CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu về bệnh dịch tả lợn châu Phi Bệnh dịch tả lợn châu Phi là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do vi rút chỉ gây bệnh ở lợn nuôi và lợn rừng; không gây bệnh cho các loài động vật khác, lợn mắc bệnh có khả năng chết lên đến 100%; bệnh lây lan nhanh, gây thiệt hại lớn, tuy nhiên đến nay bệnh không lây nhiễm và gây bệnh ở người. Vi rút có sức đề kháng cao, tồn tại lâu ở ngoài môi trường và trong các sản phẩm của lợn; bệnh lây lan trực tiếp từ lợn bệnh sang lợn chưa mắc bệnh, sản phẩm lợn mang mầm bệnh, hoặc gián tiếp qua các loài vật chủ trung gian mang mầm bệnh (ve mòng, côn trùng, gặm nhấm, chim di cư,.), các phương tiện vận chuyển, thức ăn chăn nuôi, dụng cụ chăn nuôi và cả yếu tố con người. Cho đến nay vẫn chưa có thuốc để điều trị bệnh hiệu quả (Lê Văn Năm, 2019).
Đặc điểm của bệnh dịch tả lợn châu Phi 1. Căn bệnh Montgomery là người đầu tiên mô tả dịch tả lợn châu Phi ở Kenya vào năm 1921. Vi rút lây lan từ lợn rừng sang lợn nhà với tỷ lệ chết lên đến 100%. Kể từ đó, bệnh dịch tả lợn châu Phi được công nhận như một bệnh dịch địa phương ở nhiều nước châu Phi như: Angola, Mozambique, Nam Phi, Senegal, Uganda và Zimbabwe.
Năm 1957, bệnh dịch tả lợn châu Phi lần đầu tiên được phát hiện bên ngoài châu Phi. Nó xuất hiện ở Lisbon (Bồ Đào Nha) ở thể bán cấp tính với tỷ lệ tử vong 100%. Sau đó bệnh xuất hiện ở Malta, Sardinia (Ý), Brazil, Cộng hòa Dominicavi, Haiti và Cuba. Ngày nay ASF chỉ có ở châu Phi, chủ yếu các quốc gia vùng hạ Sahara và Sardinia (Ý).
Lợn nhà là loài động vật duy nhất bị nhiễm tự nhiên bởi vi rút dịch tả lợn châu Phi. Lợn rừng châu Âu cũng dễ bị nhiễm ASFV với triệu chứng lâm 4 sàng và tỷ lệ chết cao. Bệnh dịch tả lợn châu Phi được lưu hành ở châu Phi bởi vòng truyền lây giữa các loài lợn hoang dã và ve mềm. Một số loài ve mềm như Orithodoros moubata ở châu Phi và O.
Erraticus ở bán đảo Iberia là nguồn chứa và vector sinh học vi rút ASF (Boklund A. Bệnh dịch tả lợn châu Phi thường lây lan giữa các lợn nhà thông qua tiếp xúc đường miệng hoặc qua mũi. Lợn cũng có thể nhiễm bằng các đường khác như qua vết cắn. Động vật hết bệnh sau khi nhiễm bệnh cấp tính và mãn tính có thể bị nhiễm bệnh trở lại, và trở thành vật mang vi rút.
Vi rút dịch tả lợn châu Phi là một Myxovirrus chứa ADN với kích thước rất nhỏ 10 - 30 nm, dễ nuôi cấy và phát triển tốt trong môi trường tế bào bạch cầu và tế bào thận lợn. Vi rút có nhiều type huyết thanh (serotype) với độc lực rất khác nhau. Vi rút dịch tả lợn châu Phi có cấu trúc phức tạp: dạng hình khối nhiều mặt, có vỏ bọc bên ngoài, đường kính 175- 215 nm; ADN sợi đôi, 170- 190 kbp mã hóa hơn 170 protein. Vi rút có 23 - 24 kiểu gen (genotype) khác nhau.
