CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) ở lợn Trong những năm gần đây, một trong những bệnh được nhắc đến nhiều là bệnh tai xanh - hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome - PRRS). Bệnh xuất hiện lần đầu tiên ở Bắc Mỹ vào đầu những năm 1980, sau đó bệnh xuất hiện ở Châu Âu, Châu Á. Bệnh được xác định là do một loại virus thuộc họ Arteriviridae, có khả năng xâm nhiễm vào đại thực bào và mô bào (Bùi Quang Anh và Nguyễn Văn Long (2007) [2].
Thông thường thì đại thực bào sẽ tiêu diệt tất cả vi khuẩn, virus khi chúng xâm nhập vào cơ thể. Song virus PRRS có khả năng nhân lên trong đại thực bào, sau đó phá huỷ và giết chết đại thực bào (tới 40%). Đại thực bào bị giết sẽ làm giảm chức năng của hệ thống bảo vệ cơ thể và làm tăng nguy cơ bị nhiễm các bệnh kế phát. Điều này có thể thấy rõ ở những đàn lợn vỗ béo hoặc chuẩn bị giết thịt, ở chúng có sự tăng đột biến về tỷ lệ viêm phổi, gây nhiều thiệt hại cho người chăn nuôi.
Khi mắc PRRS lợn nái thường có biểu hiện sốt, kém ăn, thở khó, sảy thai. Bệnh ở lợn nái chửa kỳ cuối làm tăng số lượng con chết khi đẻ hoặc vẹo chân, yếu và tử vong ở lợn con. Ở lợn nuôi thịt, triệu chứng hô hấp thường nặng, thường kết hợp với các bệnh khác (Thành Thuận, 2002) [39]. Khi có ổ dịch cấp tính xảy ra, tổng đàn bị giảm 5 - 20%, lợn nái đẻ giảm từ 1 - 3,8 lợn con/nái/năm, thiệt hại khoảng 100 - 155 USD/nái/năm (Hoàng Văn Năm, 2002) [25].
Thể mãn tính của PRRS làm cho lợn thịt chậm lớn, tăng chi phí thuốc để điều trị các bệnh kế phát. Một số đặc điểm của virus PRRS 1. Hình thái và cấu trúc của virus PRRS Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn do virus thuộc họ Arteriviridae, giống Nidovirales. Virus PRRS có cấu trúc ARN mạch đơn, có đường kính 40 - 70 nm, có vỏ bọc, kích thước genome dài 14,5 kb mã hoá cho việc tái tạo virus (Jeong-Ki Kim và cs, 2005) [57].
Chuỗi hệ gen đầy đủ của virus PRRS được xác lập vào năm 1993, nó có kích thước khoảng 15,1 đến 15,5 kb và chứa ít nhất 8 khoang đọc mở (ORFs) để mã hóa 20 protein đã định sẵn của virus. Tuy nhiên chỉ có 3 khung ORFs n 4 có ý nghĩa quan trọng trong định danh virus, đó là ORFs 7,6 và 5 quy định tổng hợp các protein tương ứng: nucleocapsid (N) 15-kDa, matrix (M) 19-kDa và glycoproteins envelope (protein GP5) 25-kDa. Đây là những protein cấu trúc quan trọng nhất, chúng chiếm 90 - 95% lượng protein cấu trúc của virus (Kwang Soo Lyoo, 2015) [61]. Virus có 8 cấu trúc đọc mật mã (ORFs) đã được xác định chức năng.
Đó là: ORF 1a và 1b được báo trước để lập mã ARN polymerase bởi vì các yếu tố của chuỗi được bảo quản trong ARN polymerase như của các ARN virus tương tự. ORF 2 đến 6 được báo trước để lập mã các protein kết hợp với màng của virus. ORF 7 được báo trước để lập mã các protein vỏ nhân. Trong các tế bào bị nhiễm virus PRRS, virus sinh ra 6 mARN.
Tất cả 6 mARN chứa trình tự sắp xếp chung nhận được từ đầu 5' của hệ ARN trong gen và tất cả chúng đều có đuôi 3' polyA. Muelenberg kết luận rằng dựa trên chuỗi nucleotit, tổ chức hệ gen, cách nhân lên của virus thì có thể xếp chúng vào nhóm virus động mạch (arterivirus) mới. Trong đó ORF1a và ORF1b nằm ở đầu 5 'của gen và mã hóa các protein với hoạt động enzyme nhân và polymerase.