Tổng quan luận án
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Bệnh sốt xuất huyết Dengue cùng các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác do muỗi truyền như sốt vàng, viêm não Nhật Bản B và bệnh giun chỉ (Dirofilaria immitis) gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người trên thế giới và tại Việt Nam. Trên thế giới, dịch sốt vàng từng cướp đi sinh mạng của 50.000 người tại Mỹ (Philadelphia, 1793), 35.000 người tại Cuba (1800–1900), hàng trăm nghìn người tại Trung Mỹ trong thế kỷ XIX và 60.000 người tại Tây Ban Nha (1800). Bệnh do virus Viccerophilus tropicus (Reed và Carroll, 1901) gây ra với véc tơ truyền bệnh chính là muỗi Aedes aegypti, cùng một số loài Aedes khác như Ae. africanus, Ae. simpsoni, Ae. luteocephalus, Ae. vittatus, Ae. fluviatilis, Ae. taylori. Bệnh sốt Dengue cổ điển và sốt xuất huyết Dengue do virus Dengue gồm 4 type huyết thanh (Hammon và Craig, 1960) gây ra với vật trung gian truyền bệnh chính là Ae. aegypti và Ae. albopictus, từng gây dịch lớn tại miền Bắc Ấn Độ năm 1872 (50–60 triệu người mắc), Bangkok năm 1958 (1–2 triệu người mắc), Osaka và Kyoto (Nhật Bản), cùng nhiều nước Đông Nam Á như Miến Điện (Burma), Campuchia, Thái Lan.
Tại Việt Nam, dịch sốt xuất huyết có xu hướng mở rộng phạm vi từ thành phố, đồng bằng ven biển sang vùng trung du, miền núi với số ca mắc và tử vong gia tăng. Tuy nhiên, trước thời điểm thực hiện luận án, công tác nghiên cứu về giống muỗi Aedes ở miền Bắc còn rời rạc, chưa có hệ thống. Các công trình chủ yếu tập trung vào loài Ae. aegypti nhằm đáp ứng yêu cầu chống dịch khẩn cấp, chưa có chuyên khảo toàn diện về thành phần loài, quy luật phân bố địa lý sinh vật, đặc tính sinh học, sinh thái học và vai trò truyền bệnh của toàn bộ khu hệ muỗi Aedes.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định 3 mục tiêu cụ thể:
- Điều tra thành phần loài muỗi Aedes.
- Nghiên cứu các quy luật phân bố và đặc điểm địa lý - sinh vật của khu hệ muỗi Aedes ở miền Bắc Việt Nam.
- Tìm hiểu đặc điểm sinh học, sinh thái học, đặc biệt là các quy luật phát sinh phát triển, phân bố, biến động số lượng và vai trò truyền bệnh sốt xuất huyết của một số loài muỗi Aedes phổ biến và có ý nghĩa y học quan trọng.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các loài muỗi thuộc giống Aedes Meigen (Culicidae, Diptera) ở tất cả các giai đoạn phát triển (trứng, bọ gậy, lăng quăng/quăng, muỗi trưởng thành).
- Phạm vi không gian: Miền Bắc Việt Nam tính từ lưu vực sông Cả trở ra, thực hiện điều tra thu mẫu tại 74 điểm thuộc 19 tỉnh và thành phố (bao gồm Hoàng Liên Sơn, Hà Tuyên, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Thái, Quảng Ninh, Hải Phòng, Lai Châu, Sơn La, Hà Sơn Bình, Hà Nam Ninh, Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh, Hải Hưng, Hà Bắc, Thái Bình, Vĩnh Phú, Hà Nội...).
- Phạm vi thời gian: Quá trình điều tra thu thập mẫu vật diễn ra liên tục từ năm 1970 đến năm 1985 (giai đoạn trọng tâm từ năm 1979 đến năm 1985).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu quốc tế
Tác giả điểm lại các công trình nghiên cứu hệ thống về khu hệ muỗi Culicidae và giống Aedes trên thế giới:
- Khu hệ học và phân loại: Monchadskyi (1936, 1951) và Stackelberg (1937) nghiên cứu khu hệ muỗi Liên Xô và vùng Cổ Bắc (Palaearctic); Dyar (1928) tại châu Mỹ; Edwards (1941) tại châu Phi; Knight và Marks (1952), Belkin (1962) tại châu Úc và Nam Thái Bình Dương; Edwards (1932), Barraud (1934), Mattingly (1957) tại Đông Nam Á. Stone, Knight và Starcke (1959) đã tổng kết toàn bộ các loài muỗi trên thế giới, ghi nhận giống Aedes có khoảng 750 loài thuộc 24 phân giống.
