Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Côn trùng học (mã số 942 01 06) của tác giả Đào Minh Trang, với tiêu đề "Nghiên cứu lan truyền sốt rét dai dẳng liên quan đến muỗi truyền bệnh sốt rét và hiệu lực của nến có transfluthrin xua diệt muỗi ở huyện Khánh Vĩnh tỉnh Khánh Hòa (2016 - 2019)", được thực hiện tại Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Vũ Đức Chính và TS. Trương Văn Hạnh. Công trình tập trung giải quyết hiện tượng dịch tễ học và côn trùng học thực địa tại khu vực miền núi Nam Trung Bộ.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2018) ghi nhận toàn cầu có 228 triệu ca mắc sốt rét và khoảng 438.000 ca tử vong. Tại tiểu vùng sông Mekong (GMS) và Việt Nam, các can thiệp phòng chống véc tơ chủ yếu dựa vào màn tẩm hóa chất tồn lưu lâu (LLINs) và phun tồn lưu trong nhà (IRS). Mặc dù số ca bệnh giảm sâu, một số ca bệnh vẫn tiếp tục xuất hiện cục bộ ngay cả khi độ bao phủ can thiệp đạt mức cao. Hiện tượng này được định nghĩa là sự lan truyền sốt rét dai dẳng (Residual Malaria Transmission - RMT). Khoảng trống nghiên cứu then chốt xuất phát từ sự tương tác giữa tập tính sinh học của muỗi truyền bệnh và tập quán sinh hoạt của con người: loài véc tơ chính Anopheles dirus có tập tính hoạt động đốt mồi sớm ngay từ chập tối (18 - 22 giờ chiếm khoảng 50% lượng muỗi bắt được cả đêm), ưa đốt mồi ngoài nhà và trú đậu ngoài tự nhiên; trong khi đó, người dân địa phương thường xuyên đi rừng, ngủ rẫy và tiến hành các sinh hoạt ban tối ngoài trời hoặc trong nhà rẫy tạm bợ trước giờ ngủ. Do đó, các biện pháp màn tẩm hay võng tẩm chỉ phát huy hiệu quả khi người dân đã ở bên trong màn, tạo ra một khoảng trống bảo vệ cá nhân vào đầu đêm khi người dân đang lao động và sinh hoạt.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm 2 nội dung chính:

  1. Mô tả các yếu tố lan truyền sốt rét dai dẳng liên quan đến muỗi truyền bệnh sốt rét tại xã Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa.
  2. Đánh giá hiệu lực, tác dụng không mong muốn của nến có transfluthrin xua diệt muỗi tại phòng thí nghiệm và thực địa.

Đối tượng nghiên cứu bao gồm:

  • Các loài muỗi Anopheles và các loài ký sinh trùng sốt rét (Plasmodium) nhiễm ở muỗi tại thực địa.
  • Các loài ký sinh trùng sốt rét nhiễm ở người tại địa bàn nghiên cứu.
  • Người dân sinh sống, lao động tại xã Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa.
  • Chế phẩm nến xua diệt muỗi chứa hoạt chất transfluthrin ở các nồng độ thử nghiệm.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Không gian: Địa bàn thực địa tại xã Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa (gồm 2 thôn Bố Lang và Giang Biên, trải rộng trên 3 sinh cảnh: khu dân cư trong thôn, khu vực rẫy và rừng); hệ thống phòng thí nghiệm tại Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương (Hà Nội).
  • Thời gian: Nghiên cứu thực hiện trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2019 (trong đó các đợt điều tra dịch tễ cắt ngang, côn trùng học và khảo sát hành vi tại thực địa diễn ra vào các tháng 7, 10 và 12 năm 2016; các thử nghiệm sinh học nến xua diệt muỗi được hoàn thành trong giai đoạn 2016 - 2019).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan hệ thống lịch sử nghiên cứu dịch tễ học sốt rét, khu hệ véc tơ và các biện pháp can thiệp hóa học trên thế giới và tại Việt Nam. Về mặt dịch tễ, tác giả điểm lại các giai đoạn chuyển dịch chiến lược từ chương trình tiêu diệt sốt rét (Global Malaria Eradication Programme 1955), chuyển hướng sang chiến lược phòng chống sốt rét toàn cầu năm 1992 và chiến lược loại trừ sốt rét năm 2007 của WHO. Tại Việt Nam, sau vụ dịch lớn năm 1991 (toàn quốc ghi nhận 144 vụ dịch, 4.646 ca tử vong và hơn 1 triệu ca mắc), chương trình phòng chống sốt rét quốc gia đã kiểm soát dịch bệnh thành công. Tuy nhiên, số liệu giai đoạn 2016 - 2020 cho thấy bệnh vẫn lưu hành cục bộ tại một số tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Trong 10 tỉnh có số lượng ký sinh trùng sốt rét trung bình năm cao nhất cả nước giai đoạn này, tỉnh Khánh Hòa đứng thứ 6 với trung bình 163 ca/năm.

