Chương 1: TÔNG QUAN TÀI LIỆU 1. ĐẠI CƯƠNG VÈ SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE 1. Dịch tễ học: Sốt xuất huyết Dengue là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi rút Dengue gây ra và muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus là trung gian truyền bệnh trong đó muỗi Aedes aegypti là véc tơ truyền bệnh chính. Bệnh có biểu hiện lâm sàng chủ yếu là sốt, thoát huyết tương và xuất huyết với nhiều dạng khác nhau; những thể nặng có sốc do giảm khối lượng máu lưu hành, rối loạn đông máu, suy tạng, nếu không được chẩn đoán sớm và xử trí kịp thời dễ dẫn đến tử vong [1],[9].
Bệnh lưu hành trên 100 nước thuộc các khu vực có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới vùng Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương. Trong 50 năm qua, tỷ lệ mắc sốt xuất huyết Dengue đã tăng lên 30 lần với sự gia tăng các vùng nhiễm mới trong những năm gần đây, từ thành thị đến nông thôn. Ước tính có 50 triệu người nhiễm Dengue hàng năm và khoảng 2,5 tỷ người sống trong các vùng có nguy cơ cao về Dengue [52], 1. Tác nhân gây bệnh: Bệnh do vi rút Dengue gây ra.
Vi rút Dengue thuộc nhóm Flavivirus, họ Flaviviridae với 4 tip huyết thanh DENI, DEN2, DEN3 và DEN4 [2]. Khi vào cơ thể, vi rút nhân lên trong tế bào bạch cầu đơn nhân để gây bệnh [1], [4], Vi rút Dengue có 3 ổ chứa là người, muỗi, một số động vật thuộc nhóm linh trưởng như vượn, hắc tinh tinh. Ở mỗi nước và khu vực có thể gặp cả 4 tip, nhưng trong mỗi vụ dịch tùy theo có tip nổi trội hơn [3], [9]. Thòi kỳ ủ bệnh và lây truyền: Thời kỳ ủ bệnh từ 3 - 14 ngày, trung bình từ 5 - 7 ngày.
Bệnh nhân là nguồn lây bệnh trong thời kỳ có sốt, nhất là 5 ngày đầu của sốt là giai đoạn máu có nhiều vi rút. Muỗi bị nhiễm vi rút thường sau 8-12 ngày sau hút máu có thể truyền bệnh và truyền bệnh suốt đời [3]. Tính cảm nhiễm và sức đề kháng: Mọi người chưa có miễn dịch đặc hiệu đều có thể bị mắc bệnh, từ trẻ sơ sinh cho đến người lớn. Sau khi khỏi bệnh sẽ được miễn dịch suốt đời với tip vi rút 5 Dengue gây bệnh nhưng không được miễn dịch bảo vệ chéo với các tip vi rút khác.
Nếu bị mắc bệnh lần thứ 2 với tip vi rút Dengue khác, có thể bệnh nhân sẽ bị bệnh nặng hơn và dễ xuất hiện sốc Dengue [3], 1. Véc tơ truyền bệnh: Bệnh không lây truyền trực tiếp từ người sang người mà do muỗi đốt người bệnh truyền vi rút qua người lành qua vết đốt. Ở Việt Nam, 2 loài muỗi truyền bệnh SXHD là Aedes aegypti và Aedes albopictus, trong đó quan trọng nhất là Aedes aegypti [3], Aedes aegypti là loài muỗi vằn, có nhiều ở thành phố, thị xã, sống trong nhà và ngoài trời, ưa đốt người, đốt dai (đốt nhiều lần đến khi no), sau khi đốt đậu ở nơi toi, đốt chủ yếu vào ban ngày, bay xa 400m, đậu cao 2m trở xuống. Sinh sản thuận lợi ở những dụng cụ chứa nước nhân tạo gần nhà.
Nhiệt độ thuận lợi cho trứng phát triển là trên 26°c (11 - 18 ngày), ở nhiệt độ cao hơn 32 - 35°c chỉ cần 4-7 ngày [9] Muỗi Aedes aegypti Muỗi Aedes albopictus Hình 1.1: Hình thái muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus 1. Đặc điểm lâm sàng của SXHD: Bệnh SXHD có biểu hiện lâm sàng đa dạng, diễn biến nhanh chóng từ nhẹ đến nặng. Bệnh thường khởi phát đột ngột và diễn biến qua 3 giai đoạmgiai đoạn sốt, giai đoạn nguy hiểm và giai đoạn hồi phục [1], 6 - Giai đoạn sốt: Trong giai đoạn này, bệnh nhân có một số biểu hiện như sốt cao đột ngột và liên tục, da xung huyết, nghiệm pháp dây thắt dương tính, thường có chấm xuất huyết ở dưới da, chảy máu chân răng hoặc chảy máu cam. - Giai đoạn nguy hiểm: Thường vào ngày thứ 3-7 của bệnh.