- Sinh học, sinh thái và vai trò truyền bệnh: Brumpt (1949) và Pavlovskyi (1961) nghiên cứu Ae. togoi, Ae. pseudoscutellaris. Christophers (1960) xuất bản chuyên khảo tổng kết toàn diện về Ae. aegypti (hình thái, giải phẫu, sinh học, phân bố, vai trò dịch tễ). Boorman (1974) bổ sung dữ liệu sinh thái về Ae. aegypti và Ae. albopictus. Ouda và Wallis (1972) sử dụng đồng vị phóng xạ, kính hiển vi huỳnh quang, kính hiển vi điện tử và nhuộm nhiễm sắc thể để nghiên cứu tuổi sinh lý và cấu trúc di truyền của muỗi Aedes.
- Biện pháp phòng trừ: Sử dụng DDT từ sau Thế chiến II (Pavlovskyi, 1951); xử lý hóa chất diệt bọ gậy Abate; biện pháp diệt bọ gậy sinh học bằng Bacillus thuringiensis, B. israelensis, muỗi ăn bọ gậy Toxorhynchites splendens, các loài cá ăn bọ gậy (Alekseev, 1983); hóa chất và tia phóng xạ gây bất thụ (Thiotepa, Coban 60); cải tiến máy phun cơ giới gắn trên ô tô và máy bay (Eliason, Kilpatrick và Babbitt, 1975).
Các nghiên cứu trong nước
- Thời kỳ trước 1954: Có 3 công trình của Borel (1930) ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ; Galliard và Đặng Văn Ngữ (1947, 1950) ở Bắc Bộ và vịnh Hạ Long.
- Thời kỳ sau 1954: Các nghiên cứu tại Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng (NIMPE), Viện Vệ sinh Dịch tễ, Viện Y học Quân sự, Đại học Tổng hợp Hà Nội, Đại học Y Hà Nội... Tiêu biểu là các báo cáo khoa học của Vũ Thị Phan, Phạm Huy Tiến, Nguyễn Thọ Viễn, Vũ Đức Hương và cộng sự (1975); Vũ Thị Phan, Đỗ Quang Hà, Phạm Huy Tiến (1975); Nguyễn Văn Chí, Nguyễn Xuân Đinh và cộng sự (1982); tài liệu giảng dạy của Đặng Văn Ngữ, Đỗ Dương Thái (1960); Đỗ Dương Thái và Bộ môn Ký sinh trùng Đại học Y khoa (1974); các khóa luận tốt nghiệp của Trương Quang Học (1966), Nguyễn Thị Bích Thủy (1970), Nguyễn Quy Hoài (1971), Kiều Thị Tám (1981); các công trình hợp tác Việt - Xô của Grokhovskaia (1967), Reznik, Grokhovskaia và Nguyễn Xuân Hòe (1978).
- Tổng số loài Aedes đã ghi nhận tại Việt Nam trước luận án là 40 loài, trong đó có 24 loài ở miền Bắc (theo Stojanovich và Scott, 1965; Grokhovskaia, 1967; Reznik và cs, 1978).
Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết
Trước luận án, chưa có công trình chuyên khảo nào nghiên cứu toàn diện và đồng bộ về thành phần phân loại học, quy luật phân bố sinh thái, sinh học quần thể và vai trò véc tơ truyền bệnh sốt xuất huyết của giống muỗi Aedes tại miền Bắc Việt Nam dựa trên nguồn mẫu vật thực địa quy mô lớn.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và tài liệu định loại
- Khung hệ thống phân loại muỗi dựa trên hệ thống của Stone, Knight và Starcke (1959).
- Tài liệu mô tả và khóa định loại hình thái: Borel (1930), Barraud (1934), Monchadskyi (1936, 1951), Stackelberg (1937), Christophers (1960), Gutsevich và cộng sự (1970).
