Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học phân tử gen k13 và đáp ứng của plasmodium falciparum với dihydroartemisinin piperaquin phosphate ở một số vùng sốt rét lưu hành tại việt nam

Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học phân tử gen k13 và đáp ứng của Plasmodium falciparum với dihydroartemisinin piperaquin phosphate tại Việt Nam.

Trường đại học

Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung Ương

Chuyên ngành

Dịch tễ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sỹ y học

2022

185
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tình hình bệnh sốt rét trên thế giới và Việt Nam

1.2. Sốt rét và một số yếu tố liên quan dịch tễ bệnh sốt rét

1.3. Các thuật ngữ và định nghĩa liên quan tới kháng thuốc

1.3.1. Đột biến gen K13

1.3.2. Tình hình ký sinh trùng Plasmodium falciparum kháng thuốc sốt rét

1.3.2.1. Trên thế giới
1.3.2.2. Tại Việt Nam

1.3.3. Hiệu lực điều trị, tính dung nạp và độ an toàn của DHA-PPQ

1.3.3.1. Tính dung nạp của phối hợp thuốc DHA-PPQ
1.3.3.2. Hiệu lực điều trị và độ an toàn của phối hợp DHA-PPQ

1.3.4. Các kỹ thuật đánh giá kháng thuốc do quần thể P.

1.3.4.1. Kỹ thuật in vivo đánh giá nhạy - kháng thuốc trên lâm sàng
1.3.4.2. Kỹ thuật in vitro đánh giá ký sinh trùng P. falciparum kháng thuốc
1.3.4.3. Các kỹ thuật sinh học phân tử

1.3.5. Một số yếu tố thuận lợi cho KSTSR phát triển và hình thành kháng

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mô tả một số đặc điểm dịch tễ học phân tử đột biến gen K13

2.2. Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.4. Đánh giá đáp ứng của ký sinh trùng sốt rét Plasmodium falciparum

2.5. Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu

2.6. Phương pháp nghiên cứu

2.7. Đánh giá nhạy cảm của ký sinh trùng sốt rét Plasmodium falciparum

2.8. Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu

2.9. Phương pháp nghiên cứu

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Mô tả đặc điểm dịch tễ học phân tử đột biến gen K13

3.2. Đặc điểm chung của bệnh nhân nhiễm Plasmodium falciparum

3.3. Phân tích đặc điểm các vị trí đột biến trên gen K13 của P.

3.4. Đặc điểm về đột biến gen K13 của quần thể P.

3.5. Tỷ lệ đột biến gen K13 của 5 tỉnh thực hiện nghiên cứu

3.6. So sánh tỷ lệ đột biến gen K13 của các quần thể P.

3.7. Đánh giá đáp ứng của ký sinh trùng sốt rét Plasmodium falciparum với

3.7.1. Đặc điểm chung về dân số của nhóm nghiên cứu

3.7.2. Tỷ lệ, đặc điểm đột biến gen K13 của nhóm nghiên cứu in vivo

3.7.3. Thời gian làm sạch ký sinh trùng và cắt sốt sau điều trị DHA-PPQ

3.7.4. Hiệu lực phác đồ DHA-PPQ trong điều trị sốt rét do P.

3.8. Đánh giá nhạy cảm của P. falciparum với thuốc sốt rét trên in vitro

3.8.1. Đặc điểm đột biến gen K13 của ký sinh trùng P.

3.8.2. Đánh giá nhạy cảm của P. falciparum với thuốc sốt rét

3.8.3. Mối liên quan giữa đột biến gen k13 của ký sinh trùng P.

3.8.4. Mô tả một số đặc điểm dịch tễ học phân tử đột biến gen K 13 của Plasmodium falciparum tại 5 tỉnh có sốt rét lưu hành nặng

3.9. Đánh giá đáp ứng của ký sinh trùng sốt rét Plasmodium falciparum với thuốc dihydroartemisinin - piperaquin phosphat tại các điểm nghiên cứu

3.10. Đánh giá nhạy cảm của ký sinh trùng P. falciparum với một số thuốc sốt rét trên thử nghiệm in vitro tại Gia Lai

TÍNH KHOA HỌC, TÍNH MỚI

MỘT SỐ ĐIỂM HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghiên Cứu Đặc Điểm Dịch Tễ Học Gen K13

Nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ học của gen K13 trong Plasmodium falciparum tại Việt Nam là một vấn đề quan trọng trong việc hiểu rõ tình hình kháng thuốc sốt rét. Gen K13 đã được xác định là một chỉ điểm phân tử liên quan đến kháng thuốc artemisinin. Việc phân tích gen này giúp xác định tỷ lệ kháng thuốc và đưa ra các biện pháp điều trị hiệu quả hơn.

