bệnh nhân. Kết quả từ mô hình can thiệp sẽ được đánh giá qua tỷ lệ người dân tham gia khám sàng lọc và sử dụng dịch vụ điều trị bệnh glôcôm.

2.1. Đánh giá kết quả can thiệp

Đánh giá kết quả can thiệp là một phần quan trọng trong nghiên cứu. Kết quả sẽ được đo lường qua các chỉ số như tỷ lệ người dân tham gia khám sàng lọc bệnh glôcôm, tỷ lệ sử dụng dịch vụ điều trị và sự thay đổi trong kiến thức, thái độ và thực hành của người dân về bệnh glôcôm. Nghiên cứu cho thấy rằng, sau khi áp dụng mô hình can thiệp, tỷ lệ người dân có kiến thức tốt về bệnh glôcôm đã tăng lên đáng kể. Điều này cho thấy rằng việc can thiệp có thể mang lại hiệu quả tích cực trong việc nâng cao nhận thức và khuyến khích người dân tham gia vào các dịch vụ chăm sóc mắt.

III. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Nghiên cứu này không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn mang lại giá trị thực tiễn cao. Việc xác định tỷ lệ hiện mắc bệnh glôcôm và tình hình sử dụng dịch vụ chăm sóc mắt giúp các nhà quản lý y tế có cái nhìn rõ hơn về thực trạng bệnh lý này trong cộng đồng. Mô hình can thiệp được xây dựng sẽ góp phần nâng cao nhận thức của người dân về bệnh glôcôm, từ đó tăng cường sử dụng dịch vụ chăm sóc mắt. Điều này không chỉ giúp phát hiện sớm bệnh mà còn giảm thiểu tỷ lệ mù lòa do bệnh glôcôm. Hơn nữa, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc kết hợp giữa y tế cơ sở và các dịch vụ chuyên khoa là rất cần thiết để cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe mắt cho người dân.

3.1. Đóng góp cho chính sách y tế

Nghiên cứu này có thể đóng góp vào việc xây dựng các chính sách y tế liên quan đến chăm sóc mắt, đặc biệt là cho nhóm người trên 40 tuổi. Việc phát triển các chương trình giáo dục sức khỏe và sàng lọc bệnh glôcôm tại cộng đồng sẽ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân. Chính sách y tế cần chú trọng đến việc cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc mắt, đặc biệt là tại các trạm y tế cơ sở, nơi có thể cung cấp dịch vụ khám và điều trị bệnh glôcôm một cách hiệu quả.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ tình hình sử dụng dịch vụ chăm sóc mắt trong bệnh glôcôm và mô hình can thiệp ở người dân trên 40 tuổi tại thành phố huế

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Glôcôm là bệnh lý thần kinh thị giác với tổn thương tiến triển các tế bào hạch võng mạc, đặc trưng bởi tổn thương thị trường và đầu dây thần kinh thị giác, thường liên quan đến tình trạng nhãn áp cao. Trong số các bệnh lý mắt, glôcôm khá thường gặp, rất nguy hiểm, mang tính xã hội cao, ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng. Mù lòa do bệnh glôcôm được xếp vào loại mù lòa không chữa được vì những tổn hại về chức năng và thực thể do glôcôm gây ra sẽ không có khả năng hồi phục. Nhiều nghiên cứu hiện nay ghi nhận bệnh glôcôm xếp vị trí thứ hai trong các nguyên nhân gây mù, thường chỉ sau bệnh đục thể thủy tinh ở những nước đang phát triển hoặc bệnh võng mạc đái tháo đường ở những nước phát triển [48], [55], [64], [75], [77].

Trên toàn thế giới, ước tính số người mắc bệnh glôcôm là 76 triệu người vào năm 2020, số lượng này sẽ tăng 74% lên 111,8 triệu người vào năm 2040 [48]. Sự gia tăng tổng số người bị glôcôm được lý giải do tăng số lượng người cao tuổi – được xem là yếu tố nguy cơ quan trọng của glôcôm. Châu Á vẫn là châu lục có số bệnh nhân glôcôm góc mở và góc đóng nhiều nhất với số lượng tương ứng góc mở là 18,8 triệu người, glôcôm góc đóng là 9 triệu người. Tại Châu Á, Nam Á là khu vực chịu gánh nặng bệnh tật lớn nhất do glôcôm vì số lượng bệnh nhân glôcôm tăng nhanh và dự kiến sẽ trở thành khu vực có số lượng bệnh glôcôm đông nhất Châu Á [112 ].