- Hệ thống danh pháp lông đầu và thân bọ gậy áp dụng theo Martini, Belkin và Edwards.
Điểm nghiên cứu cố định và mạng lưới điều tra
Bên cạnh 74 điểm điều tra thu mẫu lưu động tại 19 tỉnh thành, luận án thiết lập 3 điểm nghiên cứu cố định đại diện cho 3 vùng sinh thái - cảnh quan:
- Thành phố Hà Nội: Đại diện đô thị đồng bằng mật độ dân số cao, ổ dịch sốt xuất huyết lưu hành. Theo dõi tại 50 nhà thuộc 4 quận nội thành: phường Chương Dương (quận Hoàn Kiếm), phường Đội Cấn (quận Ba Đình), phường Thanh Nhàn (quận Hai Bà Trưng), phường Trung Phụng và Nguyễn Trãi (quận Đống Đa) từ tháng 4/1981 đến tháng 3/1982.
- Xã Nga Liên (huyện Trung Sơn, tỉnh Thanh Hóa): Đại diện vùng đồng bằng ven biển, cách biển 5 km, diện tích 5 km², dân số 3.120 người; thói quen trữ nước ngọt trong bể, chum, vại; theo dõi định kỳ từ tháng 1/1980 đến tháng 12/1980.
- Xã Quang Hiến (huyện Lương Ngọc, tỉnh Thanh Hóa): Đại diện vùng rừng núi, nương rẫy, rừng tre nứa, diện tích 10 km², dân số 2.120 người, nằm trên trục đường ô tô sang Lào, thuộc vùng sốt rét lưu hành; theo dõi từ tháng 1/1980 đến tháng 12/1980.
Phương pháp thu thập và xử lý mẫu vật
Phương pháp thu thập mẫu thực hiện theo quy trình của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng có bổ sung cải tiến:
- Thu bắt muỗi trưởng thành:
- Trong nhà ban ngày: 7h00 đến 11h00, mỗi nhà bắt toàn bộ trong 15 phút tại các vị trí trú đậu (quần áo, chăn màn, đồ dùng). Bắt tại 10 nhà đại diện ở mỗi điểm điều tra.
- Trong nhà ban đêm: 19h00 đến 21h00 (5–10 nhà/điểm).
- Chuồng gia súc ban đêm: 19h00 đến 23h00 (5 chuồng gia súc/điểm).
- Mồi người ngoài nhà và trong rừng: người thu mẫu ngồi lộ cẳng chân, dùng ống thủy tinh bắt muỗi đến đốt từ 7h00 đến 19h00 hoặc theo dõi nhịp điệu hoạt động suốt 24 giờ.
- Điều tra bọ gậy: Thu thập bọ gậy trong các dụng cụ chứa nước nhân tạo (bể, phuy, chum, vại, lọ hoa, vỏ đồ hộp, mảnh bát vỡ) và các ổ nước tự nhiên trong rừng (hốc cây, hốc đá, gốc tre nứa).
- Thu thập trứng muỗi:
- Dùng bông thấm nước quét thành dụng cụ chứa nước từ mặt nước trở lên tại các bể chứa, hốc cây, hốc đá.
- Cắt các ống tre nứa có dính trứng đem về ngâm nước cho nở.
- Bẫy trứng (Ovitrap): Sử dụng vỏ hộp sữa bò sơn đen bên ngoài và 1/3 phía trong mép miệng, đục một lỗ thoát nước nhỏ gần miệng để chống tràn khi mưa to, lót giấy lọc thấm nước. Đặt khoảng 30 bẫy/đợt xung quanh nhà, vườn cây; thu bẫy sau 1 tuần và ngâm nước cho trứng nở thành bọ gậy để xác định loài.
- Kỹ thuật làm tiêu bản hiển vi:
- Nuôi bọ gậy thành muỗi trưởng thành và ngược lại để lấy trọn bộ tiêu bản liên kết gồm: xác bọ gậy, xác quăng, muỗi đực, muỗi cái và cơ quan giao phối đực.
- Muỗi trưởng thành cắm kim thủy tinh, bảo quản trong ống nghiệm có băng phiến, nút kín bằng nút lie.