Bảng: Danh sách 10 tỉnh có số ký sinh trùng sốt rét trung bình năm cao nhất cả nước giai đoạn 2016 - 2020 (Nguồn: Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương)

Thứ tự Tỉnh 2016 2017 2018 2019 2020 Trung bình
1 Gia Lai 569 842 1101 1763 586 972
2 Bình Phước 1100 1352 1243 330 126 832
3 Đắk Lắk 209 525 768 648 123 455
4 Phú Yên 102 68 324 673 146 263
5 Đắk Nông 200 262 218 126 54 172
6 Khánh Hòa 422 144 125 95 30 163
7 Bình Thuận 111 100 102 307 74 139
8 Lâm Đồng 106 149 175 188 44 132
9 Ninh Thuận 272 164 33 53 6 106
10 Quảng Trị 46 245 93 72 6 92

Về khu hệ véc tơ, tác giả tổng hợp tài liệu từ các công trình nghiên cứu phân bố muỗi Anopheles tại Việt Nam từ đầu thế kỷ 20: Laveran (1901 - 1904), Bonet (1906), Mesnard (1934), Farinaud (1938), Nguyễn Thượng Hiền (1968 với 43 loài ở miền Nam), Santana (1967), Parish (1969), Holway (1970), Nguyễn Đức Mạnh (1988), Nguyễn Đức Mạnh và Trần Đức Hinh (2002 xác định trên 60 loài), Hồ Đình Trung (2005 xác định 59 loài), Bảng định loại của Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương (2008 công bố 63 loài). Các véc tơ chính được xác định gồm An. minimus, An. dirus, An. epiroticus; các véc tơ phụ gồm An. maculatus, An. jeyporiensis, An. aconitus, An. vagus, An. subpictus, An. sundaicus. Trong phức hợp loài, An. dirus thuộc phức hợp Dirus gồm 8 loài đồng hình, trong khi An. minimus thuộc phức hợp Minimus gồm 3 loài đồng hình.

Tổng quan về tập tính và vai trò truyền bệnh của các véc tơ:

  • Anopheles dirus: Các tác giả Aung và cộng sự (1999 tại Myanmar), Das và cộng sự (2007 tại Ấn Độ), Tainchum và cộng sự (2014 tại Thái Lan), Nguyễn Sơn Hải và cộng sự (2003 tại Khánh Phú, Khánh Hòa), Trương Văn Có và cộng sự (2001 - 2003 tại Vân Canh, Bình Định) chứng minh loài này có ái tính hút máu người rất cao (tỷ lệ đốt người/động vật đạt từ 6/1 đến 11/1). Về tập tính đốt mồi, muỗi hoạt động sớm từ 17 - 18 giờ và duy trì suốt đêm, đỉnh đốt mồi rơi vào khoảng 20 - 24 giờ. Về nơi trú đậu, các nghiên cứu của Vũ Thị Phan (1973 tại Quỳnh Lưu, Nghệ An), Vũ Đức Chính (2011), Thái Khắc Nam và cộng sự (2017) khẳng định An. dirus trú đậu và tiêu máu ngoài nhà trong các bụi cây, hốc đất, không đậu trong nhà ban ngày. Về vai trò truyền bệnh, mổ thoa trùng tại Khánh Vĩnh (1993 - 1995) ghi nhận tỷ lệ nhiễm 3,98%, tháng 2/2004 đạt 4,5%; Maeno và cộng sự (2015, 2017) dùng kỹ thuật PCR xác định An. dirus tại Khánh Phú mang P. falciparum, P. vivax và P. knowlesi.
  • Anopheles minimus: Các công trình của Dev và cộng sự (2003), Garros và cộng sự (2006), Lê Khánh Thuận và cộng sự (2001), Vũ Việt Hưng và cộng sự (2014, 2017), Bùi Lê Duy và cộng sự (2015) ghi nhận loài này ưa đốt người trong nhà lẫn ngoài nhà, có tập tính trú đậu trong nhà nhưng có sự thay đổi tránh hóa chất sau nhiều năm phun tồn lưu DDT và pyrethroid.
  • Anopheles maculatus: Nghiên cứu của Irfanul Chakim và cộng sự (2019), Nguyễn Thị Hương Bình (2009), Bùi Lê Duy và cộng sự (2015), Đào Minh Trang (2021 tại Lai Châu) xác định đây là loài ưa đốt máu gia súc hơn người, chủ yếu trú đậu ngoài nhà, đóng vai trò véc tơ phụ ở Việt Nam.