1.1. Tình Hình Sốt Rét Tại Việt Nam

Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ mắc sốt rét cao, đặc biệt là ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên. Theo báo cáo của WHO, số ca mắc sốt rét tại Việt Nam vẫn còn đáng lo ngại, với nhiều ca tử vong liên quan đến bệnh này.

1.2. Vai Trò Của Gen K13 Trong Kháng Thuốc

Gen K13 đóng vai trò quan trọng trong việc xác định khả năng kháng thuốc của Plasmodium falciparum. Các đột biến trong gen này đã được ghi nhận là nguyên nhân chính dẫn đến sự giảm hiệu quả của các phác đồ điều trị dựa trên artemisinin.

II. Vấn Đề Kháng Thuốc Sốt Rét Tại Việt Nam

Kháng thuốc là một trong những thách thức lớn nhất trong việc điều trị sốt rét. Plasmodium falciparum đã phát triển khả năng kháng với nhiều loại thuốc, đặc biệt là artemisinin. Việc nghiên cứu các đặc điểm dịch tễ học của gen K13 sẽ giúp hiểu rõ hơn về tình hình kháng thuốc tại các vùng sốt rét lưu hành.

2.1. Tình Hình Kháng Thuốc Trên Thế Giới

Trên thế giới, kháng thuốc sốt rét đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng, đặc biệt là ở khu vực Tiểu vùng Mê Kông. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ kháng thuốc đang gia tăng, ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị.

2.2. Thách Thức Trong Điều Trị Sốt Rét

Việc điều trị sốt rét ngày càng trở nên khó khăn do sự xuất hiện của các chủng Plasmodium falciparum kháng thuốc. Điều này đòi hỏi các biện pháp can thiệp kịp thời và hiệu quả để kiểm soát tình hình.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Đặc Điểm Gen K13

Nghiên cứu này sử dụng các phương pháp sinh học phân tử để phân tích gen K13 của Plasmodium falciparum. Các mẫu bệnh phẩm được thu thập từ nhiều tỉnh khác nhau, giúp cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình kháng thuốc tại Việt Nam.

3.1. Kỹ Thuật Phân Tích Gen K13

Kỹ thuật PCR được sử dụng để xác định các đột biến trong gen K13. Phân tích này giúp phát hiện các biến thể gen có liên quan đến kháng thuốc, từ đó đưa ra các biện pháp điều trị phù hợp.

3.2. Đánh Giá Hiệu Quả Điều Trị

Đánh giá hiệu quả điều trị của thuốc dihydroartemisinin-piperaquin phosphate (DHA-PPQ) là một phần quan trọng trong nghiên cứu. Kết quả sẽ giúp xác định tỷ lệ đáp ứng lâm sàng và khả năng kháng thuốc của Plasmodium falciparum.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Đặc Điểm Gen K13

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đột biến gen K13 ở các tỉnh nghiên cứu có sự khác biệt rõ rệt. Những thông tin này sẽ giúp các nhà khoa học và bác sĩ có cái nhìn sâu sắc hơn về tình hình kháng thuốc tại Việt Nam.

4.1. Tỷ Lệ Đột Biến Gen K13

Tỷ lệ đột biến gen K13 ở các tỉnh như Bình Phước, Gia Lai, Khánh Hòa cho thấy sự gia tăng đáng kể. Điều này cho thấy sự cần thiết phải theo dõi thường xuyên tình hình kháng thuốc.

4.2. Ảnh Hưởng Đến Hiệu Quả Điều Trị

Sự gia tăng tỷ lệ đột biến gen K13 đã ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả điều trị của DHA-PPQ. Các bác sĩ cần điều chỉnh phác đồ điều trị để đảm bảo hiệu quả tối ưu.