- Xác bọ gậy, xác quăng và bộ phận sinh dục đực được làm tiêu bản cố định trên lam kính bằng dung dịch keo: Chloral-hydrat (74 g), gom arabic (10 g), axit axetic (3 ml) và nước cất (100 ml), đậy bằng lamen.
Các chỉ số dịch tễ và sinh thái học sử dụng
- Chỉ số nhà có muỗi (%) = $\frac{\text{Số nhà có muỗi}}{\text{Tổng số nhà điều tra}} \times 100$
- Chỉ số mật độ muỗi (con/nhà) = $\frac{\text{Tổng số muỗi thu được}}{\text{Tổng số nhà điều tra}}$
- Chỉ số nhà có bọ gậy (%) = $\frac{\text{Số nhà có bọ gậy}}{\text{Tổng số nhà điều tra}} \times 100$
- Chỉ số Breteau (BI) = $\frac{\text{Số dụng cụ chứa nước có bọ gậy}}{\text{100 nhà điều tra}}$
- Chỉ số dụng cụ có bọ gậy (CI, %) = $\frac{\text{Số dụng cụ có bọ gậy}}{\text{Tổng số dụng cụ điều tra}} \times 100$
- Chỉ số bẫy có trứng (%) = $\frac{\text{Số bẫy có trứng}}{\text{Tổng số bẫy đặt}} \times 100$
- Chỉ số dụng cụ có trứng (%) = $\frac{\text{Số dụng cụ có trứng}}{\text{Tổng số dụng cụ điều tra}} \times 100$
- Chỉ số mật độ muỗi bám đốt người = Số muỗi đến hút máu/người/giờ điều tra.
- Dữ liệu khí tượng (nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa) được trích xuất từ Cục Điều tra Cơ bản thuộc Tổng cục Khí tượng Thủy văn.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Đặc điểm địa lý tự nhiên và dân cư miền Bắc Việt Nam
Chương này tổng kết các nhân tố địa lý tự nhiên và nhân khẩu học chi phối sự phân bố và phát triển của khu hệ muỗi Aedes:
- Vị trí và địa hình: Miền Bắc Việt Nam (từ lưu vực sông Cả trở ra) có địa hình đồi núi chiếm 80% diện tích, chia làm hai vùng Đông Bắc và Tây Bắc ngăn cách bởi thung lũng sông Hồng. Vùng Đông Bắc có các cao nguyên đá vôi (Đồng Văn, Cao Bằng, Bắc Hà cao trên 1.000 m) và 4 cánh cung núi lớn (sông Gâm, Ngân Sơn, Bắc Sơn, Đông Triều). Vùng Tây Bắc có dãy Hoàng Liên Sơn dài hơn 500 km và các cao nguyên giữa sông Đà và sông Mã. Quá trình Karst hóa tạo ra vô số hốc đá chứa nước mưa – là sinh cảnh thuận lợi cho bọ gậy nhiều loài Aedes rừng phát triển. Đồng bằng châu thổ Bắc Bộ và đồng bằng ven biển Thanh - Nghệ Tĩnh có mạng lưới sông ngòi dày đặc.
- Khí hậu: Nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh rõ rệt: mùa nóng mưa nhiều (tháng V đến tháng X, chiếm 80–85% lượng mưa cả năm, nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất tại Hà Nội đạt 28,8°C); mùa lạnh khô/ít mưa (tháng XI đến tháng IV năm sau, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và front lạnh, nhiệt độ trung bình tháng I tại Hà Nội là 16,5°C, vùng núi cao có thể xuống dưới 0°C). Lượng mưa trung bình năm từ 1.500 đến 1.800 mm (một số vùng núi cao đạt 2.000–3.000 mm).
- Dân cư và sinh hoạt: Dân số miền Bắc vào thời điểm nghiên cứu khoảng trên 25 triệu người, tập trung 80% tại vùng đồng bằng (Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, các thị xã và làng mạc ven biển). Thói quen tích trữ nước sinh hoạt trong chum, vại, bể chứa do hệ thống cấp nước chưa đồng bộ tạo nguồn ổ đẻ nhân tạo dồi dào cho muỗi Ae. aegypti.