Về tình hình kháng hóa chất, tác giả điểm lại các nghiên cứu quốc tế và trong nước: đột biến gen kdr (L1014S, L1014F) và Ace1 (G119S), cơ chế kháng chuyển hóa qua enzym monoxygenase và esterase. Tại Việt Nam, Nguyễn Thị Anh và cộng sự (2019) thống kê An. dirus có hiện tượng kháng alphacypermethrin và lambdacyhalothrin tại một số điểm ở Ninh Thuận, Khánh Hòa; tuy nhiên tại xã Sơn Thái (Khánh Vĩnh), báo cáo giám sát 2013 - 2018 cho thấy An. maculatus vẫn nhạy cảm với lambdacyhalothrin và alphacypermethrin (tỷ lệ chết 98 - 100%).

Về các biện pháp phòng chống véc tơ, luận án phân tích hiệu lực và hạn chế của IRS (DDT, alphacypermethrin, lambdacyhalothrin, deltamethrin), LLINs (PermaNet 2.0, PermaNet 3.0, Olyset Plus, Yorkool), các sản phẩm bảo vệ cá nhân như kem xua DEET (Kweka 2012), hương xua chứa d-allethrin, metofluthrin (Sheila B Ogoma 2012, Bùi Lê Duy 2017). Đối với nến xua muỗi chứa hoạt chất bốc hơi transfluthrin (nhóm pyrethroid thế hệ mới không bị phân hủy bởi enzym Cytochrome P450), các nghiên cứu của hãng Bayer và thử nghiệm của Vũ Đức Chính và cộng sự (2016 tại Bến Tre) cho thấy hiệu lực xua diệt muỗi An. epiroticus đạt 71,92% và nhận được sự chấp thuận cao của cộng đồng (98%).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Làm rõ bản chất của hiện tượng lan truyền sốt rét dai dẳng tại điểm nóng xã Sơn Thái thông qua phân tích đồng thời tập tính sinh học của véc tơ (An. dirus), đặc điểm nơi ở và thói quen di chuyển không gian của người ngủ rẫy (bằng công nghệ GPS); đồng thời kiểm chứng thực nghiệm giải pháp can thiệp bổ sung bằng nến transfluthrin nhằm bảo vệ người dân trong khung giờ hoạt động buổi tối ngoài nhà rẫy.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng các khái niệm và khung phân tích chuẩn tắc của dịch tễ học và côn trùng học y học:

  • Khái niệm Lan truyền sốt rét dai dẳng (Residual Malaria Transmission - RMT): Là sự lan truyền ký sinh trùng sốt rét vẫn duy trì sau khi đã đạt được độ bao phủ phổ quát bằng các biện pháp phòng chống véc tơ truyền thống (LLINs, IRS) đạt chuẩn chất lượng.
  • Các chỉ số côn trùng học: Mật độ muỗi đốt người (con/người/đêm hoặc con/người/giờ); Chỉ số lan truyền côn trùng (Entomological Inoculation Rate - EIR); Năng lực truyền bệnh (Vectorial Capacity - VC); Thời gian gây ngã gục 50% và 95% cá thể (Knock-down times - KT50, KT95); Tỷ lệ muỗi chết sau 24 giờ nuôi phục hồi.
  • Phân định sinh cảnh nghiên cứu: Sinh cảnh thôn/khu dân cư (nhà ở cố định); Sinh cảnh rẫy (khu vực canh tác sát rừng hoặc xen kẽ rừng, có nhà chòi rẫy); Sinh cảnh rừng (rừng tự nhiên nhiều tầng tán).

Thiết kế nghiên cứu và cỡ mẫu:

  • Điều tra cắt ngang dịch tễ học: Cỡ mẫu người được tính theo công thức ước tính một tỷ lệ trong quần thể với độ chính xác tuyệt đối: $$n = Z^2_{1-\alpha/2} \frac{p(1-p)}{d^2}$$ Với mức ý nghĩa $\alpha = 0,05$ ($Z = 1,96$), tỷ lệ nhiễm dự đoán $p = 0,07$, sai số tuyệt đối $d = 0,02$, tính ra cỡ mẫu là 625 người; cộng thêm 10% dự phòng, tổng cỡ mẫu đạt 700 người (thuộc 350 hộ gia đình, chọn ngẫu nhiên 2 người/hộ). Tiến hành lấy lam máu nhuộm Giemsa soi kính hiển vi và thu thập mẫu máu thấm trên giấy lọc Whatman để xét nghiệm sinh học phân tử bằng kỹ thuật PCR.
  • Điều tra côn trùng học: Thu thập toàn bộ muỗi Anopheles qua 3 đợt điều tra (tháng 7, tháng 10 và tháng 12 năm 2016) tại 3 sinh cảnh:
    • Trong thôn: Phương pháp mồi người trong nhà và ngoài nhà (18:00 - 06:00), soi chuồng gia súc ban đêm (19:00 - 23:00).
    • Trong rẫy: Mồi người trong nhà rẫy và ngoài nhà rẫy (18:00 - 06:00).
    • Trong rừng: Mồi người ngoài nhà trong rừng (18:00 - 06:00; riêng đợt tháng 12 mở rộng bắt mồi từ 16:00 - 06:00).
  • Điều tra quan sát hành vi và môi trường: Khảo sát cấu trúc nhà và tình trạng buông màn tại 105 hộ trong khu dân cư (35 hộ/đợt x 3 đợt) và toàn bộ 9 nhà rẫy đang có người ở xung quanh điểm điều tra; quan sát hoạt động ngoài nhà định giờ (18:00 - 05:00) trên 5 tuyến đường giao thông liên thôn/rẫy.
  • Giám sát di chuyển bằng máy định vị GPS: Chọn chủ đích 80 lượt người có tiền sử mắc sốt rét nhiều lần trong 5 năm gần nhất và có tập quán đi rừng ngủ rẫy. Thiết bị GPS đeo theo người ghi nhận tọa độ trong 5 ngày liên tục, dữ liệu được kết xuất qua phần mềm @trip và đối chiếu trên nền tảng bản đồ Google Maps.
  • Phương pháp thử nghiệm hiệu lực nến transfluthrin:
    • Tại phòng thí nghiệm: Thử nghiệm trong buồng kính kích thước $70\text{ cm} \times 70\text{ cm} \times 70\text{ cm}$ để đánh giá tỷ lệ ngã gục ($KT_{50}, KT_{95}$) trên muỗi An. dirus và An. minimus ở 4 dải nồng độ hóa chất. Đánh giá hiệu lực hạ gục và diệt chết sau 24 giờ của nến chứa transfluthrin 0,04% trong buồng Peet Grady tiêu chuẩn ($1,8\text{ m} \times 1,8\text{ m} \times 1,8\text{ m}$) theo các mốc thời gian đốt.
    • Tại thực địa: Thử nghiệm theo thiết kế ma trận hoán vị tại các nhà rẫy xã Sơn Thái, bố trí các cặp mồi người trong nhà và ngoài nhà giữa lô can thiệp (đốt nến xua transfluthrin) và lô đối chứng (không đốt nến hoặc nến trắng không hoạt chất) nhằm xác định hiệu lực bảo vệ cá nhân chống muỗi An. dirus.
    • Khảo sát an toàn: Phỏng vấn trực tiếp người tham gia thử nghiệm và các chủ hộ sử dụng nến bằng bộ câu hỏi cấu trúc về các triệu chứng kích ứng da, mắt, hô hấp và mức độ hài lòng, chấp nhận sản phẩm.
  • Xử lý số liệu: Số liệu dịch tễ và côn trùng học được làm sạch, nhập liệu và phân tích thống kê; so sánh các tỷ lệ bằng kiểm định Chi-bình phương ($\chi^2$), so sánh mật độ muỗi trung bình và chỉ số bảo vệ cá nhân. Nghiên cứu được thông qua hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương này trình bày hệ thống cơ sở dữ liệu về gánh nặng sốt rét toàn cầu, khu vực và Việt Nam; vị trí dịch tễ của huyện Khánh Vĩnh và xã Sơn Thái; phân loại học, tập tính sinh học của các loài véc tơ chính (An. dirus, An. minimus) và phụ (An. maculatus); thực trạng kháng hóa chất diệt côn trùng; các công cụ can thiệp phòng chống véc tơ hiện hành. Dữ liệu dịch tễ từ Trung tâm Y tế huyện Khánh Vĩnh giai đoạn 2015 - 2020 phản ánh tính chất dai dẳng của bệnh sốt rét tại địa bàn nghiên cứu:

Bảng: Tình hình sốt rét tại huyện Khánh Vĩnh giai đoạn 2015 - 2020 (Nguồn: Trung tâm Y tế huyện Khánh Vĩnh)

Năm Th.1 Th.2 Th.3 Th.4 Th.5 Th.6 Th.7 Th.8 Th.9 Th.10 Th.11 Th.12 Cả năm
2015 30 29 47 25 37 41 55 28 37 51 37 20 437
2016 28 15 28 30 11 23 39 20 20 6 7 16 243
2017 8 5 2 6 10 7 11 11 4 14 14 6 98
2018 1 0 1 10 2 14 18 4 5 7 3 2 67
2019 4 1 1 4 5 5 6 7 3 3 6 5 50
2020 1 4 3 2 4 2 0 2 0 0 0 0 18

