Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Bệnh Viêm da nổi cục ở trâu, bò 1. Đặc tính sinh học của vi rút 1. Đặc điểm chung Ochwo S.
(2019) cho biết: Vi rút gây Viêm da nổi cục do vi rút Lumpy skin disease (viết tắt: LSDV) là vi rút DNA sợi đôi thuộc chi capripoxvi rút của họ Poxviridae. Chi Capripoxvi rút bao gồm LSDV, vi rút sheeppox và vi rút đậu mùa dê. Đặc tính sinh học của LSDV a) Hình thái, cấu trúc Hình 1. Cấu trúc của vi rút gây bệnh Viêm da nổi cục (Nguồn: Moumita Das và cs., 2021) Hình viên gạch, các virion Capripoxvi rút khác với các virion orthopoxvi rút ở chỗ chúng có dạng hình bầu dục hơn, cũng như các thể bên lớn hơn.
Kích thước trung bình của capripoxvirions là 320 nm x 260 nm. 5 Vi rút LSDV là một loại DNA vi rút sợi đôi có vỏ bọc, bộ gen của vi rút có kích thước khoảng 151 kbp, bao gồm vùng mã hóa trung tâm được bao bọc bởi các đoạn lặp lại đầu cuối ngược 2,4 kbp giống hệt nhau và chứa khoảng 156 gen khác nhau (Tulman và cs. Có 146 gen được bảo tồn khi so sánh LSDV với chordopoxvi rút của các chi khác. Những gen này mã hóa các protein liên quan đến quá trình phiên mã và hình thành sinh học mRNA, chuyển hóa nucleotide, sao chép DNA, xử lý protein, cấu trúc và lắp ráp virion, độc lực của vi rút và phạm vi vật chủ.
Trong vùng gen trung tâm, các gen LSDV có mức độ tương đồng cao và nhận dạng axit amin với các gen của các poxvi rút động vật có vú khác. Ví dụ về các loại vi rút có đặc điểm nhận dạng axit amin tương tự bao gồm suipoxvi rút, yatapoxvi rút và leporipoxvi rút. Tuy nhiên, ở các vùng đầu cuối, tính cộng tuyến bị gián đoạn. Ở những vùng này, các chất tương đồng của poxvi rút hoặc không có hoặc có tỷ lệ nhận dạng axit amin thấp hơn.
Hầu hết những khác biệt này liên quan đến các gen có khả năng liên quan đến độc lực của vi rút và phạm vi vật chủ. Duy nhất đối với Chordopoxviridae, LSDV chứa các chất tương đồng của interleukin-10 (IL-10), protein liên kết IL-1, thụ thể chemokine CC kết hợp với protein G và protein giống yếu tố tăng trưởng biểu bì, được tìm thấy trong các chi poxvi rút khác. b) Sức đề kháng với môi trường bên ngoài - Vi rút có thể bị tiêu diệt ở nhiệt độ 65ºC trong 30 phút hoặc 55ºC trong 2 giờ, Vi rút có thể được hồi phục từ những nốt sần trên da được giữ ở nhiệt độ - 80ºC trong 10 năm và dịch nuôi cấy mô nhiễm vi rút được bảo quản ở nhiệt độ 4ºC trong 6 tháng (Tulman E. - Vi rút nhạy cảm với môi trường pH kiềm hoặc axít (có thể tồn tại ở môi trường pH = 6,6 - 8,6 trong 5 ngày ở nhiệt độ 37ºC).
6 - Hóa chất sử dụng để diệt vi rút Viêm da nổi cục bao gồm ether (20%), chloroform, formalin (1%), phenol (2% trong 15 phút), sodium hypochlorite (2 - 3%), hợp chất iodine (pha loãng 1:33), virkon (2%), hợp chất amoni bậc bốn (0,5%) và một số chất tẩy rửa như sodium dodecyl sulphate. Vi rút Viêm da nổi cục rất ổn định, tồn tại trong thời gian dài ngoài môi trường, đặc biệt là ở dạng vảy khô; tồn tại trong các nốt da hoại tử trên 33 ngày, trong các lớp vảy khô lên đến 35 ngày và ít nhất 18 ngày trong da phơi khô (Tania Gupta và cs. - Vi rút nhạy cảm với ánh sáng mặt trời và chất tẩy rửa có chứa dung môi lipid, nhưng trong điều kiện môi trường tối và ẩm ướt (Ví dụ như chuồng trại bị ô nhiễm) vi rút có thể tồn tại trong nhiều tháng. c) Khả năng miễn dịch - Miễn dịch nhân tạo: Ở Nam Phi, chủng vi rút Neethling lần đầu tiên bị làm suy yếu bởi 20 đoạn trên màng đệm của trứng gà mái.