Chương II: Đặc điểm hình thái muỗi Aedes
Tác giả mô tả chi tiết giải phẫu hình thái ở 4 pha phát triển làm cơ sở khóa định loại:
- Trứng (Ovum): Kích thước nhỏ (<1 mm), hình bầu dục thon dài dạng thuyền, màu đen xẫm. Bọc ngoài bằng màng globulin trong suốt và màng chorion màu trắng sữa bám sát vỏ tạo bề mặt gồ ghề. Trứng không nổi thành bè mà đẻ rời rạc bám vào thành dụng cụ chứa nước ngay sát trên mặt nước.
- Bọ gậy (Larva): Cấu tạo gồm 3 phần:
- Đầu: Hình cầu, mang mắt kép, mắt đơn, đôi râu (anten) có lông râu, chùm lông bàn chải miệng trước đầu, đôi hàm trên (mandibule), đôi hàm dưới (maxilla), tấm môi dưới (mentum) có viền răng cưa đặc trưng. Luận án đối chiếu hệ thống lông đầu theo Martini, Belkin và Edwards (Bảng 2 trong văn bản).
- Ngực: 3 đốt dính liền (ngực trước, ngực giữa, ngực sau), mang hệ thống lông ngực xếp đối xứng.
- Bụng: Gồm 8 đốt bình thường và đốt đuôi (đốt anal). Đốt VIII mang lược bọ gậy (comb scales) với số lượng và hình dạng răng lược đặc trưng cho từng loài; mang ống thở (siphon) có chỉ số ống thở (tỷ lệ chiều dài/chiều rộng), hàng gai siphon (pecten) và chùm lông siphon. Đốt cuối có tấm yên (saddle), các chùm lông đuôi và 4 lá mang hậu môn trong suốt.
- Quăng (Nympha): Dạng dấu phẩy. Phần đầu - ngực dính liền mang đôi ống thở hình loa kèn, mắt kép và mầm cánh, mầm chân. Bụng gồm 8 đốt linh động, đốt cuối mang đôi mái chèo (paddles) có lông ngọn.
- Muỗi trưởng thành (Imago):
- Kích thước trung bình, cơ thể phủ nhiều vảy trắng bạc tạo thành các khoang, vệt vằn đặc trưng trên nền đen/nâu.
- Đầu: Vòi chích hút dài, đôi pan (palpi) ở con đực dài hơn vòi hoặc bằng vòi, ở con cái ngắn hơn nhiều so với vòi. Râu 14–15 đốt (con đực lông rậm dạng lông chim, con cái lông thưa).
- Ngực: Mặt lưng ngực giữa (scutum) và mai (scutellum 3 thùy) phủ các vảy đen xen lẫn các dải, đốm vảy trắng bạc có giá trị phân loại cao. Mặt bên ngực (pleuron) có các cụm vảy trắng trên propleurum, sternopleurum và mesoepimeron. Cánh có hệ thống gân cánh đặc trưng (costa, subcosta, gân dọc 1 đến 6). Chân có các vòng vảy trắng bạc ở các đốt đùi, cẳng và đốt bàn chân (tarsus).
- Bụng: 8 đốt, các đốt mang băng vảy trắng ngang hoặc đốm trắng bên hông.
- Bộ máy sinh dục đực: Đốt đáy lớn (basistyle/gonocoxite), đốt ngọn (dististyle/gonostylus), thùy đáy (basal lobe), thùy đỉnh (apical lobe), móc claspette hình liềm hoặc chóp que, và khối phallosome (aedeagus).