Kết quả điều tra gần đây tại Việt Nam cho thấy, tỉ lệ mù hai mắt do glôcôm khoảng 6,4%, chiếm thứ ba trong các nguyên nhân gây mù. Việt Nam hiện nay có khoảng 329.300 người mù do glôcôm [83]. Glôcôm là bệnh mạn tính, không hồi phục và hiện tại chưa có phương pháp điều trị triệt để, chỉ có thể kiểm soát làm chậm tiến triển của bệnh. Do đó, sàng lọc phát hiện sớm và quản lý điều trị tốt là cách duy nhất giúp bệnh nhân glôcôm tránh được hậu quả mù lòa [104], [110].

Mặc dù tình trạng mù lòa do glôcôm có thể phòng tránh được, nhưng phần lớn trường hợp người bệnh glôcôm không được chẩn đoán. Ở những quốc gia phát triển, 50% bệnh nhân không biết mình mắc bệnh glôcôm. Tỉ lệ này lên đến trên 90% ở những quốc gia đang phát triển [78]. Một nghiên cứu cộng đồng thực hiện tại Đà Nẵng, Việt Nam cho thấy, tỉ lệ bị bệnh glôcôm ở người trên 40 tuổi là 4,86% trong đó 66,9% bệnh nhân glôcôm trong cộng 1 đồng không biết mình bị bệnh và chưa được khám, điều trị [34].

Thực trạng hạn chế sử dụng dịch vụ chăm sóc mắt trong bệnh glôcôm xảy ra phổ biến trên toàn thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng. Đối với người dân, thiếu kiến thức về bệnh glôcôm, chưa có thái độ đúng về sự nguy hiểm của bệnh và thiếu ý thức khám sàng lọc sớm dẫn đến hạn chế sử dụng các dịch vụ chăm sóc mắt trong bệnh glôcôm [113]. Theo nghiên cứu của Đào Thị Lâm Hường hầu hết người dân không có kiến thức về bệnh glôcôm, tại Nam Định 96,1% người dân không có kiến thức tốt, thái độ chưa tốt chiếm 61,2% dẫn đến tỉ lệ thực hành tốt không vượt quá 10% [23]. Về phía hệ thống cung cấp dịch vụ y tế, tại Việt Nam, các dịch vụ chăm sóc mắt cho bệnh glôcôm chỉ được cung cấp từ bệnh viện tuyến huyện trở lên dẫn đến quá tải tại các tuyến có khả năng chẩn đoán điều trị glôcôm.

Bên cạnh đó, trang thiết bị còn nghèo nàn và khả năng cung cấp dịch vụ còn nhiều bất cập, nhất là tại tuyến xã phường. Trạm y tế với thế mạnh gần các khu dân cư và được giao trách nhiệm khám chữa bệnh ban đầu, truyền thông giáo dục sức khỏe, xử trí cấp cứu các bệnh lý trong đó có bệnh mắt, tuy nhiên, khả năng cung cấp dịch vụ chăm sóc mắt cho bệnh glôcôm của trạm y tế hiện còn rất đơn giản và hạn chế [45]. Với một bệnh lý gây tổn hại thị giác không hồi phục nhưng người dân rất hạn chế sử dụng các dịch vụ chăm sóc mắt trong bệnh glôcôm đặt ra việc cần có một mô hình can thiệp tận dụng được thế mạnh của trạm y tế trong truyền thông giáo dục sức khỏe nâng cao kiến thức, thái độ, thực hành về bệnh glôcôm cho người dân. Bên cạnh đó có thể phát hiện sớm, tư vấn chuyển tuyến và quản lý glôcôm, giúp bệnh nhân phát hiện sớm, điều trị kịp thời bảo tồn thị lực, cải thiện chất lượng cuộc sống.

