ĐẶT VẤN ĐỀ Mối (ISOPTERA) là côn trùng xã hội, có sự phân hóa hình thái và chức năng cao giữa các nhóm cá thể trong một tổ mối. Với đặc tính làm tổ và hoạt động tinh vi cùng khả năng phân giải các sản phẩm có nguồn gốc từ xenlulô và là nguồn thức ăn cho một số động vật hoang dã, nên mối được xem là một mắt xích quan trọng trong các hệ sinh thái tự nhiên. Bên cạnh đó, mối cũng là đối tượng gây hại quan trọng đối với cây trồng, đê đập và công trình kiến trúc ở hầu hết các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới như Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Campuchia, Malaysia, Indonesia và Ấn Độ. (Thái Bàng Hoa, 1964) [14]; (Sen - Sarma, 1974) [114]; (Harris, 1968) [91]; (Cowie et al.
Việt Nam cũng nằm trong khu vực các nước kể trên, nên thành phần loài mối phong phú và đa dạng tương tự. Đối với cây trồng, theo một số tài liệu, mối tấn công tế bào sống của cây, tấn công rễ cây và có thể gây chết cây đồng loạt trên diện rộng. Hầu hết các loại cây ăn quả, cây công nghiệp đều được coi là đối tượng bị mối gây hại, trong đó cao su, cà phê là loại cây bị mối gây hại nặng (Greaves, 1962; Thái Bàng Hoa, 1964; Harris, 1971; Sen - Sarma, 1974) [90, 14, 92, 114]. Các biện pháp phòng chống mối cho cây trồng đã được thực hiện ở nhiều nước, chủ yếu là biện pháp trộn hoá chất vào đất quanh gốc cây trước khi trồng, phun thuốc vào gốc cây (Butani et al., 1983; Cowie et al.
Đối với đê đập, mối được coi là thủ phạm gây rỗng đê đập, vì chúng thường tạo ra các khoang tổ và hệ thống hang giao thông trong thân đê đập. Tác hại của chúng thể hiện ở việc gây sụt lún mặt đê đập, gây rò rỉ, xói ngầm dẫn đến vỡ đê đập. Vấn đề này được quan tâm đặc biệt ở Trung Quốc, Việt Nam (Thái Bàng Hoa, 1964; Vũ Văn Tuyển, 1982; Lý Đông, 1989; Nguyễn 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quốc Huy, 2005; Ngô Trường Sơn, 2009) [14, 56, 6, 16, 46]. Trước kia, đã có một số công trình nghiên cứu về mối hại cây ở Việt Nam như Nguyễn Đức Khảm (1968) [19]; Vũ Văn Tuyển (1991) [57]; Nguyễn Văn Quảng (1999) [33], Tạ Kim Chỉnh (1995) [4].
Các kết quả thường tập trung vào công bố thành phần mối hại cây trồng và thử nghiệm biện pháp diệt mối. Mặc dù đã có danh sách thành phần loài mối hại cây ở miền bắc Việt Nam và ở cây cà phê tỉnh Lâm Đồng (Nguyễn Đức Khảm, 1976; Vũ Văn Tuyển, 1991.) [21, 57], nhưng so với các nước lân cận, danh sách này còn nghèo nàn về thành phần loài. Hậu quả do mối gây ra cho cây trồng chỉ được mô tả đơn giản là vàng lá, còi cọc, có thể chết hàng loạt trên diện rộng (Nguyễn Đức Khảm, 1976; Vũ Văn Tuyển, 1991) [21, 57], nhưng chưa có nhiều dẫn liệu cụ thể về ảnh hưởng trực tiếp của mối đối với cây trồng (dấu vết gây hại của mối). Hơn nữa, nhiều đặc điểm sinh học và sinh thái học làm cơ sở xây dựng biện pháp phòng trừ mối còn rất hạn chế.
