Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về bệnh sốt Dengue/ sốt xuất huyết Dengue (SD/SXHD) 1. Tác nhân gây bệnh SD/SXHD Trong suốt thời gian dài, người ta chỉ biết rằng các vụ dịch sốt xuất huyết là do muỗi truyền, mà tác nhân gây gây bệnh vẫn chưa biết đến. Mãi đến tháng 5/1944, khi Sabin phân lập được vi rút Dengue type 1,2 và sau đó tháng 4/1956, tháng 5/1960 đã lần lượt phân lập được vi rút Dengue 3, 4 thì tác nhân gây ra các vụ dịch sốt xuất huyết (SXH) mới được hiểu rõ.
Vi rút Dengue thuộc nhóm Arbovirut, họ Flaviridae vi rút là nhóm bao gồm các vi rút gây bệnh cho động vật được truyền qua côn trùng tiết túc [2]. Ở Việt Nam đã phân lập được 4 tiếp vi rút Dengue; tiếp Den 2, Den 1 chiếm ưu thế trong những năm 1991- 1995; Den 2 chiếm 90,5% trong vụ dịch lớn nhất ở Việt Nam 1987, type Den 1 chiếm 50% số phân lập được trong các vụ dịch năm 1990 và dao động từ 47,3% đến 62,5% trong thời gian 1991- 1994; type Den 3 đã được phân lập ở miền nam năm 1987 với 3,7% sau đó không thấy xuất hiện trong thời kỳ 1988-1990, xuất hiện trở lại miền Bắc năm 1991 và miền Nam năm 1994, trở thành type gây dịch chủ yếu trong thời kỳ 1994-1997 với tỷ lệ cao nhất 76,1% năm 1998. Trong khi đó type Den 4 chiếm tỷ lệ thấp nhất năm 1991, vắng mặt trong thời kỳ 1992-1997 nhưng xuất hiện lại cùng với Den 1 và trở thành type gây dịch chủ yếu năm 1998. [ 5] Tại Việt Nam đã phân lập được cả 4 type virut Dengue gây bệnh.
Theo kết quả của chương trình giám sát vi rút tại các tỉnh phía Nam Việt Nam của Viện Pastuer TP HCM, type Den 2 có chu kỳ hoạt động từ năm 1987, type 4 Den 1 có chu kỳ hoạt động từ năm 1990 và type Den 3 bắt đầu hoạt động từ năm 1995, còn type Den 4 hoạt động nhiều hơn từ năm 1999. [32] Thông thường, vi rút hiện diện trong giai đoạn cấp tính của bệnh và mất dần trong giai đoạn hồi phục của bệnh.2 Trung gian truyền bệnh SD/ SXHD Bệnh không lây truyền trực tiếp từ người sang người mà do muỗi đốt người bệnh rồi truyền vi rút sang người lành qua vết đốt. Ở Việt Nam, hai loài muỗi truyền bệnh SXHD là Aedes aegypti và Aedes albopictus, trong đó quan trọng nhất là Aedes aegypti. Muỗi cái Aedes aegypti bị nhiễm vi rút , khi đốt người sẽ truyền vi rút qua vết đốt, do đặc điểm sinh lý của muỗi cái rất ái tính với người.
Thông thường, muỗi cái Aedes aegypti bị nhiễm virút Dengue, khi hút máu người bệnh thì sau đó muỗi có khả năng truyền vi rút suốt đời. Ngoài ra người ta còn nhận thấy nó có khả năng lây truyền thế hệ sau qua trứng, đây là một cơ chế quan trọng để duy trì vi rút, nhưng không đóng va i trò lớn trong những vụ dịch. [7] Đặc điểm sinh lý, sinh thái của muỗi Aedes aegypti: Ở các tỉnh phía Nam, Aedes aegypti phân bố rộng khắp các tỉnh, các vùng; trừ một số nơi thuộc các huyện miền núi cao, tỉnh Lâm Đồng, có thể gặp Aedes aegypti ở mọi nơi; đặc biệt là những thành phố, thị xã đông dân, các vùng đồng bằng ven biển, nơi thiếu nước ngọt người dân phải dùng nhiều vật chứa dự trữ suốt mùa khô. Chúng rất thích hút máu người và thường sống ở trong nhà gần người, đậu nghỉ ở những nơi tối, trên quần áo sẫm màu treo trên móc áo.