Đó là lý do chúng tôi thực hiện đề tài: “Tình hình sử dụng dịch vụ chăm sóc mắt trong bệnh glôcôm và mô hình can thiệp ở người dân trên 40 tuổi tại thành phố Huế” nhằm 2 mục tiêu: 1. Mô tả tỉ lệ hiện mắc glôcôm và tình hình sử dụng dịch vụ chăm sóc mắt trong bệnh glôcôm ở người dân trên 40 tuổi tại thành phố Huế năm 2017. Xây dựng và đánh giá kết quả mô hình can thiệp tăng sử dụng dịch vụ chăm sóc mắt trong bệnh glôcôm ở người dân trên 40 tuổi tại thành phố Huế. 2 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN Ý nghĩa khoa học Glôcôm được xếp vào bệnh lý gây mù loà không chữa được, tuy nhiên có thể phòng tránh được mù loà do glôcôm bằng cách phát hiện sớm, điều trị phù hợp và phải được theo dõi thường xuyên, tái khám định kỳ.

Việc cung cấp dịch vụ chăm sóc mắt trong bệnh glôcôm chủ yếu được thực hiện ở tuyến y tế có chuyên khoa mắt. Thực tế cho thấy rất ít người dân trong cộng đồng được sử dụng các dịch vụ chăm sóc mắt trong bệnh glôcôm, vì vậy khi phát hiện ra thì thị lực rất thấp, thị trường thu hẹp, nguy cơ mù loà cao. Nghiên cứu đã áp dụng phương pháp khoa học để mô tả tỉ lệ hiện mắc glôcôm ở người trên 40 tuổi, thực trạng các dịch vụ chăm sóc mắt trong bệnh glôcôm về cả hai phía: người sử dụng dịch vụ và phía cung cấp dịch vụ, tìm hiểu các yếu tố liên quan để đưa ra một mô hình can thiệp phù hợp nhằm giúp người dân tăng cường sử dụng dịch vụ chăm sóc mắt trong bệnh glôcôm hiệu quả tại cộng đồng với sự tham gia của y tế cơ sở. Ý nghĩa thực tiễn Xác định được tỉ lệ hiện mắc glôcôm ở người dân trên 40 tuổi tại thành phố Huế.

Mô tả được tình hình sử dụng dịch vụ chăm sóc mắt trong bệnh glôcôm cũng như các yếu tố liên quan. Xây dựng được mô hình can thiệp với ba nhóm giải pháp trong đó có sự huy động của tuyến y tế cơ sở dựa trên quy định về chức năng nhiêm vụ và các trang thiết bị sẵn có của trạm y tế. Góp phần giúp người dân tăng cường sử dụng dịch vụ chăm sóc mắt trong bệnh glôcôm, giúp phát hiện sớm, điều trị kịp thời, bảo tồn thị lực cho bệnh nhân. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.

ĐẠI CƢƠNG VỀ BỆNH GLÔCÔM 1. Tổng quan về bệnh glôcôm 1. Định nghĩa Glôcôm là bệnh lý của thần kinh thị giác với những cơ chế bệnh sinh khác nhau khởi phát bằng tổn thương các tế bào hạch võng mạc và lớp sợi thần kinh. Trên lâm sàng được biểu hiện bằng teo lõm đĩa thị giác, tổn thương thị trường điển hình và thường liên quan đến tăng nhãn áp (NA) [12], [22].

Phân loại glôcôm Phân loại phổ biến nhất hiện nay của glôcôm gồm 3 nhóm chính [22]. - Glôcôm nguyên phát: glôcôm góc đóng nguyên phát, glôcôm góc mở nguyên phát. - Glôcôm thứ phát: glôcôm góc đóng thứ phát, glôcôm góc mở thứ phát, glôcôm góc đóng thứ phát có hoặc không có nghẽn đồng tử, glôcôm liên quan đến các bệnh khác tại mắt, glôcôm góc mở thứ phát xuất hiện sau điều trị. - Glôcôm bẩm sinh.

Triệu chứng bệnh glôcôm - Glôcôm góc đóng nguyên phát cơn cấp: đau nhức mắt dữ dội, đột ngột, lan lên nửa đầu cùng bên. Giảm thị lực (TL), nhìn đèn thấy quầng màu sắc kèm theo buồn nôn, nôn. Giác mạc phù do NA tăng cao. Đồng tử giãn méo do cơ co đồng tử bị liệt.