Bảng: Tình hình sốt rét tại xã Sơn Thái giai đoạn 2015 - 2020 (Nguồn: Trung tâm Y tế huyện Khánh Vĩnh)

Năm Th.1 Th.2 Th.3 Th.4 Th.5 Th.6 Th.7 Th.8 Th.9 Th.10 Th.11 Th.12 Cả năm
2015 5 2 7 4 2 4 7 4 6 3 6 2 52
2016 4 4 1 3 2 1 31 4 6 1 1 8 66
2017 6 1 0 4 3 3 5 5 1 2 1 1 32
2018 0 0 0 4 1 6 2 0 1 1 3 1 19
2019 3 0 0 3 4 2 4 1 0 0 3 0 20
2020 0 0 0 1 3 1 0 1 0 0 0 0 6

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết quy trình triển khai nghiên cứu thực địa và thực nghiệm phòng thí nghiệm:

  • Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng và địa bàn: Xã Sơn Thái gồm 2 thôn Bố Lang và Giang Biên, có tỷ lệ mắc sốt rét cao nhất huyện, người dân chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số có tập quán làm nương rẫy xa nhà.
  • Quy trình bắt muỗi định lượng bằng mồi người và soi chuồng gia súc theo hướng dẫn chuyên môn của Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương; kỹ thuật giải phẫu buồng trứng xác định tuổi sinh lý, mổ tuyến nước bọt tìm thoa trùng và kỹ thuật tách chiết DNA, phản ứng PCR đa mồi phát hiện các loài ký sinh trùng sốt rét (P. falciparum, P. vivax, P. malariae, P. knowlesi).
  • Quy trình thử nghiệm nến xua: Xây dựng ma trận thực nghiệm nến xua diệt muỗi, bố trí thử nghiệm kiểm tra tính nhạy cảm hóa chất bằng giấy tẩm hoạt chất chuẩn của WHO; quy trình vận hành buồng thử Peet Grady kiểm soát các thông số nhiệt độ, độ ẩm và thời gian thông khí; phương pháp giám sát vệ tinh bằng máy GPS cá nhân và phân tích hành vi người qua bảng kiểm quan sát.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Nội dung chương 3 được cấu trúc thành các nhóm kết quả định lượng:

  1. Tình hình dịch tễ và các yếu tố lan truyền sốt rét dai dẳng tại xã Sơn Thái:
    • Dân số và tập quán: Kết quả điều tra dân số và phỏng vấn 350 chủ hộ gia đình (Bảng 3.1, 3.2) ghi nhận tỷ lệ hộ sở hữu và sử dụng màn tại nhà ở cố định trong thôn đạt mức cao, nhưng tỷ lệ mang màn và ngủ màn khi đi rẫy, đi rừng thấp hơn đáng kể.
    • Ký sinh trùng học: Cơ cấu loài ký sinh trùng sốt rét năm 2016 (Bảng 3.3) và kết quả điều tra cắt ngang tháng 7/2016 (Bảng 3.4) xác nhận sự lưu hành của các ca nhiễm P. falciparum và P. vivax, trong đó tỷ lệ phát hiện qua kỹ thuật PCR cao hơn so với soi kính hiển vi quang học thông thường.
    • Khu hệ và mật độ muỗi: Thành phần loài Anopheles phân bố không đều giữa 3 sinh cảnh (Bảng 3.5, 3.6, 3.7, 3.8). Trong khu dân cư ở thôn, mật độ muỗi truyền bệnh rất thấp hoặc không bắt gặp An. dirus. Ngược lại, tại sinh cảnh rẫy và rừng, An. dirus chiếm ưu thế tuyệt đối.
    • Tập tính đốt máu và chỉ số lan truyền: Số liệu muỗi An. dirus và An. maculatus đốt máu người trong và ngoài nhà rẫy (Bảng 3.9, 3.10 và Hình 3.2, 3.3) cho thấy An. dirus có tỷ lệ đốt ngoài nhà cao và hoạt động đốt mồi bắt đầu sớm từ 18 giờ, đạt đỉnh trong khoảng 20 - 22 giờ. Kỹ thuật PCR xác định tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng sốt rét trong muỗi An. dirus (Bảng 3.11) và chỉ số lan truyền côn trùng (EIR) của An. dirus tại nhà rẫy và rừng duy trì ở mức cao (Bảng 3.12).
    • Yếu tố hành vi và nhà ở: Khảo sát cấu trúc nhà tại thôn (Bảng 3.13) cho thấy đa số là nhà kiên cố hoặc bán kiên cố, vách gỗ/tường gạch có thể phun tồn lưu; trong khi nhà rẫy (Bảng 3.14) chủ yếu là chòi tạm bợ, vách nứa, tôn hoặc không có vách, không thể lưu giữ hóa chất phun tồn lưu. Quan sát hành vi định giờ (Hình 3.4 đến 3.8) chứng minh người dân có nhiều hoạt động ngoài trời vào buổi tối (tụ tập, trò chuyện, đi lại) mà không có biện pháp phòng hộ. Phân tích dữ liệu thiết bị định vị GPS (Bảng 3.15 và Hình 3.9) trên 80 lượt người xác định chính xác các điểm ngủ đêm trong rẫy và rừng sâu trùng khớp với các ổ sinh cảnh có mật độ véc tơ cao.
  2. Hiệu lực xua diệt muỗi của nến chứa transfluthrin:
    • Thử nghiệm độ nhạy cảm (Bảng 3.16) chứng minh quần thể muỗi thử nghiệm nhạy cảm với hóa chất pyrethroid.
    • Trong phòng thí nghiệm: Nến chứa transfluthrin ở 4 nồng độ khác nhau gây ngã gục nhanh trên An. dirus và An. minimus trong buồng thử $70\text{ cm} \times 70\text{ cm} \times 70\text{ cm}$ (Bảng 3.17, 3.18). Tỷ lệ gây chết sau 24 giờ của 4 loại nến (Bảng 3.19) cho thấy nồng độ transfluthrin 0,04% đạt hiệu quả diệt muỗi tối ưu. Thử nghiệm nến 0,04% trong buồng Peet Grady (Bảng 3.20, 3.21) ghi nhận tỷ lệ ngã gục và tỷ lệ chết tăng theo thời gian đốt nến.
    • Tại thực địa: So sánh mật độ véc tơ đốt người giữa lô thử nghiệm đốt nến và lô đối chứng không đốt nến (Bảng 3.22, 3.24) xác nhận sự sụt giảm rõ rệt số lượng muỗi tiếp xúc với mồi người. Hiệu lực bảo vệ cá nhân của nến transfluthrin 0,04% chống muỗi An. dirus đốt mồi đạt mức cao ở cả trong nhà rẫy (Bảng 3.23) và ngoài nhà rẫy (Bảng 3.25).
    • Đánh giá an toàn và cộng đồng: Số liệu khảo sát tác dụng không mong muốn (Bảng 3.26, 3.27) ghi nhận tỷ lệ kích ứng rất thấp, không có tác dụng phụ nghiêm trọng. Tỷ lệ người dân chấp nhận và mong muốn sử dụng nến xua diệt muỗi tại khu vực rẫy đạt mức cao (Bảng 3.28).

Chương 4: Bàn luận

Chương Bàn luận tập trung luận giải hai trục nội dung khoa học chính:

  • Cơ chế hình thành lan truyền sốt rét dai dẳng tại xã Sơn Thái: Tác giả đối chiếu các phát hiện thực địa với y văn thế giới và Việt Nam. Điểm mấu chốt của hiện tượng RMT tại địa phương không phải do thất bại của hóa chất (muỗi chưa kháng pyrethroid), mà là do sự "lệch pha" về không gian và thời gian giữa công cụ phòng chống hiện tại và tập tính sinh học của véc tơ kết hợp với hành vi con người. Biện pháp phun tồn lưu (IRS) mất tác dụng do nhà rẫy làm bằng vách hở, tôn hoặc tranh tre; biện pháp màn tẩm (LLINs) không che chắn được khoảng thời gian từ 18 giờ đến 22 giờ khi muỗi An. dirus đã hoạt động đốt mồi ngoài nhà rẫy trong lúc người dân chưa đi ngủ. Dữ liệu GPS đã cung cấp bằng chứng khách quan về việc người dân di chuyển sâu vào sinh cảnh rừng rẫy, làm tăng nguy cơ phơi nhiễm.
  • Ý nghĩa và tính khả thi của nến xua transfluthrin: Phân tích cơ chế bốc hơi tự nhiên của transfluthrin khi đốt nến, tạo ra nồng độ hoạt chất trong không gian mở và bán mở đủ để gây hiệu ứng xua và hạ gục muỗi truyền bệnh. Thảo luận về tính phù hợp của nến tại các chòi rẫy vùng sâu không có nguồn điện lưới; tính an toàn đối với người sử dụng và mức độ sẵn sàng tiếp nhận của đồng bào địa phương.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về lý luận và thực tiễn của luận án:

  • Về mặt khoa học và lý luận: Luận án cung cấp dẫn liệu khoa học toàn diện và có hệ thống về cơ chế lan truyền sốt rét dai dẳng (RMT) tại vùng sốt rét lưu hành nặng miền núi Nam Trung Bộ. Công trình đã làm sáng tỏ mối quan hệ tương tác phức hợp giữa tập tính côn trùng học (đặc tính đốt sớm, đốt ngoài nhà của véc tơ An. dirus) với nhân chủng học hành vi (tập quán canh tác ngủ rẫy, sinh hoạt chập tối ngoài nhà và cấu trúc nhà tạm bợ). Việc ứng dụng kỹ thuật sinh học phân tử (PCR) xác định tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng trong véc tơ và công nghệ định vị toàn cầu (GPS) để theo dõi không gian di chuyển của người dân đã cung cấp cơ sở dữ liệu chính xác về các điểm nóng truyền bệnh ngoài tầm với của các biện pháp can thiệp truyền thống.
  • Về mặt thực tiễn: Luận án chứng minh hiệu lực sinh học của nến xua diệt muỗi chứa hoạt chất transfluthrin 0,04% trong việc hạ gục, tiêu diệt muỗi Anopheles trong phòng thí nghiệm (buồng Peet Grady) và bảo vệ cá nhân rõ rệt chống lại muỗi An. dirus đốt mồi cả trong và ngoài nhà rẫy tại thực địa. Công trình đã xác nhận tính an toàn, ít gây kích ứng và sự chấp nhận cao của cộng đồng đối với sản phẩm nến xua muỗi.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ luận án:

  1. Đưa sản phẩm nến xua muỗi chứa transfluthrin vào danh mục các biện pháp can thiệp phòng chống véc tơ bổ sung của Chương trình Quốc gia phòng chống và loại trừ sốt rét, ưu tiên cấp phát cho nhóm người đi rừng, ngủ rẫy tại các vùng sốt rét lưu hành dai dẳng.
  2. Tăng cường truyền thông giáo dục sức khỏe, khuyến cáo người dân đốt nến xua muỗi trong khoảng thời gian từ 18 giờ đến 22 giờ tại khu vực nhà rẫy trước khi vào ngủ trong màn tẩm hóa chất.
  3. Duy trì công tác giám sát thường quy về biến động mật độ véc tơ, thời gian đốt mồi và giám sát mức độ nhạy cảm của muỗi An. dirus đối với các hóa chất diệt côn trùng nhóm pyrethroid tại các địa bàn trọng điểm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế của nghiên cứu:

  • Phạm vi nghiên cứu thực địa về dịch tễ và hành vi tập trung chủ yếu tại một xã đại diện (xã Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa), do đó các đặc điểm về tập quán nhà rẫy có thể mang tính đặc thù địa phương của đồng bào dân tộc thiểu số tại khu vực Nam Trung Bộ, chưa bao quát hết các nhóm đối tượng đi rừng tại các vùng sinh thái khác như Tây Nguyên hay biên giới Tây Nam.
  • Cỡ mẫu theo dõi di chuyển không gian bằng máy định vị GPS giới hạn ở 80 lượt người; thời gian điều tra côn trùng học thực địa chia thành 3 đợt trong năm 2016 mà chưa theo dõi liên tục hàng tháng qua nhiều năm liên tiếp.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng thử nghiệm can thiệp bằng nến xua muỗi chứa transfluthrin trên quy mô cộng đồng lớn hơn ở các cụm dân cư đi rừng, ngủ rẫy tại các tỉnh Tây Nguyên và Đông Nam Bộ.
  • Đánh giá phân tích chi phí - hiệu quả (cost-effectiveness) của việc áp dụng nến xua diệt muỗi transfluthrin khi triển khai lồng ghép vào hệ thống y tế cơ sở phục vụ mục tiêu loại trừ bệnh sốt rét tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cán bộ nghiên cứu và nghiên cứu sinh chuyên ngành Côn trùng học, Ký sinh trùng học y học: Có thể tham khảo phương pháp luận thiết kế nghiên cứu kết hợp giữa côn trùng học thực địa, sinh học phân tử (PCR) và nhân chủng học hành vi (GPS, quan sát định lượng); quy trình chuẩn thử nghiệm sinh học hóa chất bốc hơi trong buồng Peet Grady.
  • Các nhà quản lý và cán bộ chương trình phòng chống sốt rét các cấp: Luận án cung cấp bằng chứng thực tiễn để giải thích hiện tượng sốt rét dai dẳng tại các điểm nóng cục bộ, từ đó xây dựng các hướng dẫn chuyên môn và gói can thiệp đặc thù cho nhóm đối tượng nguy cơ cao (đi rừng, ngủ rẫy).
  • Giảng viên và học viên sau đại học tại các trường đại học y khoa và viện nghiên cứu: Có thể sử dụng chương Tổng quan và Phương pháp của luận án làm tài liệu giảng dạy về sinh thái học véc tơ sốt rét và các kỹ thuật đánh giá hiệu lực hóa chất diệt côn trùng.