Chương III: Đặc điểm của khu hệ muỗi Aedes ở miền Bắc Việt Nam
Dựa trên phân tích hơn 40.000 mẫu vật thu thập được, tác giả xác định khu hệ muỗi Aedes miền Bắc gồm 40 loài thuộc 8 phân giống:
| Phân giống | Số loài ghi nhận | Đại diện tiêu biểu |
|---|---|---|
| Aedes Meigen, 1918 | 6 | Ae. agrestis, Ae. andamanensis, Ae. dux, Ae. hirsutipleura, Ae. uniformis, Ae. vallistris |
| Aedimorphus Theobald, 1905 | 5 | Ae. caecus, Ae. mediolineatus, Ae. taeniorhynchoides, Ae. vexans |
| Cancraedes Edwards, 1929 | 1 | Ae. cancricomes |
| Finlaya Theobald, 1903 | 15 | Ae. alongi, Ae. assamensis, Ae. aureostriatus, Ae. chrysolineatus, Ae. elsiae, Ae. macfarlanei, Ae. niveoides, Ae. niveus, Ae. prominens, Ae. saxicola, Ae. tonkinensis, Ae. (Finlaya) sp.1, Ae. (Finlaya) sp.2 |
| Mucidus Theobald, 1901 | 1 | Ae. laniger |
| Neomelaniconion Newstead, 1907 | 2 | Ae. imprimens, Ae. lineatopennis |
| Paraedes Edwards, 1934 | 1 | Ae. ostentatio |
| Stegomyia Theobald, 1901 | 9 | Ae. aegypti, Ae. albopictus, Ae. w-albus, Ae. annandalei, Ae. gardnerii imitator, Ae. desmotes, Ae. mediopunctatus, Ae. pseudalbopictus, Ae. vittatus |
- Phát hiện mới:
- Phát hiện 16 loài lần đầu tiên ghi nhận có mặt tại miền Bắc Việt Nam.
- Phát hiện 2 dạng loài thuộc phân giống Finlaya ký hiệu là Ae. (Finlaya) sp.1 và Ae. (Finlaya) sp.2 có các đặc điểm hình thái muỗi trưởng thành và bọ gậy khác biệt với các tài liệu đã công bố, được tác giả mô tả chi tiết và đề xuất là loài mới cho khoa học.
- Mô tả chi tiết địa điểm phân bố thế giới, phân bố tại các tỉnh miền Bắc, đặc tính sinh học bọ gậy và ổ bọ gậy tự nhiên (hốc đá tai mèo, đốt tre nứa mục, hốc cây rừng, vũng nước bẩn) của từng loài trong danh mục.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học
- Hoàn thiện bức tranh khu hệ học: Nâng tổng số loài Aedes đã biết ở miền Bắc Việt Nam từ 24 loài lên 40 loài (thuộc 8 phân giống), chứng minh tính đa dạng sinh học nhiệt đới cao của khu hệ Culicidae khu vực Đông Dương.
- Ghi nhận đơn vị phân loại mới: Bổ sung 16 loài mới cho danh lục miền Bắc và phát hiện 2 loài có khả năng là loài mới cho khoa học thuộc phân giống Finlaya (Ae. sp.1 và Ae. sp.2).
- Lập bộ tiêu bản chuẩn: Xây dựng hệ thống tiêu bản đối chiếu hoàn chỉnh bao gồm xác bọ gậy, xác quăng, muỗi trưởng thành đực/cái và cơ quan sinh dục đực phục vụ nghiên cứu côn trùng học y học.
Đóng góp thực tiễn và giải pháp đề xuất
- Cơ sở khoa học cho dịch tễ học sốt xuất huyết: Làm sáng tỏ các ổ sinh thái tự nhiên và nhân tạo của các véc tơ truyền bệnh chính (Ae. aegypti, Ae. albopictus) và các loài tiềm năng (Ae. niveus, Ae. vexans), giúp giải thích cơ chế bùng phát dịch tại đô thị và vùng nông thôn, miền núi.
- Cải tiến kỹ thuật giám sát véc tơ: Đề xuất và hoàn thiện phương pháp bẫy trứng cải tiến (Ovitrap từ vỏ hộp sữa bò sơn đen có lỗ thoát nước) và chỉ số bẫy trứng trong công tác dự báo sớm nguy cơ bùng phát muỗi Aedes.