Hiện nay, chủng vi rút vắc-xin được nhân giống trong nuôi cấy tế bào. Ở Kenya, vắc-xin được sản xuất từ vi rút đậu mùa ở cừu hoặc dê đã được chứng minh là cung cấp khả năng miễn dịch ở gia súc. Tuy nhiên, mức độ suy giảm cần thiết để sử dụng an toàn cho cừu và dê là không đủ cho gia súc. Vì vậy nên vắc xin sheeppox và đậu mùa dê bị hạn chế ở các quốc gia nơi bệnh đậu mùa dê hoặc sheeppox đã lưu hành vì vắc-xin sống có thể cung cấp nguồn lây nhiễm cho các quần thể cừu và dê nhạy cảm.
Để đảm bảo có thể bảo vệ đầy đủ đối với vi rút gây bệnh Viêm da nổi cục, cần tiến hành tiêm phòng định kỳ theo năm đối với gia súc trưởng thành mẫn cảm. Khoảng 40% gia súc bị sưng tấy (đường kính 10 - 20 mm) tại vị trí tiêm và vết sưng này biến mất trong vài tuần sau tiêm phòng. Khi được tiêm chủng, bò sữa có thể có biểu hiện giảm sản lượng sữa tạm thời và được khắc phục theo thời gian (Sprygina và cs. 7 - Miễn dịch tự nhiên: Hầu hết gia súc phát triển khả năng miễn dịch suốt đời sau khi phục hồi từ một bệnh nhiễm trùng tự nhiên.
Ngoài ra, bê của những con bò miễn dịch có được kháng thể của mẹ và có khả năng chống lại bệnh lâm sàng cho đến khoảng 6 tháng tuổi. Để tránh can thiệp vào kháng thể của mẹ, không nên tiêm phòng cho bê dưới 6 tháng tuổi bị. Mặt khác, bê con sinh ra từ những con bò mẫn cảm cũng dễ mắc bệnh và cần được tiêm phòng (Sprygina và cs. Dịch tễ học Động vật mẫn cảm với vi rút Viêm da nổi cục là trâu, bò ở mọi lứa tuổi, giới tính.
Đặc biệt bò có năng suất sữa cao, giống ôn đới thường hay nhạy cảm với bệnh hơn so với bò thịt và các giống nhiệt đới. Tỉ lệ trâu, bò mắc bệnh khoảng 10 - 20%; tỉ lệ chết khoảng 1 - 5% (dưới 10%) với thời gian ủ bệnh trong phòng thí nghiệm trung bình khoảng 4 - 14 ngày và trong nhiễm tự nhiên có thể lên đến 5 tuần. Tỉ lễ nhiễm Viêm da nổi cục ở bò (30,8%) cao hơn ở trâu (1,6%) (El- Neweshy M. Dê, cừu khi tiếp xúc với trâu, bò bệnh dù không bị lây nhiễm nhưng vi rút có thể nhân lên khiến dê, cừu trở thành vật trữ và phát tán mầm bệnh.
Khi gây nhiễm thí nghiệm đối với linh dương và hươu cao cổ đã cho thấy các triệu chứng lâm sàng. Tỉ lệ trâu, bò chết và tiêu hủy trực tiếp do bệnh Viêm da nổi cục ở Việt Nam là khoảng 5,6 -7,3%. Hiện nay chưa xác định được véc tơ truyền bệnh cụ thể, tuy nhiên côn trùng chân đốt được xem là véc tơ truyền bệnh Viêm da nổi cục. Muỗi, ruồi và ve đực có thể đóng vai trò quan trọng trong việc làm lây truyền vi rút.
