MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Côn trùng nƣớc là một bộ phận không thể tách rời thế giới các loài côn trùng. Nhóm côn trùng này có đặc trƣng là vòng đời của chúng có một hay nhiều giai đoạn phát triển hoặc cả cuộc đời sống trong môi trƣờng nƣớc. Côn trùng nƣớc giữ vai trò quan trọng trong hệ sinh thái các thủy vực cả nƣớc đứng cũng nhƣ nƣớc chảy.
Mỗi một môi trƣờng thủy vực, nhóm sinh vật này đều có những đặc tính thích nghi phù hợp. So với nhiều nhóm sinh vật khác, côn trùng nƣớc có nhiều đặc tính nổi trội nhƣ: số lƣợng loài, số lƣợng cá thể lớn, khá nhạy cảm với sự thay đổi của môi trƣờng, thậm chí một số loài đặc trƣng cho các kiểu sinh cảnh khác nhau.đặc biệt chúng là những mắt xích không thể thiếu trong chuỗi và lƣới thức ăn. Các loài côn trùng nƣớc là những sinh vật tiêu thụ bậc 1, bậc 2 đồng thời lại là nguồn thức ăn của nhiều loài động vật khác. Nhiều loài côn trùng nƣớc có quan hệ mật thiết đối với con ngƣời.
Một số loài côn trùng nƣớc gây hại là tác nhân truyền bệnh, tác nhân gây bệnh, tác nhân phá hoại sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp… Chính vì những lý do trên, việc nghiên cứu và ứng dụng khoa học về côn trùng ở nƣớc đã đƣợc tiến hành từ rất sớm. Hiện nay, trên thế giới đã xác định đƣợc 9 bộ côn trùng nƣớc. Trong đó ba bộ gồm: Phù du (Ephemeroptera), Cánh úp (Plecoptera) và Cánh lông (Trichoptera) có số lƣợng loài khá lớn. Chúng có mặt ở hầu hết các thủy vực nƣớc ngọt, đặc biệt là các thủy vực dạng suối.
Chúng có vai trò rất quan trọng trong hệ sinh thái. Gần đây, các nhà khoa học đã sử dụng ba bộ côn trùng nƣớc này làm sinh vật chỉ thị để đánh giá chất lƣợng môi trƣờng nƣớc. VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai nằm trong khu vực Tây Bắc Việt Nam có hệ thống suối rất phong phú. Các hệ thống suối này là điều kiện thuận lợi cho sự tồn tại và phát triển của các loài côn trùng nƣớc nói chung cũng nhƣ các loài Phù du, Cánh úp và Cánh lông nói riêng.
Tuy vậy, các nghiên cứu về ba bộ này tại VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai còn ít và tản mạn, các nghiên cứu này chỉ tập trung chủ yếu ở các suối chính của VQG mà chƣa thực hiện nghiên cứu một cách 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com toàn diện ở hệ thống suối. Mặt khác, các nghiên cứu mới chỉ tập trung công bố về các loài mới hoặc thành phần loài ở phạm vi hẹp. Xuất phát từ những lý do trên, nghiên cứu sinh thực hiện đề tài luận án “Nghiên cứu đa dạng sinh học ba bộ côn trùng nƣớc: Phù du (Ephemeroptera), Cánh úp (Plecoptera) và Cánh lông (Trichoptera) ở Vƣờn quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai”. Mục đích và nội dung nghiên cứu 2.