Có thể nêu những công trình đã nghiên cứu thử nghiệm biện pháp xử lý mối bảo vệ cây trồng như Vũ Văn Tuyển (1991) [57] với cây cà phê; Tạ Kim Chỉnh (1995, 1996) [4, 5] với cây vải thiều và cây chè. Các tác giả này mới chỉ dừng lại ở việc sử dụng các hóa chất hoặc vi nấm để diệt mối, mà chưa đi sâu nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học của loài cần phòng trừ. Trong khoảng 10 năm gần đây, mối hại cây và đập hồ chứa nước ở các tỉnh Tây Nguyên đã được một số tác giả quan tâm nghiên cứu (Lê Văn Triển , 2000, 2003; Nguyễn Tân Vương, 2007; Nguyễn Văn Quảng, 2007 và Nguyễn Quốc Huy, 2007) [53, 55, 65, 41, 17]. Tuy vậy, các kết quả được công bố chỉ hạn chế ở các số liệu điều tra về thành phần loài, phân bố của mối hại cây, đập hồ chứa nước và định hướng biện pháp xử lý cho cây trồng và đập.
Trịnh Văn Hạnh (2007) [10] đã nghiên cứu thành công việc thay thế thuốc diệt mối hoá chất bằng chế phẩm sinh học đối với nhóm mối có vườn cấy nấm ở đê 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được áp dụng ở miền Bắc Việt Nam, nhưng chưa được thử nghiệm trên môi trường đập hồ chứa nước ở các tỉnh Tây Nguyên. Mối hại cây và đê, đập có thành phần loài phong phú, nhiều nhóm loài có các đặc điểm sinh học, sinh thái học khác hẳn với mối hại công trình kiến trúc và chúng có quan hệ rất mật thiết với môi trường. Cho nên để phòng trừ có hiệu quả, cần phải có những nghiên cứu cụ thể và đầy đủ về các nhóm mối này, đồng thời lựa chọn biện pháp phòng trừ hợp lý, phù hợp với điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của từng vùng. Khu vực Tây Nguyên là vùng lãnh thổ rộng lớn, có vị trí chiến lược về kinh tế, chính trị và an ninh quốc phòng.
Nhờ có ưu thế về địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, Tây Nguyên được đánh giá là vùng có điều kiện phát triển một nền kinh tế tổng hợp theo hướng tập trung, có sự liên kết chặt chẽ giữa công nghiệp và nông nghiệp. Tây Nguyên là nơi cung ứng chủ yếu nguồn sản phẩm từ cây công nghiệp cho thị trường nội địa và xuất khẩu. Sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nước. Do vậy, việc đầu tư xây dựng hàng loạt các hồ chứa nước có quy mô lớn để cung cấp nước, điều tiết nước trong vùng đang được Đảng và Nhà nước ta quan tâm hàng đầu.
Mặt khác với lợi thế về địa hình, nhiều nhà máy thủy điện đã và đang được đầu tư xây dựng tại Tây Nguyên. Cho nên, các hồ chứa nước có một vị trí hết sức quan trọng. Thực tế cho thấy, tiềm năng của hồ chứa nước được phát huy khi sự an toàn của đập được đảm bảo. Do đó, với nhiều vùng chuyên canh, vấn đề phòng chống mối hại đập và cây trồng ở vùng Tây Nguyên càng trở nên cấp bách.
Tóm lại, những hiểu biết về mối ở Tây Nguyên chưa tương xứng với những hiểu biết chung về mối ở Việt Nam do nhiều công trình nghiên cứu trong thời gian qua mang lại. Do đó, việc nghiên cứu mối ở Tây Nguyên và biện pháp phòng trừ các loài mối gây hại cho cây trồng và đập hồ chứa nước 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vừa là đòi hỏi của phát triển khoa học, vừa là đòi hỏi cấp bách của thực tiễn. Với nhận thức đó, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu mối vùng Tây Nguyên và đề xuất biện pháp phòng trừ loài hại chính”, trong thời gian 2006 - 2009 với nội dung chủ yếu khảo sát, điều tra khu hệ mối Tây Nguyên và lựa chọn biện pháp phù hợp, có hiệu quả để phòng trừ các loài mối gây hại chính cho cây trồng và đập hồ chứa nước của Tây Nguyên. 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu của đề tài - Xác định thành phần loài và một số đặc điểm của khu hệ mối Tây Nguyên.