Kết quả giải trình tự của các mẫu bệnh phẩm thu được từ ổ dịch ASF đầu tiên, các nhà khoa học của Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ sinh học Thú y, khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, đã khẳng định có sự tương đồng rất cao giữa chủng vi rút ASF Việt Nam với chủng ASF đang tồn tại và lưu hành ở Trung Quốc thời gian qua. Đây là chủng thuộc genotyp II, được phát hiện từ ổ dịch bùng phát ở Georgia vào năm 2007 và sau đó đã lây lan nhiều nước châu Âu (Eble P. Phả hệ của vi rút ASF ở Việt Nam năm 2019 Nguồn: Cục Thú y (2019) 6 Vi rút có sức sống rất tốt. Trong máu, chúng tồn tại và giữ nguyên độc lực tới 6 năm nếu được bảo quản lạnh, ở nhiệt độ phòng cũng được 4 - 5 tuần.
Vi rút trong lách lợn được bảo quản sâu (-20 độ C đến -70 độ C) tồn tại từ 82 - 105 tuần, nếu ở 37 độ C được 22 ngày, ở 56 độ C chúng sống tới 180 phút. Trong phân ẩm nhão vi rút tồn tại tới 122 ngày, trong nước tiểu 45 ngày. Tuy nhiên, trong điều kiện axit (pH= 5,3) chúng chỉ tồn tại không quá một phút (99% chết trong 15 - 20 giây). Các chất khử trùng truyền thống như Formol 1,5 - 2%, NaOH 3 - 4%, nước vôi 20% đều có khả năng tiêu diệt vi rút cường độc.
Với hoạt chất Iodine, Benzalkonium, B.S đều có thể sử dụng được trong công tác khử trùng tiêu độc (Alonso C. Hình ảnh vi rút: A. kính hiển vi điện tử, B. sơ đồ vi rút cắt ngang và C.
mặt ngoài Nguồn: Cục thú y (2019) 7 1. Loài mắc bệnh Trong thiên nhiên, có thể những động vật khác cảm nhiễm dịch tả lợn châu Phi nhưng chỉ có lợn biểu hiện lâm sàng. Lợn nhà, lợn rừng ở mọi lứa tuổi đều mắc bệnh. Con đường truyền lây Vi rút dịch tả lợn châu Phi xâm nhập vào cơ thể theo nhiều con đường khác nhau.
Qua đường hô hấp và tiêu hóa. Lây trực tiếp do nhốt chung con bệnh và con khỏe. Lây gián tiếp qua nước tiêu, đất và nước, thức ăn có nhiễm mầm bệnh, thức ăn dư thừa, thú sản, các dụng cụ chăn nuôi, dụng cụ thú y, người chăn nuôi, phương tiện chuyên chở. Một số nguồn lây lan dịch tả lợn châu Phi Nguồn: Cục Thú y (2019) 1.
Cơ chế sinh bệnh Bằng phương pháp gây bệnh thực nghiệm, các nhà khoa học đã chứng minh: chỉ 24h sau khi gây nhiễm đã có thể tái phân lập vi rút ở hạch lâm ba vùng cổ, họng, … 48h ở gan, lách, phổi và sau 3 - 7 ngày có thể phân lập vi rút ở mọi nơi trong cơ thể lợn. Điều đó nói lên rằng ngay sau khi thâm nhập vào cơ thể lợn, vi rút đã tự nhân lên rất nhanh chóng, lùa vào đường huyết và gây nhiễm trùng huyết rất nặng làm lợn sốt cao tới 42oC. Vi rút di trú đến tất 8 cả các cơ quan, tổ chức của cơ thể, tại đó chúng gây ra các ổ viêm xuất huyết, hoại tử. Vì thế, khi xét nghiệm, chúng ta thấy các thành mạch máu bị thoái hóa, xung quanh có rất nhiều bạch cầu đơn nhân tập trung.
Các tổ chức của hạch lâm ba, gan, lách, thận, phổi thay đổi nhanh chóng, các biểu hiện đều thuộc về viêm xuất huyết, hoại tử. Điểm nổi bật và đặc trưng của bệnh dịch tả lợn châu Phi là hiện tượng tan rã nhân bạch cầu, giảm lượng bạch cầu tổng số và bạch cầu ái toan, đồng thời gây tụ huyết nặng làm tắc nghẽn mạch máu ngoại vi gây thâm tím da phần lớn cơ thể. Triệu chứng, bệnh tích của bệnh dịch tả lợn châu Phi 1. Triệu chứng Lợn bị nhiễm bệnh dịch tả lợn châu Phi có nhiều triệu chứng, tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của bệnh.
