CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình SD/SXHD trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình SD/SXHD trên thế giói Địch sốt dengue (SD) được biết đến cách đây ba thế kỷ ở các khu vực có khí hậu nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới. Trước đó đã có một bệnh tương tự như SD được ghi nhận ở Trung Quốc vào khoảng đầu năm 992 sau công nguyên và sau đó là năm 1635 ở những vùng Tây Án Độ thuộc Pháp.
Năm 1780, có tác giả đã mô tả bệnh “Sốt gãy xương” ở Philadelphia có thế chính là SD. Trong thế kỷ 18,19 và đầu thế kỷ 20 đã xảy ra những vụ dịch của các bệnh tương tự như SD ở các khu vục có khí hậu nhiệt đới và một số vùng có khí hậu ôn đới. Vụ dịch đầu tiên được khẳng định là SXHD (SXHD) được ghi nhận tại Philippine vào năm 1953-1954 [13], Số ca mắc SD/SXHD trên thế giới có xu hướng ngày càng gia tăng trong những thập niên gần đây. Khoảng 2,5 tỳ người tương đương 2/5 dân số toàn thế giới có nguy cơ mắc dengue.
Tổ chức y tế thế giới (WHO) ước tính có khoảng 50 triệu trường hợp nhiễm dengue trên thế giới mỗi năm. Chỉ riêng năm 2007 đã có hơn 890 nghìn trường hợp nhiễm dengue được báo cáo từ Mỹ trong đó 26 nghìn là SXHD. Hiện nay hơn 100 nước trên thế giới có dịch lưu hành trong đó Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương là những vùng chịu ảnh hường nặng nề nhất. Trước năm 1970 chỉ có 9 nước có dịch, số lượng này đã tăng hơn 4 lần vào năm 1995.
Không chì số ca bệnh tăng, bệnh lan ra vùng mới mà dịch bùng phát đã sảy ra. Năm 2007, Venezuela báo cáo hơn 80 nghìn trường hợp với 6 nghìn trường hợp SXHD [23].Tình hình SD/SXHD tại Việt Nam SXHD được phát hiện ở Việt nam từ năm 1959. Những năm đầu SXHD chi xuất hiện ớ một vài địa phương với các ổ dịch nhỏ, số người mắc bệnh ít, tỷ lệ tử vong cao. Nhưng vê sau, dịch càng lan rộng, với số người mắc bệnh ngày càng nhiều.
Đình cao là các năm 1983. 1987 với qui mô toàn quốc. Tỳ lệ mắc bệnh chung cho cả nước từ 41,02 (1981) đến 462,24/100. Do công tác điều trị đã đạt được nhiều tiến bộ nên tỳ lệ tử vong giảm từ 2,7 (1983) xuống còn 0,16 (1994) /100.
Tỷ lệ mắc bệnh giữa các năm và giữa các miền dao động rất khác nhau, tỷ lệ mắc bệnh ở miền Trung và miền Nam thường cao hon nhiều lần so với miền Bắc. Kết quả theo dõi những năm cỏ dịch lớn (1983, 1987, 1991) cho thấy miền Nam có 87,2% số huyện thị xuất hiện bệnh, tỷ lệ này ở miền Trung là 58,7%, miền Bắc là 59,5%, Tây nguyên chỉ có 29. Kết quả khảo sát những vùng này đều thấy sự hiện diện của Aedes aegypti với mật độ cao. Càng về sau, bệnh tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Trung và Nam.
Năm 1995-1996, tỷ lệ mắc bệnh ở miền Nam chiếm 66-67% so với 2-3% ở miền Bắc. SXHD phát triển theo mùa rõ rệt. Tính tần sổ mắc trung bình hàng tháng trong 5 năm (1991-1995) cho thấy bệnh xảy ra suốt năm. Tuy nhiên, dịch thường bùng phát mạnh vào mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 10 và đỉnh cao thường vào tháng 8.