Vai trò của các véc tơ truyền bệnh là khác nhau giữa các khu vực địa lư khác nhau, phụ thuộc vào nguồn và đặc điểm của mỗi loại véc tơ. Trâu, bò đực nhiễm bệnh có thể bài thải vi rút qua tinh dịch; tuy nhiên đến nay vẫn chưa có bằng chứng về 8 đường lây truyền bệnh Viêm da nổi cục thông qua tinh dịch. Tiếp xúc trực tiếp được cho là không đóng vai trò quan trọng trong lây truyền vi rút Viêm da nổi cục. Ngoài ra, cũng chưa rõ có hay không việc truyền lây vi rút qua đường thức ăn và nước uống nhiễm mầm bệnh (Constable P.
Qua phương pháp trong phòng thí nghiệm, Biswas D. (2020) cho thấy: các nốt sần và vảy da chứa một lượng vi rút Viêm da nổi cục tương đối cao. Vi rút có thể được phân lập từ những bệnh phẩm này trong 35 ngày và có thể lâu hơn. Vi rút có thể được phân lập từ máu, nước bọt, dịch tiết ở mắt và mũi và tinh dịch.
Vi rút được tìm thấy trong máu trong khoảng từ 7 - 21 ngày sau khi nhiễm bệnh, với mức độ thấp hơn so với trong các nốt sần ở da tại cùng thời điểm lấy mẫu. Sự bài thải của vi rút trong tinh dịch có thể kéo dài tới 42 ngày. Cũng có bằng chứng về sự lây truyền vi rút qua nhau thai. Trong một số trường hợp, động vật mang mầm bệnh không biểu hiện triệu chứng lâm sàng, nhưng mang vi rút trong máu và có thể truyền bệnh cho động vật khỏe thông qua côn trùng hút máu (muỗi, ve, mòng).
Cách sinh bệnh Sự lây nhiễm xảy ra nhanh chóng, bệnh ảnh hưởng trực tiếp 5 - 45% số vật nuôi khỏe mạnh. Cơ chế lan truyền chính xác chưa được nghiên cứu đầy đủ và cụ thể. Không phải tất cả các con vật nuôi chung trong 1 không gian sống đều bị bệnh, một số cá thể chung sống với động vật nhiễm bệnh hoặc mang mầm bệnh nhưng không bị lây truyền. (2021) cho thấy, dịch Viêm da nổi cục có xu hướng bùng phát mạnh vào mùa hè, đặc biệt ở các trại chăn nuôi nằm trong vùng đất trũng, đầm lầy, điều kiện khi hậu, nhiệt độ khắc nghiệt, nóng ẩm có nguy cơ nhiễm bệnh cao.
Bệnh kéo dài 3 - 4 tuần, nhưng khi phát sinh biến chứng thì quá trình hồi phục có thể bị trì hoãn và để lại những di chứng về sau. Cơ chế sinh bệnh của bệnh Viêm da nổi cục (Nguồn: Cục Thú y, 2021) ❖ Quá trình truyền lây (Alsodany A., 2019): - Đường lây truyền chủ yếu thông qua vết đốt của côn trùng (thường là muỗi, ve, ruồi.) - Tiếp xúc trực tiếp với động vật bị bệnh trong quá trình vận chuyển, sử dụng chung máng ăn, máng uống hoặc lây nhiễm trong khu vực cho ăn, vắt sữa, lấy tinh,… - Tiếp xúc với sản phẩm giết mổ của động vật bị bệnh hoặc với chất dịch sinh học của chúng. - Lây truyền qua nhau thai cũng đã được báo cáo, bê con sinh ra bị tổn thương trên da. - Bê con đang theo mẹ có thể bị nhiễm bệnh qua sữa, hoặc do tổn thương da ở núm vú (hiếm gặp do kháng thể mẹ truyền sang).
- Lây truyền qua kim tiêm bị ô nhiễm trong quá trình điều trị hoặc trong quá trình tiêm phòng. - Lây truyền qua đường giao phối tự nhiên. 10 ❖Nguồn chứa vi rút (Agianniotaki E., 2017): - Các nốt sần, vảy và vảy da có chứa lượng vi rút gây bệnh Viêm da nổi cục tương đối cao. - Vi rút có thể được phân lập từ vật liệu này trong tối đa 35 ngày và có thể lâu hơn.
- Vi rút gây bệnh Viêm da nổi cục có thể được phân lập từ máu, nước bọt, dịch tiết ở mắt và mũi, và tinh dịch.