V. Kết Luận Về Nghiên Cứu Gen K13 Tại Việt Nam

Nghiên cứu về gen K13 của Plasmodium falciparum tại Việt Nam đã chỉ ra những thách thức lớn trong việc điều trị sốt rét. Việc theo dõi và phân tích các đột biến gen là cần thiết để cải thiện hiệu quả điều trị và kiểm soát bệnh sốt rét.

5.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu

Nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào việc phát triển các phương pháp điều trị mới và hiệu quả hơn, đồng thời tiếp tục theo dõi tình hình kháng thuốc.

5.2. Đề Xuất Chính Sách Y Tế

Cần có các chính sách y tế phù hợp để kiểm soát tình hình kháng thuốc, bao gồm việc tăng cường giám sát và nghiên cứu về gen K13 của Plasmodium falciparum.

23/06/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học phân tử gen k13 và đáp ứng của plasmodium falciparum với dihydroartemisinin piperaquin phosphate ở một số vùng sốt rét lưu hành tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh sốt rét là một bệnh truyền nhiễm, do ký sinh trùng Plasmodium spp. của ngƣời gây nên. Bệnh lây theo đƣờng máu, do muỗi Anopheles spp. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2021), trên toàn thế giới năm 2020 ƣớc tính có khoảng 241 triệu ca mắc sốt rét, 627.000 ngƣời tử vong.

Số mắc sốt rét tăng khoảng 14 triệu ca bệnh và tăng khoảng 69.000 ngƣời tử vong so với năm 2020, trong đó có khoảng 47.000 ngƣời chết liên quan đến việc bị gián đoạn cung cấp các biện pháp phòng chống, chẩn đoán, điều trị bệnh trong bối cảnh đại dịch Covid. Khu vực châu Phi chiếm 90% số ca mắc và tử vong sốt rét trên thế giới [107], [108]. Ở Việt Nam theo số liệu chƣơng trình phòng chống sốt rét năm 2015 cả nƣớc có 9331 bệnh nhân sốt rét trong đó tập chung chủ yếu ở ven biển Miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ [28]. Một trong những khó khăn và là một trong những thách thức trong lộ trình loại trừ sốt rét là ký sinh trùng sốt rét (KSTSR) đã kháng với hầu hết các thuốc đang dùng, ngoại trừ một số thuốc phối hợp có gốc artemisinin và dẫn chất [103].

Artemisinin và dẫn chất là thành phần quan trọng trong thuốc phối hợp (ACTs) để điều trị sốt rét Plasmodium falciparum (P. falciparum) kháng thuốc [28]. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã khuyến cáo sử dụng các loại thuốc ACTs tại nhiều nƣớc, kể cả Việt Nam [103]. Tuy nhiên, đến năm 2005, WHO đã ghi nhận P.

falciparum giảm nhạy với ACTs và đến cuối năm 2008 thì báo cáo P. falciparum biểu hiện kháng artemisinin tại tỉnh Pailin, Campuchia - nơi giáp biên giới với Thái Lan, từ đó lan rộng kháng ra 5 nƣớc thuộc Tiểu vùng sông Mê Kông (Lào, Thái Lan, Myanmar, Việt Nam) [103]. Ở Việt Nam thuốc phối hợp dihydroartemisinin- piperaquin (DHA-PPQ) đƣợc lựa trọn đƣa vào điều trị sốt rét do P. falciparum, giai đoạn từ 2005-2010 tỷ lệ đáp ứng lâm sàng đầy đủ (ACPR) từ 97,8% đến 100%, nhƣng sau đó thời gian cắt ký sinh trùng ngày càng kéo dài, ký sinh trùng ngày D3 đã tăng lên nhanh chóng, năm 2012 là 30,6%, 2 năm 2014 là 36% (Bình Phƣớc) [16], Gia Lai 24,1% (2015) [12], Khánh Hòa 17,4% D3 (2014) [17].