Giám sát biến dộng biến động mật độ muỗi Aedes aegypti cho thấy sự tăng các ca bệnh trong mùa mưa phù hợp với sự gia tăng mật độ muỗi Aedes aegypti [6]. Trước năm 1990, bệnh SD/SXHD mang tính chất chu kỳ tương đối rõ nét, với khoang cách trung bình 3-4 năm. Sau năm 1990, bệnh xảy ra liên tục với cường độ và qui mô ngày một gia tăng. Vụ dịch lớn gần đây nhất xảy ra vào năm 1998 ở 56/61 tỉnh thành phố với số mắc 234.920 trường hợp và 377 trường hợp tử vong, tỷ lệ mắc là 306,3 trường hợp/100.
tỷ lệ chết/mắc là 0,19%. Giai đoạn từ năm 1999 - 2003, số mắc trung bình hàng năm đã giảm đi chỉ còn 36.826 trường hợp và số tử vong là 66 trường hợp. Tuy nhiên trong vòng 3 năm từ 2004 - 2006 số mắc và số tử vong vì SD/SXHD có xu hướng gia tăng. Năm 2006 cả nước đã ghi nhận 77.818 trường hợp mắc SD/SXHD, trong đó 68 ca tử vong, tỷ lệ mắc 88,6 trường hợp/100.000 dân và tỷ lệ chết/mắc là 0,09% [3].
Tình hình mắc và chết SD/SXHD ở Việt Nam, 1996 - 2008 Tỷ lệ Tỷ lệ chết/mắc Năm Số mắc Số chết mắc/100.13 Tình hình SD/SXHD tại Hờ Nội (cũ) Tình hình SD/SXHD trên địa bàn Hà Nội có chiều hướng gia tăng mạnh, năm 2007 ghi nhận 1.000 dân, giảm 28% so với 2006 nhung tỷ lệ mắc trên 100.000 dân tăng hơn 2 lần giai đoạn 10 năm (1996-2006).000 dân, tăng 18% so với 2007. Bệnh nhân phân bố cả 14/14 quận huyện, 170/232 xã phường, trong đó tập trung chủ yếu tại khu vực nội thành với 122/128 phường. Tổng số bệnh nhân của 5 quận trọng điếm bao gồm Hoàn Kiếm, Hoàng Mai, Đống Đa, Thanh Xuân, Hai Bà Trưng chiếm 73,6% so với số mắc toàn thành phố [15], [14], 1.2 Đặc điểm dịch tễ học SD/SXHD Tác nhân gây bệnh: Vi rút gây bệnh SD/SXHD do côn trùng truyền nên gọi là vi rút Arbo thuộc nhóm Flaviviridae với 4 týp huyết thanh 1, 2, 3, 4. Khi vào cơ thể, vi rút nhân lên trong tế bào bạch cầu đơn nhân để gây bệnh.
7 Thòi kỳ ú bệnh và lây truyền: Thời kỳ ủ bệnh từ 3-14 ngày. Thông thường từ 5-7 ngày. Bệnh nhân là nguồn lây bệnh trong thời kỳ có sốt, nhất là 5 ngày đầu của sốt là giai đoạn trong máu có nhiều vi rút. Muỗi bị nhiễm vi rút từ 8-12 ngày sau khi hút máu và có thể truyền bệnh suốt đời.
Tính cảm nhiễm và sức đề kháng: Mọi người chưa có miễn dịch đặc hiệu đều có thể bị mắc bệnh. Trẻ em dễ bị nhiễm hon với bệnh cảnh thường nhẹ hơn người lớn. Sau khi khỏi bệnh sẽ được miền dịch suốt đời với týp vi rút dengue gây bệnh nhưng không được miễn dịch đầy đủ với các týp vi rút khác. Nếu bị mắc bệnh lần thứ hai với týp vi rút dengue khác, có thể bệnh nhân sẽ bị bệnh nặng hơn và dễ xuất hiện sốc dengue.
Véc to’ truyền bệnh: Bệnh không lây truyền trực tiếp từ người sang người mà do muỗi đốt người bệnh rồi truyền vi rút sang người lành qua vết đốt. Ở Việt Nam, hai loài muồi truyền bệnh SD/SXHD là Aedes aegypti và Aedes albopictus, trong đó quan trọng nhất là Aedes aegypti. Nguồn bệnh và khối cảm thụ Tất cả mọi người đều có khà năng mắc bệnh SD/SXHD và người là vật chủ duy nhất với sự nhiễm đa dạng, từ nhiễm thể ẩn không triệu chứng đen có biểu hiện lâm sàng nhẹ hoặc tình trạng xuất huyết nặng, sốc và tử vong [1], Sau khi nhiễm với týp dengue nào thì có miễn dịch lâu dài với týp dengue đó nhưng chì bảo vệ được một phần và tạm thời với 3 tip còn lại. Khả năng truyền vi rút sang người lành được thực hiện khi muồi hút máu bệnh nhân ờ giai đoạn vi rút huyết (từ 6-18 giờ trước đến khoảng 5 ngày sau khi bệnh khởi phát).