Soi góc tiền phòng: góc đóng hoàn toàn [13], [67]. Glôcôm góc đóng cấp “Nguồn: Bệnh viện Mắt Trung ương, 2018” [5] 4 - Glôcôm góc đóng nguyên phát bán cấp: bệnh có những chu kỳ giảm TL, đau nhức nhẹ do tăng NA, góc tiền phòng hẹp giúp khẳng định chẩn đoán. - Glôcôm góc đóng nguyên phát mạn tính: xảy ra sau glôcôm góc đóng cấp hoặc khi góc tiền phòng đóng dần và NA tăng dần. Đĩa thị tổn thương điển hình của glôcôm kèm tổn thương thị trường.

- Glôcôm góc mở nguyên phát: bệnh xuất hiện chậm, âm thầm nên khó phát hiện ở giai đoạn sớm. Triệu chứng cơ năng không rõ ràng. Mắt chỉ căng tức và mờ nhẹ. Không cương tụ hoặc cương tụ rất nhẹ, giác mạc trong, tiền phòng mở rộng.

Đáy mắt có teo lõm gai thị tùy mức độ. TL chỉ giảm ở giai đoạn cuối. NA tăng cao, dao động NA trong ngày và chênh lệch NA giữa hai mắt trên 5 mmHg [22]. Tiến triển và biến chứng Glôcôm góc đóng cơn cấp nếu không được điều trị, NA tiếp tục tăng cao kéo dài sẽ dẫn đến mù.

Glôcôm góc đóng thể bán cấp có thể tiến triển xuất hiện dưới dạng cơn glôcôm cấp hoặc chuyển sang thể mạn tính. Tiên lượng tuỳ thuộc vào tình trạng bệnh, giai đoạn bệnh khi bệnh nhân đến khám và điều trị. Nếu không được điều trị, tổn thương đĩa thị và thị trường ngày càng nặng hơn dẫn đến mù không có khả năng hồi phục. Nếu được phát hiện sớm, điều trị đúng và theo dõi thường xuyên thì bệnh nhân có thể tránh được mù loà [5].

Điều trị Phương pháp điều trị glôcôm bao gồm thuốc, laser và phẫu thuật. Mục đích của việc điều trị glôcôm là ngăn chặn bệnh không tiếp tục gây tổn thương đầu dây thần kinh thị giác, duy trì chức năng thị giác cho bệnh nhân được ổn định và lâu dài. Để đạt được mục đích trên cần tuân thủ các nguyên tắc [57]: - Hạ NA về mức an toàn. - Sử dụng thuốc liều thấp nhất có thể.

- Điều trị đúng nguyên nhân. - Lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp. - Theo dõi bệnh nhân một cách chặt chẽ. Phòng bệnh glôcôm Hiện tại khoa học vẫn chưa tìm ra được phương pháp hữu hiệu để phòng bệnh glôcôm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu sử dụng dịch vụ chăm sóc mắt và mô hình can thiệp bệnh glôcôm ở người trên 40 tuổi tại Huế" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình trạng sức khỏe mắt của người dân tại Huế, đặc biệt là những người trên 40 tuổi. Nghiên cứu này không chỉ phân tích mức độ sử dụng dịch vụ chăm sóc mắt mà còn đề xuất các mô hình can thiệp hiệu quả nhằm giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh glôcôm. Những thông tin này rất hữu ích cho các chuyên gia y tế, nhà nghiên cứu và những ai quan tâm đến sức khỏe mắt, giúp họ hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc chăm sóc mắt và các biện pháp phòng ngừa bệnh tật.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước giếng khu vực phía đông vùng kinh tế dung quất huyện bình sơn tỉnh quảng ngãi, nơi nghiên cứu về chất lượng nước, một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ luật học phòng ngừa các tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh thái bình cũng có thể cung cấp những thông tin bổ ích về các biện pháp can thiệp trong cộng đồng. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ khoa học xác định mức độ ô nhiễm các hợp chất hydrocarbons thơm đa vòng pahs trong trà cà phê tại việt nam và đánh giá rủi ro đến sức khỏe con người, để thấy được mối liên hệ giữa ô nhiễm môi trường và sức khỏe con người. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe và các biện pháp can thiệp hiệu quả.