Lợn bệnh biểu hiện các triệu chứng không khác biệt với triệu chứng của bệnh dịch tả lợn cổ điển. Do đó, việc chẩn đoán bệnh dịch tả lợn châu Phi khó có thể xác định và phân biệt được bằng các triệu chứng lâm sàng, như vậy cần phải lấy mẫu gửi phòng thí nghiệm để xét nghiệm phát hiện vi rút dịch tả lợn châu Phi bằng các phương pháp hiện đại. - Thể quá cấp tính (Peracute) là do vi rút có độc lực cao, lợn sẽ chết nhanh, không biểu hiện triệu chứng hoặc lợn sẽ nằm và sốt cao trước khi chết. - Thể cấp tính (Acute): là do vi rút có độc lực cao gây ra, lợn sốt cao (40,5 - 420C.
Trong 2 - 3 ngày đầu tiên, giảm bạch cầu và giảm tiểu cầu. Lợn không ăn, lười vận động, ủ rũ, nằm chồng đống, lợn thích nằm chỗ có bóng râm hoặc gần nước. Lợn có biểu hiện đau vùng bụng, lưng cong, di chuyển bất thường, một số vùng da trắng chuyển sang màu đỏ, đặc biệt là ở vành tai, đuôi, cẳng chân, da phần dưới vùng ngực và bụng, có thể có màu sẫm xanh tím. Trong 1 - 2 ngày trước khi con vật chế, có triệu chứng thần kinh, di chuyển không vững, nhịp tim nhanh, thở gấp, khó thở hoặc có bọt lẫn máu ở mũi, viêm mắt, nôn mửa, tiêu chảy đôi khi có lẫn máu hoặc có thể táo bón, 9 phân cứng đóng viên có kích thước nhỏ, có chất nhầy và máu.
Lợn sẽ chết trog vòng 6 - 13 hoặc 20 ngày. Lợn mang thai có thể sảy thai ở mọi giai đoạn. Tỷ lệ chết cao lên tới 100%. Lợn khỏi bệnh hoặc nhiễm vi rút thể mãn tính thường không có triệu chứng, nhưng chúng sẽ là vật chủ mang vi rút dịch tả lợn châu Phi trong suốt cuộc đời.
- Thể á cấp tính (Subacute) gây ra bởi vi rút có độc tính trung bình. Chủ yếu được tìm thấy ở châu Âu, lợn biểu hiện triệu chứng không nghiêm trọng. Lợn sốt nhẹ hoặc sốt lúc tăng lúc giảm, giảm ăn sụt cân, ủ rũ, viêm toàn bộ phổi nên khó thở, ho có đờm, phổi có thể bội nhiễm vi khuẩn kế phát, viêm khớp, vận động khó khăn. Bệnh kéo dài 5 - 30 ngày, nếu máu ứ trong tim (cấp tính hoặc suy tim) thì lợn có thể chết, lợn mang thai sẽ sẩy thai, lợn chết trong vòng 15 - 45 ngày tỷ lệ chết khoảng 30 - 70%.
Lợn có thể khỏi hoặc bị bệnh mãn tính (Halasa T. Bệnh tích - Thể cấp tính: Xuất huyết nhiều ở các hạch lympho ở dạ dày, gan và thận. Thận có xuất huyết điểm, lá lách to có nhồi huyết. Da có màu tối và phù nề, da vùng bụng và chân có xuất huyết.
Có nhiều nước xung quanh tim và trong xoang ngực hoặc bụng, có các điểm xuất huyết trên nắp thanh quản, bàng quang và bề mặt các cơ quan bên trong; phù nề trong cấu trúc hạch lâm ba của đại tràng và phần tiếp giáp với túi mật, túi mật sưng. - Thể mãn tính: Có thể gặp sơ cứng phổi hoặc có các ổ hoại tử hạch, hạch phổi sưng, viêm dính màng phổi (Bùi Thị Tố Nga và cs. Chẩn đoán bệnh dịch tả lợn châu Phi Chẩn đoán bệnh là một khâu quan trọng để phát hiện sớm bệnh dịch tả lợn châu Phi. Việc chẩn đoán không phải dễ dàng, lúc nào chúng ta cũng thực hiện được nhanh chóng và chính xác.
Bởi các biểu hiện về triệu chứng lâm sàng, về bệnh tích đại thể và vi thể đối với bệnh dịch tả lợn châu Phi thường có sự biến đổi rất đa dạng.