Muỗi đánh hơi người nhanh và sà vào là đốt (hút máu) ngay, muỗi thường hoạt động đốt người vào ban ngày, hoạt động cao điểm là lúc sáng sớm và chiều tối, ở ngoài nhà cũng gặp loài muỗi này nhưng ít hơn, muỗi thường bay xa khoảng 100- 5 200 mét và phát tán quanh vùng chúng đẻ trứng, chúng có thể p hát tán thụ động theo các phương tiện giao thông đi khắp nơi và chỉ cần 1% số muỗi trong vùng bị nhiễm vi rút là có thể gây dịch, nên việc xử lý các p hương tiện giao thông giữa các vùng đất nước là cần thiết phải làm khi có thông báo.[8] Ở nhiệt độ 20 0C, độ ẩm 85% chu kỳ phát triển của muỗi là 10-15 ngày, nhiệt độ <20 0 C chu kỳ này kéo dài trên 20 ngày. Muỗi đẻ trứng ở những nơi nước sạch chứa trong lu, khạp, hồ, các mảnh chai lọ, bát vỡ, vỏ xe cũ, gáo dừa, máng chứa nước mưa ứ đọng lâu ngày ở trong và xung quanh nhà tại những nơi râm mát. Trứng màu đen, được đẻ riêng rẽ bám ở thành ẩm p hía trên mực nước của các dụng cụ chứa nước; trứng nở sau khi bị ngập nước tự nhiên do mưa hoặc do con người đổ nước vào để dự trữ. Lăng quăng của muỗi Aedes aegypti ưa thích nước có độ pH hơi axít, nhất là nước mưa, rồi đến nước máy, nước giếng.2 Những đặc điểm dịch tễ học bệnh sốt Dengue/sốt xuất huyết Dengue 1.1 Tình hình bệnh sốt Dengue/sốt xuất huyết Dengue trên thế giới Năm 1920 dịch lớn đã xảy ra ở Hy Lạp, Nam Châu Phi, Úc, Nhật, Mỹ [2].
Từ năm 1953 – 1964 bệnh SD/SXHD được ghi nhận ở nhiều nước thuộc khu vực Đông Nam Á, Tây Thái Bình Dương như: Ấn Độ, Malaysia, Philippines, Singapo, Thái Lan, Việt Nam ở dạng dịch bệnh lưu hành. Tuy nhiên, thỉnh thoảng có gây ra dịch lớn như: năm 1953 Philippines, 1958 Thái Lan, 1975 – 1976 dịch lớn xảy ra ở Malaysia, Philippines, Thái Lan. Năm 1979 – 1980 ở Thái Lan, năm 1982-1983 ở Malaysia. Riêng Cuba năm 1981 có trận đại dịch SD/SXHD với 344.293 người mắc [3].
Hiện nay sốt Dengue/ sốt xuất huyết đã xuất hiện trên 100 quốc gia, đe dọa hơn 2,5 tỷ người ở các quốc gia vùng nhiệt đới và bán nhiệt đới. Trong giai đoạn từ 1970 đến 1995 trên toàn cầu, số mắc SD/SXHD đã tăng bốn lần, theo tổ chức y tế thế giới ước tính năm 2007 có 50 triệu trường hợp 6 nhiễm mỗi năm và có 500.000 trường hợp phải nhập viện mỗi năm, trong đó có 90% trường hợp dưới 15 tuổi, tử vong trung bình là 20.000 trường hợp. Tại khu vực Đông Nam châu Á ước tính có khoảng 1,3 tỷ người sống trong vùng có nguy cơ bị nhiễm bệnh SD/SXHD. Có 7 trong 10 quốc gia thông báo dịch thường xuyên là Bangldesh, Ấn Độ, Indonesia, Malaires, Myanmar, Sirilanka và Thái Lan.
Trong tổng số 7 quốc gia này, năm 2004 có 107.316 trường hợp bị bệnh.2 Tình hình bệnh sốt dengue/sốt xuất huyết dengue tại Việt Nam Tại Việt Nam SXH là một trong mười bệnh truyền nhiễm có tỷ lệ mắc và tử vong cao nhất [6],[8]. Hiện tại, Việt Nam là nước có SXH lưu hành địa phương với số dân sống trong vùng SXH lưu hành có nguy cơ mắc bệnh ước tính khoảng 70 triệu người. Bệnh có liên quan đến mùa mưa và những thói quen dự trữ nước sinh hoạt bằng bể hở, chum, chai, thùng phuy, lọ cắm hoa… cũng như việc vứt các vật dụng phế thải như: gáo dừa, vỏ xe, vỏ đồ hộp. Những năm gần đây, bệnh SXH xảy ra quanh năm và diễn biến thành dịch ở hầu hết các lứa tuổi, với số ca mắc cao và tỷ lệ tử vong cũng khá cao.