Gần đây, một số đột biến trong gen K13 đã đƣợc xác định nhƣ các chỉ điểm phân tử liên quan chặt chẽ kháng thuốc artemisinin của P. falciparum trong các nghiên cứu lâm sàng cũng nhƣ tại các chủng tại phòng thí nghiệm [40]. Việc kết hợp dữ liệu phân tích chỉ điểm phân tử đột biến gen K13 và hiệu lực thuốc dihydroartemisinin-piperaquin phosphate trên các bệnh nhân là cần thiết, góp phần đánh giá chính xác tình hình P. falciparum kháng thuốc tại các vùng sốt rét lƣu hành.

Ngoài thử nghiệm in vivo và tìm chỉ điểm phân tử, thử nghiệm in vitro đóng vai trò quan trọng giám sát nhạy-kháng trên các mẫu phân lập P. falciparum thu thập tại thực địa, giúp nhận định tình hình kháng chính xác và quan trọng trong thay đổi chính sách thuốc [40]. Với ý tƣởng kết hợp giữa phân tích các đột biến gen K13 và theo dõi hiệu quả điều trị của thuốc sốt rét dihydro artemisinin - piperaquin trên bệnh nhân là cần thiết, góp phần đánh giá chính xác hơn tình hình P. falciparum kháng artemisinin thuốc tại các vùng sốt rét lƣu hành.

Để đánh giá tình hình nhạy- kháng thuốc trên in vivo, in vitro và các chỉ điểm phân tử K13 liên quan kháng trên quần thể P. falciparum, đề tài luận án “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học phân tử gen K13 và đáp ứng của Plasmodium falciparum với dihydroartemisinin-piperaquin phosphat ở một số vùng sốt rét lƣu hành tại Việt Nam” đƣợc thực hiện nhằm các mục tiêu sau: Mục tiêu nghiên cứu: 1. Mô tả một số đặc điểm dịch tễ học phân tử đột biến gen K13 của Plasmodium falciparum tại 5 tỉnh Bình Phƣớc, Gia Lai, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Quảng Trị năm 2016 – 2018. Đánh giá đáp ứng của ký sinh trùng sốt rét Plasmodium falciparum với thuốc dihydroartemisinin - piperaquin phosphat tại các điểm nghiên cứu.

Đánh giá nhạy cảm của ký sinh trùng sốt rét Plasmodium falciparum với thuốc sốt rét bằng kỹ thuật in vitro tại Gia Lai. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình bệnh sốt rét trên thế giới và Việt Nam 1. Sốt rét và một số yếu tố liên quan dịch tễ bệnh sốt rét Sốt rét là một bệnh truyền nhiễm lan truyền qua đƣờng máu gây nên bởi ký sinh trùng Plasmodium spp.

thông qua muỗi Anopheles cái đốt qua da và truyền các thoa trùng ký sinh trùng sốt rét (KSTSR) vào máu. Bệnh sốt rét tồn tại trong cộng đồng cần có 3 yếu tố: Tác nhân gây bệnh KSTSR, muỗi Anopheles spp. truyền và quần thể ngƣời trong cộng đồng. Ngoài ra, còn một số yếu tố khác ảnh hƣởng đến sự tồn tại và phát triển của bệnh nhƣ môi trƣờng, kinh tế, xã hội.

Trong đó, nguồn bệnh là bệnh nhân sốt rét (BNSR), ngƣời mang KSTSR lạnh hay không triệu chứng. Sốt rét lan truyền từ ngƣời này qua ngƣời khác nhờ trung gian truyền bệnh, đó là muỗi Anopheles spp., có nhiều loại muỗi Anopheles spp. nhƣng hiện nay có ít nhất 62 loài có khả năng truyền bệnh sốt rét ở các vùng trên thế giới [4]. Theo tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) hiện nay có ít nhất 5 loài Plasmodium spp.

gây bệnh cho ngƣời đƣợc ghi nhận, trong đó nghiêm trọng nhất là P. falciparum, số còn lại P. knowlesi có thể gây thể bệnh nhẹ hơn và thƣờng ít dẫn đến tử vong (WHO, 2009) [101]. Việt Nam, có 2 loài chủ yếu P.

falciparum chiếm 60-70% trong cơ cấu, thƣờng gây sốt rét nặng, đa biến chứng và tử vong. vivax chiếm 30-40%, gây sốt rét cách nhật, tái phát xa, loài P. ovale có tỷ lệ thấp, riêng P. knowlesi mới phát hiện vào năm 2008 [4].