Mục đích nghiên cứu Có đƣợc cơ sở dữ liệu đa dạng về loài và phân bố của các loài Phù du, Cánh úp và Cánh lông theo tính chất của dòng chảy, theo đai độ cao, theo mùa và theo cấp độ suối tại VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai. Nội dung nghiên cứu - Nghiên cứu đa dạng về loài của ba bộ côn trùng nƣớc: Phù du, Cánh úp và Cánh lông tại VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai. - Nghiên cứu phân bố của các loài Phù du, Cánh úp và Cánh lông theo tính chất của dòng chảy, theo đai độ cao, theo mùa và theo cấp độ suối. - Xác định nguyên nhân ảnh hƣởng đến môi trƣờng sống của các loài Phù du, Cánh úp và Cánh lông, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm bảo vệ sự đa dạng của nhóm côn trùng nƣớc này ở khu vực nghiên cứu.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu Đối tƣợng đƣợc sử dụng trong nghiên cứu là các loài Phù du, Cánh úp và Cánh lông ở giai đoạn ấu trùng và thiếu trùng thu đƣợc tại các điểm nghiên cứu khác nhau từ năm 2011 đến năm 2013 thuộc địa phận VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai. Phạm vi nghiên cứu Đề tài luận án tập trung nghiên cứu đa dạng về loài của Phù du, Cánh úp và Cánh lông dựa trên đặc điểm hình thái của cá thể ở giai đoạn trƣớc trƣởng thành tại VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 4. Ý nghĩa khoa học - Cung cấp một cách có hệ thống các dẫn liệu khoa học về thành phần loài Phù du, Cánh úp và Cánh lông ở VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai. - Cung cấp các dẫn liệu khoa học về đặc điểm phân bố của các loài Phù du, Cánh úp và Cánh lông theo tính chất của dòng chảy, theo đai độ cao, theo mùa và theo cấp độ suối tại VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai. - Các kết quả thu đƣợc từ đề tài là cơ sở cho việc nghiên cứu chuyên sâu và phục vụ công tác giảng dạy ở bậc Đại học và Sau Đại học về các loài Phù du, Cánh úp và Cánh lông.
Ý nghĩa thực tiễn Dựa trên các kết quả thu đƣợc, đề tài cung cấp các dẫn liệu về Phù du, Cánh úp và Cánh lông tại VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai và các yếu tố ảnh hƣởng đến môi trƣờng sống của chúng, từ đó đề xuất các biện pháp nhằm bảo vệ sự đa dạng của nhóm sinh vật này ở khu vực nghiên cứu. Những đóng góp mới của luận án - Lần đầu tiên hệ thống danh sách cập nhật nhất gồm 131 loài, 92 giống, 34 họ thuộc 3 bộ: Phù du, Cánh úp và Cánh lông tại VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai. - Ghi nhận mới cho khu hệ động vật Việt Nam 20 loài và 1 họ thuộc bộ Phù du. Lần đầu tiên ghi nhận đƣợc 24 loài thuộc bộ Phù du và 1 loài thuộc bộ Cánh lông tại VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai.
- Cung cấp các dẫn liệu mới về phân bố của các loài Phù du, Cánh úp và Cánh lông theo tính chất dòng chảy, theo đai độ cao, theo mùa và theo cấp độ suối. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. Tình hình nghiên cứu về Phù du, Cánh úp và Cánh lông trên thế giới 1. Tình hình nghiên cứu về Phù du (Ephemeroptera) trên thế giới Bộ Phù du là bộ côn trùng có cánh cổ sinh tƣơng đối nguyên thủy, thậm chí còn đƣợc xem nhƣ một trong những tổ tiên của côn trùng.
Dựa vào những bằng chứng hóa thạch, chúng có thể đã phát sinh vào giai đoạn cuối của kỷ Cacbon và đầu kỷ Pecmơ trong đại Cổ sinh, cách đây khoảng 290 triệu năm (Edmund, 1982) [57]. Các loài thuộc bộ Phù du là mắt xích quan trọng trong hệ sinh thái và có mặt ở hầu hết các dạng thủy vực nƣớc ngọt nhƣ: ao, hồ, sông và đặc biệt là ở các dòng suối thuộc vùng núi cao. Các loài Phù du đƣợc mô tả từ rất sớm. Tiếp đến, vào thế kỷ XIX, Eaton (1871, 1881, 1883-1888, 1892) đã công bố hàng loạt các công trình nghiên cứu về Phù du nhƣ: mô tả các đặc điểm về mặt hình thái của cả giai đoạn ấu trùng và trƣởng thành, xây dựng khóa định loại đến các taxon bậc họ và giống của bộ Phù du [52 - 55].