[6] Theo cục Y tế Dự phòng - Bộ Y tế trong năm 2010 bệnh sốt xuất huyết tăng và bùng phát thành dịch nhiều vùng, cả nước ghi nhận 128.831 trường hợp mắc, 109 trường hợp tử vong; số mắc tăng 22% và số tử vong tăng 25,3% so với năm 2009. Qua phân tích số mắc/số tử vong do sốt xuất huyết năm 2010, dịch sốt xuất huyết không có sự gia tăng đột biến ở khu vực miền Bắc và miền Nam, nhưng lại tăng cao và bùng phát thành dịch ở miền Trung và Tây Nguyên. So năm 2010/2009, miền Nam số mắc 74. Số tử vong 7 80/74 tăng 6 trường hợp, miền Bắc số mắc 5.485 giảm 3,3%, không có tử vong (0/4); miền Trung số mắc 35.519 tăng 3,1%, số tử vong 24/8% tăng 3%; Tây Nguyên số mắc 13.476 tă ng 8,9 %, tử vong 5/1 tăng 4 trường hợp.
Đa số các trường hợp tử vong do sốt xuất huyết Dengue độ III, VI và tỷ lệ trẻ em mắc SD/SXHD chiếm 46,45% [ 45]. Miền Bắc: năm 1969 có một vụ dịch tại Hà Nội sau đó lan ra 19 tỉnh thành phía Bắc với số mắc lên đến 46. Các tỉnh phía Nam: năm 1963 – 1974 năm nào cũng ghi nhận có người mắc ở 17 tỉnh thành. Từ 1975 đến nay năm nào cũng có dịch xảy ra và số mắc tăng dần theo từng năm.
Đặc biệt, năm 1983 có một vụ dịch lớn nhất từ trước đến nay đã xảy ra trong cả nước với số mắc lên đến 149.519 trường hợp. Tại Việt Nam, sốt xuất huyết là một trong 10 bệnh truyền nhiễm có tỷ lệ mắc và tử vong cao nhất trong hơn 10 năm qua. Trong đó 90% người bệnh là trẻ em dưới 15 tuổi theo Vũ Sinh Nam, (1995) chủ động tiêu diệt nguồn lây là giải pháp hiệu quả nhất để phòng tránh bệnh [39].3 Tình hình mắc bệnh SD/SXHD 1.1 Tình hình mắc và chết SD/SXHDD ở Việt Nam từ 2006- 2008 Số ca mắc và chết bệnh SD/SXHD Ở Việt Nam từ 2006- 2008 trở thành một bệnh dịch lưu hành trên toàn quốc. Bệnh không chỉ xuất hiện ở đô thị mà còn cả vùng nông thôn, nơi có muỗi Aedes truyền bệnh.
Dịch lớn SD/SXHD bùng nổ theo chu kỳ 3-5 năm .[39] Ở khu vực phía nam tình hình SD/SXH cũng diễn biến phức tạp. Số liệu tổng kết tình hình mắc và chết do SD/SXH tại các tỉnh phía Nam năm 2006 -2008 số ca mắc dao động từ 38.984 ca (năm 2009) và tỉ lệ mắc/100.000 dân dao động trong khoảng 99 ,99/100. 8 Những năm gần đây, bệnh SD/SXHD xảy ra quanh năm và diễn biến thành dịch ở hầu hết các lứa tuổi, với tỉ lệ mắc, chết trên 100.000 dân đứng thứ 4, thứ 5 trong số các bệnh truyền nhiễm giai đoạn 1994 - 2003 và 2006 tỉ lệ mắc trong khoảng 70,39/100.000 dân nhưng đến năm 2007 và 2008 có hướng tăng lên. Bệnh SXHD là mối nguy cơ đe dọa đến sức khỏe con người, bệnh thường gặp ở trẻ em, thời gian nằm bệnh trung bình từ 5 - 10 ngày, gây ảnh hưởng đến sức lao động ở người lớn do phải chăm sóc trẻ ốm.
Chi phí trực tiếp hoặc gián tiếp do bệnh gây ra rất lớn, bao gồm chi phí điều trị ở bệnh viện, thuốc men nếu trẻ ốm nằm ở nhà, không lao động được. Ngoài ra, còn chi phí để chính quyền địa phương tổ chức các hoạt động p hòng chống dịch và bệnh cũng làm giảm nguồn thu.