Người bệnh có thể còn sốt hoặc đã giảm sốt, có thể có các biểu hiện như sau: thoát huyết tương do tăng tính thấm của thành mạch, xuất huyết dưới da, xuất huyết niêm mạc, xuất huyết nội tạng. Một số trường họp nặng có thể có biểu hiện suy tạng như viêm gan nặng, viêm não, viêm cơ tim. Những biểu hiện nặng này có thể xảy ra ở một số người bệnh không có dấu hiệu thoát huyết tương rõ hoặc không sốc. - Giai đoạn hồi phục: Sau 24 - 48 giờ của giai đoạn nguy hiểm, có hiện tượng tái hấp thu dần dịch từ mô kẽ vào bên trong lòng mạch.
Giai đoạn này kéo dài 48 - 72 giờ. Người bệnh hết sốt, toàn trạng tốt lên, thèm ăn, huyết động ổn định và tiểu nhiều. Chẩn đoán: Bệnh SXHD được chia làm 3 mức độ (theo WHO năm 2009) SXH Dengue, SXH Dengue có dấu hiệu cảnh báo, SXH Dengue nặng [1]. Chẩn đoán căn nguyên vi rút Dengue: a.
Xét nghiệm huyết thanh: - Xét nghiệm nhanh: - Tìm kháng nguyên NS1 trong 5 ngày đầu của bệnh. - Tìm kháng thể IgM từ ngày thứ 5 trở đi. - Xét nghiệm ELISA: - Tìm kháng thể IgM: xét nghiệm từ ngày thứ 5 của bệnh. - Tìm kháng thể IgG: lấy máu 2 lần cách nhau 1 tuần tìm động lực kháng thể (gấp 4 lần).
Xét nghiệm PCR, phân lập vỉ rút: Lấy máu trong giai đoạn sốt, thực hiện ở những cơ sở xét nghiệm có điều kiện. Điều trị bệnh: Điều trị bệnh SXHD được tiến hành theo hướng dẫn tại Quyết định 458/ QĐ - BYT ngày 16 tháng 2 năm 2011 của Bộ Y tế - Điều trị sốt xuất huyết Dengue: Phần lớn các trường hợp đều được điều trị ngoại trú và theo dõi tại y tế cơ sở, chủ yếu là điều trị triệu chứng và phải theo dõi chặt chẽ, phát hiện sớm sốc xảy ra để xử trí kịp thời. - Điều trị SXHD có dấu hiệu cảnh báo: Người bệnh được cho nhập viện điều trị. Nên xem xét truyền dịch nếu người bệnh không uống được, nôn nhiều, có dấu hiệu mất nước, lừ đừ.
- Điều trị SXHD nặng: Người bệnh phải được nhập viện điều trị cấp cứu. Giám sát và thống kê báo cáo thường kỳ: - Hoạt động giám sát, thống kê báo cáo bệnh SXHD thực hiện theo thông tư số 48/2010/ TT- BYT ngày 31/ 12/2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế. - Những thông tin về bệnh SXHD trong giám sát, báo cáo thường kỳ: cần thu thập những thông tin về tình hình bệnh nhân trong cộng đồng và những bệnh nhân được tiếp nhận khám và điều trị tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập và tư nhân bao gồm số lượng mắc, chết, tên địa phương có ca bệnh, thời gian mắc bệnh, tổng số dân và số trẻ dười 15 tuổi. - Mầu báo cáo: Theo mẫu báo cáo kèm theo thông tư số 48/2010/TT -BYT ngày 31/12/2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế và các biểu mẫu báo cáo riêng của Chương trình Phòng chống SXH quốc gia.