Tại Việt Nam có 3 vector chính gồm An. epiroticus và một số vector phụ nhƣ An. Muỗi đốt ngƣời có KST thể giao bào, tiếp đó giao bào phát triển thành thoa trùng trong cơ thể muỗi, khi đó muỗi đốt ngƣời và thoa trùng sẽ từ tuyến nƣớc bọt của 4 muỗi qua ngƣời [4]. Cơ thể cảm thụ gồm ngƣời lành, chƣa có miễn dịch sốt rét hoặc đã có miễn dịch nhƣng đã giảm thấp.

Tình hình mắc sốt rét trên thế giới và Việt Nam Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, ƣớc tính năm 2019 có khoảng 229 triệu trƣờng hợp mắc bệnh sốt rét ở 87 quốc gia có sốt rét lƣu hành, giảm 3,78% so với năm 2000 (229/238 triệu). Tỷ lệ mắc bệnh sốt rét trên 1.000 dân số nguy cơ giảm từ 80 (năm 2000) xuống 58 (năm 2015) và 57 (năm 2019). Từ năm 2000 đến năm 2015, tỷ lệ mắc bệnh sốt rét toàn cầu đã giảm 27,00% và từ năm 2015 đến năm 2019 số mắc giảm dƣới 2,00%, cho thấy tốc độ giảm đã chậm hơn sau năm 2015. Toàn cầu có 29 quốc gia có số mắc cao nhất chiếm 95,00%, trong đó có 5 quốc gia chiếm cao nhất nhƣ Nigeria (27,00%), Cộng hòa Congo (12,00%), Uganda (5,00%), Mozambique (4,00%) và Niger (3,00%) chiếm khoảng 51,00% tất cả các trƣờng hợp trên toàn cầu [107], [108].

Tại Khu vực Châu Phi ƣớc tính có khoảng 215 triệu trƣờng hợp bệnh sốt rét năm 2019 chiếm khoảng 94,00%; Mặc dù năm 2019 có số mắc thấp hơn so với năm 2000 (204 triệu) và tỷ lệ mắc bệnh sốt rét giảm từ 363 (năm 2000) xuống 225 trƣờng hợp (năm 2019) trên 1000 dân số nguy cơ; Tuy nhiên sự phức tạp về thay đổi lây truyền bệnh một cách nhanh chóng đó chính là sự gia tăng dân số. Dân số sống ở Khu vực Châu Phi tăng từ khoảng 665 triệu năm 2000 lên 1,1 tỷ ngƣời trong năm 2019 [107], [108]. Ở Khu vực Đông Nam Á có số mắc sốt rét chiếm khoảng 3,00% gánh nặng trên toàn cầu. Số trƣờng hợp mắc bệnh sốt rét giảm 73,00%, từ 23 triệu năm 2000 xuống còn khoảng 6,3 triệu năm 2019.

Tỷ lệ mắc bệnh ở khu vực này giảm 78,00%, từ khoảng 18 trƣờng hợp trên 1000 dân số chung năm 2000 còn 4 trƣờng hợp trong năm 2019 [107]. Ấn Độ đóng góp mức giảm tuyệt đối lớn từ 20 triệu trƣờng hợp năm 2000 xuống còn 5,6 triệu trƣờng hợp năm 2019. Sri Lanka đƣợc chứng nhận không có bệnh sốt rét trong năm 2015 và Timor-Leste báo cáo không có sốt rét trong năm 2018 và 2019 [107], [108]. 5 Các trƣờng hợp mắc bệnh sốt rét ở Khu vực Đông Địa Trung Hải giảm 26,00%, từ khoảng 7 triệu ngƣời năm 2000 xuống còn 5 triệu trƣờng hợp mắc bệnh sốt rét năm 2019.