Câu hỏi thường gặp

  1. Hiện tượng lan truyền sốt rét dai dẳng (RMT) tại xã Sơn Thái xuất phát từ những nguyên nhân chủ yếu nào? Lan truyền sốt rét dai dẳng tại xã Sơn Thái hình thành do sự phối hợp giữa ba yếu tố: véc tơ chính An. dirus ưa đốt máu người ngoài nhà và hoạt động sớm vào đầu đêm (18 - 22 giờ); người dân có tập quán đi rừng ngủ rẫy và sinh hoạt ngoài nhà vào ban tối; cấu trúc nhà chòi rẫy tạm bợ không có vách ngăn kín và không lưu giữ được hóa chất phun tồn lưu (IRS), trong khi màn tẩm (LLINs) chỉ che chắn được khi người dân đã đi ngủ.

  2. Loài muỗi nào đóng vai trò truyền bệnh sốt rét chính tại khu vực nghiên cứu? Loài véc tơ truyền bệnh chính được xác định tại sinh cảnh rẫy và rừng ở xã Sơn Thái là Anopheles dirus. Kỹ thuật PCR đã phát hiện ký sinh trùng sốt rét trong muỗi An. dirus và loài này duy trì chỉ số lan truyền côn trùng (EIR) cao tại khu vực rẫy và rừng. Trong khi đó, An. minimus có mật độ rất thấp tại khu dân cư và An. maculatus đóng vai trò véc tơ phụ.

  3. Nồng độ transfluthrin nào trong nến được lựa chọn để đánh giá hiệu lực diệt muỗi chuyên sâu? Qua thử nghiệm 4 nồng độ hóa chất trong buồng kính $70\text{ cm} \times 70\text{ cm} \times 70\text{ cm}$, nến chứa transfluthrin nồng độ 0,04% được lựa chọn để thử nghiệm chi tiết trong buồng Peet Grady và đưa ra thực địa nhà rẫy do đạt hiệu quả ngã gục nhanh và tỷ lệ gây chết muỗi cao sau 24 giờ nuôi phục hồi.

  4. Tình trạng nhạy cảm với hóa chất diệt côn trùng của muỗi Anopheles tại địa bàn nghiên cứu được ghi nhận ra sao? Theo các báo cáo giám sát giai đoạn 2013 - 2018 và kết quả thử sinh học trong luận án, quần thể muỗi thử nghiệm (đặc biệt là An. maculatus) tại xã Sơn Thái vẫn nhạy cảm tốt với các hóa chất diệt côn trùng nhóm pyrethroid sử dụng trong chương trình (alphacypermethrin và lambdacyhalothrin) với tỷ lệ muỗi chết đạt từ 98% đến 100%.

  5. Hiệu lực bảo vệ cá nhân của nến xua muỗi transfluthrin tại thực địa đạt được ở mức độ nào? Tại thực địa khu vực nhà rẫy xã Sơn Thái, nến xua muỗi chứa transfluthrin làm giảm rõ rệt mật độ muỗi An. dirus tiếp xúc đốt mồi người so với lô đối chứng không đốt nến, thể hiện hiệu lực bảo vệ cá nhân cao cho người lao động cả ở vị trí trong nhà rẫy và ngoài nhà rẫy trong suốt khung giờ thử nghiệm buổi tối.

Kết luận

Luận án của tác giả Đào Minh Trang đã xác định rõ cơ chế lan truyền sốt rét dai dẳng tại xã Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa bắt nguồn từ sự kết hợp giữa tập tính đốt mồi sớm ngoài nhà của véc tơ Anopheles dirus và tập quán lao động, ngủ rẫy ban đêm của người dân địa phương trong điều kiện nhà ở không che chắn. Bằng các thử nghiệm chuẩn tắc trong phòng thí nghiệm và thực địa, công trình đã chứng minh nến chứa hoạt chất transfluthrin 0,04% có hiệu lực hạ gục, tiêu diệt muỗi cao và mang lại hiệu quả bảo vệ cá nhân rõ rệt chống lại muỗi An. dirus đốt máu người trong và ngoài nhà rẫy. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để bổ sung biện pháp nến xua transfluthrin vào chiến lược phòng chống véc tơ bảo vệ nhóm dân cư nguy cơ cao, góp phần hướng tới mục tiêu loại trừ bệnh sốt rét tại Việt Nam.