Như vậy bệnh nhân là nguồn lây ngay trước thời kỳ sốt cho đến cuối giai đoạn sốt, trung bình 6 -7 ngày. Bên cạnh bệnh nhân, những người nhiễm vi rút nhưng không có biểu hiện lâm sàng cũng là một nguồn lây bệnh đáng chú ý [1].14 Biện pháp phòng chống Việc phòng chống SD/SXHD tập trung giải quyết các khâu cơ bản sau: - Phát hiện, chẩn đoán và điều trị SD/SXHD. - Nghiên cứu vắc xin dự phòng 8 - Phòng chống véc tơ truyền bệnh. Cho đến nay, vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu cho SD/SXHD.
Mặc dù đã có những vắc xin hiệu quả với cả 4 týp vi rút đang được thử nghiệm, phải mất một thời gian dài nữa mới có thề đưa vắc xin vào sử dụng trong y tế công cộng. Tuy nhiên khi đó vắc xin cũng chỉ bổ sung chứ không thể thay thế được các biện pháp phòng chống hiện hành. Vì vậy hiện tại biện pháp duy nhất có hiệu quả để phòng chống SD/SXHD là phòng chống véc tơ [13].15 Vai trò của cộng đồng trong phòng chống SD/SXHD. Sự tham gia của cộng đồng có tác dụng rất lớn trong khi thực hiện các chương trình phòng chống các bệnh có véc tơ truyền bệnh trong đó có SD/SXHD.
cần nâng cao trinh độ nhận thức của người dân về sự nguy hiểm của SD/SXHD, làm cho cộng đồng thay rõ họ là chù nhân cùa các ổ bọ gậy (BG) muồi truyền bệnh, họ có vai trò quan trọng trong việc làm giảm tỷ lệ mắc bệnh và phòng chống véc tơ. Cung cấp cho cộng đồng biết lợi ích và thành công có thể đạt được, khuyến khích sự tham gia tích cực cúa cộng đồng[24] WHO đã khuyến cáo. huy động sự tham gia của cộng đồng là biện pháp phòng chổng SD/SXHD hiệu quả. Sự tham gia của cộng đồng được định nghĩa là "một quá trình trong đó môi cá nhân, moi gia đĩnh và toàn thể cộng đồng đểu tham gia vào việc lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch đám bảo rằng những hoạt động đó đáp ứng đúng những nhu cầu và ưu tiên của cộng đồng, khuyến khích sự chủ động của cộng đồng trong quả trình phát triển”.
Mục đích của sự tham gia của cộng đồng trong công tác phòng chống SD/SXHD là để: - Mơ rộng hoạt động cúa chương trinh tới toàn thể cộng đồng bằng việc nâng cao nhận thức của cộng đồng. - Thực hiện chương trình hiệu quả hơn, ít tốn kém hơn với sự phối hợp chặt chẽ hơn các nguồn lực, các hoạt động và nỗ lực của cả cộng đồng. 9 - Thực hiện chương trình hiệu quả hơn qua việc tập trung nỗ lực của cả cộng đồng lập ra mục tiêu và chiến lược hoạt động. - Thúc đấy sự công bằng qua việc chia sẻ trách nhiệm và đoàn kết, thống nhất giải quyết những vấn đề có nhu cầu lớn nhất và nguy cơ cao nhất.
- Thúc đẩy sự độc lập, tự chủ, tăng cường trách nhiệm của các thành viên cộng đồng trong việc tự bảo vệ sức khỏe và số phận của chính họ [13].16 Mô hình phòng chống SD/SXHD dựa vào cộng đồng ờ Việt Nam - Sự cần thiết, vai trò, nhiệm vụ của CTV trong mô hình. Mô hình phòng chống SD/SXHD dựa vào cộng đồng đã được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới trên cơ sở chiến lược toàn cầu được đưa ra bởi WHO. Ờ Bucaramanga, Colombia, học sinh phổ thông được huấn luyện về đặc điểm của Aedes.