- Thời gian gửi báo cáo: Thực hiện theo Thông tư số 48/2010/TT -BYT ngày 31/12/2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế và theo qui định cụ thể theo từng mẫu báo cáo điều tra. Khi có tử vong do SXHD tại tỉnh, Trung tâm YTDP tỉnh có trách nhiệm thu thập thông tin đầy đủ theo mẫu “Phiếu điều tra tử vong do SXHD” và gửi ngay về Cục Y tế dự phòng, Viện VSDT? Pasteur và tỉnh liên quan (trong trường họp ca tử vong ngoại tỉnh). Giám sát và thống kê báo cáo trọng điểm: a. Chọn cơ sở giám sát trọng điểm: * Tuyến khu vực: Mỗi khu vực chọn 2 điểm giám sát trọng điểm, riêng Tây Nguyên chọn 1 điểm.
Mỗi điểm giám sát gồm 1 bệnh viện tuyến quận/ huyện/ thị xã và 1 xã/ phường (không phải là xã/ phường điểm của tỉnh). * Tuyến tỉnh: * Điểm giám sát tại bệnh viện: mỗi tỉnh chọn 1 điểm giám sát (01 bệnh viện tuyến huyện), số lượng điểm giám sát có thể mở rộng tuỳ theo khả năng của từng tỉnh. * Điểm giám sát cộng đồng: Mỗi tỉnh thực hiện giám sát điểm tại cộng đồng theo tỷ lệ phần trăm sổ xã/ phường điểm được qui định cụ thể trong kế hoạch hoạt động hàng năm. Nội dung giám sát trọng điểm: - Tại bệnh viện: phát hiện, báo cáo điều tra, lấy mẫu và xét nghiệm tất cả các ca bệnh đến khám hoặc nhập viện theo định nghĩa ca bệnh giám sát.
Báo cáo theo mẫu phiếu điều tra bệnh nhân. - Tại cộng đồng: Giám sát bệnh nhân, giám sát véc tơ, giám sát huyết thanh. LỊCH SỬ VÀ TÌNH HÌNH SỐT XUẤT HUYẾT : 1. Lịch sử và tình hình sốt xuất huyết Dengue trên thế giói: Trận dịch đầu tiên được xác định do vi rút Dengue gây ra được Benjamin Rush mô tả vào năm 1780 ở Philadelphia, Pennsylvania.
Sau đó các trận dịch xảy ra trong thế kỷ 18 đến thế kỷ 20 ở bờ biển Đại Tây Dương của Mỹ và Nam Mỹ, đảo Caribe và lưu vực sông Mississippi [25]. Từ năm 1954 đến 1970 dịch sốt xuất huyết Dengue xuất hiện chủ yếu ở Đông Nam Á, từ năm 1971 dịch lan ra thêm một số đảo ở Nam Thái Bình Dương và đến năm 1981 đã bùng ra vụ dịch đầu tiên ở Cuba [8]. ở châu Á, năm 1953 một vụ dịch SXHD xảy ra ở Philippin, năm 1958, một vụ dịch tương tự xảy ra ở Thái Lan và căn nguyên gây bệnh là vi rút Dengue đã được xác định [14]. Trước năm 1970 chỉ có 9 quốc gia có dịch sốt xuất huyết xảy ra, đến nay bệnh sốt xuất huyết đã lan rộng ra trên 100 quốc gia ở châu Phi, châu 9 Mỹ, Đông Địa Trung Hải, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương.
Khu vực Đông Nam Á và khu vực Tây Thái Bình Dương bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất [55]. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ước tính, có 50 triệu người nhiễm Dengue hàng năm và khoảng 2,5 tỷ người sống trong vùng có nguy cơ cao, 70% trong số này (khoảng 1,8 tỷ người) sống ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương [52], [55]. Theo báo cáo của WHO, trong năm 2008, khu vực châu Mỹ, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương có hơn 1,2 triệu người mắc bệnh sốt xuất huyết, con số này vào năm 2010 là hơn 2,2 triệu người[55]. Những báo cáo của WHO Western Pacific Region Office(WRPO) cũng cho thấy, tình hình sốt xuất huyết Dengue ngày càng gia tăng.
Sau vụ dịch lớn vào năm 1998, số mắc sốt xuất huyết tại các nước Châu Á - Thái Bình Dương ngày càng tăng. Trong giai đoạn 2001 - 2002, mỗi năm khu vực này có khoảng 100.000 người mắc sốt xuất huyết. Con số này tăng lên 150000 - 170000 trường hợp vào giai đoạn 2003 - 2006.