Khoảng một phần tƣ số trƣờng hợp mắc bệnh sốt rét năm 2019 là P.vivax, chủ yếu ở Afghanistan và Pakistan. Trong giai đoạn 2000 - 2019, tỷ lệ mắc bệnh sốt rét ở Khu vực Đông Địa Trung Hải giảm từ 20 xuống 10 trên 1.000 dân số nguy cơ. Sudan là nƣớc đóng góp hàng đầu cho bệnh sốt rét ở khu vực này, chiếm khoảng 46,00% trƣờng hợp. Quốc gia Iran không có sốt rét nội địa trong năm 2018 và 2019.

Khu vực Tây Thái Bình Dƣơng ƣớc tính có khoảng 1,7 triệu trƣờng hợp vào năm 2019, giảm 43,00% (1,7/3 triệu trƣờng hợp) so với năm 2000. Trong cùng kỳ, tỷ lệ mắc bệnh sốt rét giảm từ 5 xuống còn 2 trƣờng hợp trên 1000 dân số chung. Quốc gia Papua New Guinea chiếm gần 80% tổng số các trƣờng hợp bệnh ở khu vực này vào năm 2019. Trung Quốc không có trƣờng hợp mắc bệnh sốt rét nội địa từ năm 2017.

Malaysia đã không có trƣờng hợp mắc bệnh sốt rét trong năm 2018 và 2019 [108]. Tại Khu vực Châu Mỹ, số trƣờng hợp mắc bệnh sốt rét giảm 40,00% (từ 1,5 triệu xuống 0,9 triệu) và tỷ lệ mắc bệnh giảm 57,00% (từ 14 xuống 6). Tiến bộ của khu vực trong những năm gần đây đã bị sự gia tăng số mắc sốt rét ở Venezuela, nơi có khoảng 35.500 trƣờng hợp (năm 2000) tăng lên hơn 467. Brazil, Colombia và Venezuela chiếm hơn 86,00% tổng số mắc sốt rét ở khu vực này [107].

Việt Nam năm 2016 cả nƣớc có 4.161 bệnh nhân sốt rét , năm 2017 có 4.548 bệnh nhân, năm 2018 có 4813 bênh nhân và năm 2019 có 4.665 bệnh nhân đến năm 2020 số bệnh nhân mắc sốt rét giảm mạnh chỉ còn 1. Tỷ lệ cơ cấu ký sinh trùng P. falciparum tại tỉnh Bình Phƣớc năm 2016 có 715 trƣờng hợp chiếm 64,41%, tỉnh Khánh Hòa năm 2016 có 294 trƣờng hợp bệnh nhân P. tỉnh Gia Lai năm 2016 có 269 trƣờng hợp P.

falciparum chiếm 67,27%, tỉnh Ninh Thuận có 252 bệnh nhân P. falciparum chiếm 79,52%, tỉnh Quảng Trị có 46 bệnh nhân P. 6 Quảng trị Gia Lai Khánh Hòa Bình phƣớc Ninh Thuận Hình 1. Phân bố ký sinh trùng sốt rét năm 2016 tại Việt Nam 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Đặc Điểm Dịch Tễ Học Phân Tử Gen K13 Của Plasmodium falciparum Tại Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về đặc điểm dịch tễ học của gen K13 trong ký sinh trùng Plasmodium falciparum, một trong những nguyên nhân chính gây ra bệnh sốt rét tại Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ giúp xác định các đột biến gen liên quan đến kháng thuốc mà còn mở ra hướng đi mới trong việc phát triển các biện pháp điều trị hiệu quả hơn. Độc giả sẽ nhận thấy tầm quan trọng của việc theo dõi sự biến đổi gen trong việc kiểm soát và phòng ngừa bệnh sốt rét.

Để mở rộng kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Nghiên cứu xác định đột biến kháng artemisinin trên gen k13 của plasmodium falciparum tại vùng sốt rét lưu hành nặng tỉnh bình phước năm 2014 2015, nơi cung cấp thông tin chi tiết về kháng thuốc artemisinin. Ngoài ra, tài liệu Nghiên cứu một số đột biến gen trên quần thể ký sinh trùng sốt rét plasmodium falciparum liên quan đến kháng thuốc artesunate mefloquine tại tỉnh đăk lăk cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các đột biến gen và tác động của chúng đến hiệu quả điều trị. Những tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn toàn diện hơn về tình hình kháng thuốc trong điều trị sốt rét tại Việt Nam.