Nghiên cứu về Phù du thực sự phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ XX, điển hình là các công trình nghiên cứu của Ulmer (1920, 1924, 1932-1933, 1939) [140 - 143], Navás (1920, 1930) [95, 96], Lestage (1921, 1924, 1930) [77 - 79], Needham et al. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của các nghiên cứu về Phù du, hệ thống phân loại của ông ngày càng tỏ ra hạn chế. McCafferty and Edmunds (1979), đã bổ sung những dẫn liệu mới và chỉnh lý khóa phân loại cho phù hợp với thực tế nghiên cứu đòi hỏi. Trong khóa định loại của McCafferty and Edmunds (1979) ngoài việc mô tả đặc điểm hình thái thì mối quan hệ họ hàng giữa các loài trong quá trình tiến hóa cũng đƣợc các tác giả đề cập [85].
Sau này, hệ thống phân loại Phù du ngày càng đƣợc hoàn chỉnh bởi các nghiên cứu tiếp theo của McCafferty (1983, 1991) [86, 87]. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Odgen and Michael (2005) đã tổng hợp những nghiên cứu về phân loại học của McCafferty và Edmunds đồng thời đƣa ra giả thuyết mới về nguồn gốc phát sinh của Phù du dựa trên những nghiên cứu về sinh học phân tử [121]. Jacobus and McCafferty (2008) đã sửa đổi lại tên một số giống của họ Ephemerellidae và mô tả hình dạng trứng của một số loài thuộc họ này. Đây là cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu họ Ephemerellidae trên thế giới [69].
Theo Hubbard et al. (2008), trên toàn thế giới đã xác định đƣợc khoảng 3046 loài thuộc 405 giống và 42 họ của bộ Phù du. Trong đó ở châu Âu có khoảng 350 loài và Bắc Mỹ là 670 loài. Thành phần loài hay nói cách khác sự đa dạng về loài của Phù du ở các họ thể hiện rất khác nhau, có những họ chỉ có một loài nhƣ: Coryphoridae, Machadorythidae, Melanemerellidae, Pseudironidae, Rallidentidae, Siphlaenigmatidae, Siphluriscidae và Teloganellidae hoặc một vài loài nhƣ: Acanthametropodidae, Ametropodidae, Arthropleidae, Chromarcyidae, Ephemerythidae.
hay có những họ có tới hàng trăm loài nhƣ Baetidae, Heptageniidae, Leptophlebiidae. Tuy nhiên những con số này chƣa phản ánh hết mức độ đa dạng của Phù du vì còn nhiều khu vực trên thế giới vẫn chƣa đƣợc khám phá hết, nhất là các khu vực nhiệt đới [65]. Trong các châu lục trên thế giới, nghiên cứu về Phù du ở châu Á đƣợc các nhà khoa học rất quan tâm. Những nghiên cứu đầu tiên về Phù du ở đây đƣợc thực hiện bởi các nhà côn trùng học đến từ châu Âu nhƣ: Navás (1922, 1930) [95, 96], Lestage (1921, 1924) [77, 78].
Theo kết quả nghiên cứu của Dudgeon (1999), ở châu Á có khoảng 128 giống thuộc 18 họ của bộ Phù du, tác giả cũng đã xây dựng khóa định loại tới taxon bậc giống của Phù du ở châu Á [51]. Các nghiên cứu về Phù du ở châu Á tập trung chủ yếu ở Trung Quốc với các nghiên cứu của Hsu (1938) [64], Morse et al. (1994) [91], Tong and Dudgeon (2000a, 2003a, 2003b, 2003c) [131, 135-137], Quan et al. (2002) [123], Zhou et al.
(2000, 2004a, 2004b) [148-150], Zhou (2013) [151]; Hàn Quốc với các nghiên cứu của Bae (1997, 2001) [29, 30], Bae and Hwang (2010) [31]; Hồng Kông với các nghiên cứu của Tong and Dudgeon (2000b, 2000c, 2002) [132-134]; Đài 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Loan với nghiên cứu của Tomás and Jeng (2003) [129] và một số quốc gia trong khu vực Đông Nam Á với nghiên cứu của Hwang and Bae (2008) [66].