- Xác định các loài mối gây hại cho cây trồng và đập hồ chứa nước ở Tây Nguyên, đồng thời đề xuất biện pháp phòng trừ các loài mối gây hại chính.2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài. Đối tượng nghiên cứu: Mối ở khu vực Tây Nguyên. Phạm vi nghiên cứu: - Phân loại học, đa dạng sinh học của khu hệ mối Tây Nguyên. - Sinh học, sinh thái mối: các loài mối gây hại chính cho cây trồng và đập hồ chứa nước.
- Biện pháp xử lý phòng trừ mối hại cây trồng và đập hồ chứa nước. 3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI - Cung cấp có hệ thống và đầy đủ nhất về thành phần loài mối ở khu vực Tây Nguyên cho đến hiện nay. - Cung cấp các dẫn liệu khoa học về đặc điểm phân bố thành phần loài, số lượng loài theo dải độ cao, theo sinh cảnh và tính đa dạng sinh học của mối ở Tây Nguyên. - Đánh giá mức độ gây hại của các loài gây hại chính và cung cấp các dẫn liệu sinh học, sinh thái học dùng làm cơ sở đề xuất biện pháp phòng trừ các loài mối hại chính cho cây trồng và đập hồ chứa nước ở Tây Nguyên.
4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Đề xuất biện pháp sử dụng bả độc để phòng chống mối cho cây trồng và đập hồ chứa nước. 4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN - Cung cấp danh sách 95 loài mối cho khu vực Tây Nguyên, trong đó có 15 loài bổ sung vào khu hệ mối Việt Nam và có 6 giống, 30 loài lần đầu tiên ghi nhận cho khu vực Tây Nguyên. - Cung cấp các dẫn liệu về đặc điểm phân bố thành phần loài, số lượng loài theo dải độ cao, theo sinh cảnh và theo nhóm chức năng của mối ở Tây Nguyên. - Xác định 6 loài mối hại cây trồng ở Tây Nguyên, trong đó loài Microtermes pakistanicus được xem là loài gây hại nghiêm trọng nhất.
- Xác định 3 loài mối Macrotermes annandalei, M. gilvus và Odontotermes ceylonicus là những loài gây hại chính cho đập hồ chứa nước ở Tây Nguyên. - Lần đầu tiên áp dụng thành công bả độc để diệt các loài mối gây hại chính cho cây trồng và đập hồ chứa nước ở Tây Nguyên. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU MỐI Ở NƢỚC NGOÀI 1.1 Tình hình nghiên cứu về khu hệ mối Công trình nghiên cứu của Hagen (1858) được coi là công trình đầu tiên có tính hệ thống học về mối trên thế giới [21].
Kể từ đó bắt đầu thời kỳ phát triển mạnh mẽ các nghiên cứu về phân loại học hình thái mối. Haviland (1898) nghiên cứu hệ thống học và sinh học mối ở Indonesia và Malaysia. Silvestri (1903) đã phát hiện 39 loài thuộc 2 giống ở khu vực Trung và Nam Mỹ. Holmgren (1906, 1910) cũng mô tả tổng cộng 19 giống, 65 loài mối cho khu hệ này.
Holmgren là người đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và đặt nền móng cho phân loại học hiện đại về mối, trong đó hình thái hàm trên được dùng làm yếu tố phân loại. Escherich (1909, 1911) và Bugnion et al. Müller (1915, 1921) mô tả một số giống mối, trong đó tập trung chủ yếu về các loài thuộc giống Anoplotermes. Oshima (1919) đã nghiên cứu khu hệ mối Đài Loan và Philippin.