- Định hướng phòng chống chủ động: Cung cấp dẫn liệu khoa học về nhịp điệu hoạt động, tập tính trú đậu, mùa vụ phát triển và sinh cảnh đẻ trứng để tối ưu hóa thời gian và địa bàn phun hóa chất diệt muỗi, thả tác nhân sinh học diệt bọ gậy (cá, Bacillus, muỗi Toxorhynchites).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Trong số 40 loài được xác định, có 2 loài ghi nhận theo tài liệu lịch sử trước đây nhưng tác giả chưa thu thập lại được mẫu vật thực tế trong giai đoạn 1970–1985; hai loài mới thuộc phân giống Finlaya (sp.1 và sp.2) cần được kiểm tra, so sánh thêm với các mẫu chuẩn quốc tế trước khi công bố chính thức tên loài. Dữ liệu sinh học, sinh thái của một số loài phân bố hẹp ở rừng sâu núi cao chưa được nghiên cứu chi tiết do điều kiện đi lại khó khăn.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục khảo sát các vùng núi giáp biên giới Việt - Trung, Việt - Lào; ứng dụng các kỹ thuật sinh học phân tử và di truyền tế bào để xác định chính xác các phức hợp loài; nghiên cứu cơ chế kháng hóa chất diệt côn trùng ở muỗi Ae. aegypti và Ae. albopictus.
Giá trị tham khảo
- Nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Côn trùng học, Ký sinh trùng học, Động vật học: Nguồn tư liệu chuyên khảo về hình thái học so sánh, cấu trúc lông bọ gậy, cấu tạo cơ quan sinh dục đực và khóa định loại chi tiết giống Aedes.
- Cán bộ y tế dự phòng, Viện Vệ sinh Dịch tễ, Trung tâm Sốt rét - Chống sốt rét các tuyến: Tài liệu hướng dẫn phương pháp giám sát véc tơ sốt xuất huyết (chỉ số Breteau, mật độ muỗi, bẫy trứng) và xây dựng kế hoạch kiểm soát véc tơ theo mùa và theo sinh cảnh đặc thù.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án ghi nhận bao nhiêu loài muỗi Aedes ở miền Bắc Việt Nam và phân bổ vào mấy phân giống?
Luận án ghi nhận 40 loài muỗi Aedes thuộc 8 phân giống: Finlaya (15 loài), Stegomyia (9 loài), Aedes (6 loài), Aedimorphus (5 loài), Neomelaniconion (2 loài), Cancraedes (1 loài), Mucidus (1 loài) và Paraedes (1 loài).
2. Hai loài muỗi nào đóng vai trò véc tơ truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue quan trọng nhất được phân tích trong luận án?
Hai loài quan trọng nhất là Aedes (Stegomyia) aegypti (véc tơ truyền bệnh chính ở khu vực đô thị, đồng bằng ven biển) và Aedes (Stegomyia) albopictus (véc tơ phổ biến ở vùng nông thôn, trung du, bán sơn địa và rừng núi).
3. Công thức dung dịch gắn tiêu bản hiển vi được tác giả sử dụng gồm những thành phần nào?
Dung dịch gắn tiêu bản gồm: Chloral-hydrat (74 g), gom arabic (10 g), axit axetic (3 ml) và nước cất (100 ml).
4. Bẫy trứng muỗi Aedes (Ovitrap) được tác giả thiết kế và sử dụng như thế nào?
Bẫy được làm bằng vỏ hộp sữa bò sơn đen bên ngoài và 1/3 phía trong mép, có đục một lỗ nhỏ sát mép miệng để thoát nước chống ngập khi mưa to. Bên trong lót giấy lọc thấm ướt nước, đặt ở các góc khuất quanh nhà, chuồng trại hoặc dưới tán cây trong 1 tuần để thu hút muỗi cái đến đẻ trứng.
5. Ba điểm nghiên cứu cố định trong luận án được đặt tại những địa phương nào và đại diện cho các vùng cảnh quan nào?
Ba điểm cố định gồm: (1) Nội thành Hà Nội (đại diện cho đô thị đồng bằng mật độ dân cư cao); (2) Xã Nga Liên, huyện Trung Sơn, tỉnh Thanh Hóa (đại diện cho vùng đồng bằng ven biển); (3) Xã Quang Hiến, huyện Lương Ngọc, tỉnh Thanh Hóa (đại diện cho vùng rừng núi và nương rẫy).
Kết luận
Luận án Phó tiến sĩ Sinh học của tác giả Vũ Đức Hương (1984) là công trình chuyên khảo hệ thống về khu hệ muỗi Aedes tại miền Bắc Việt Nam dựa trên tập mẫu vật hơn 40.000 cá thể tại 74 điểm điều tra thuộc 19 tỉnh thành. Công trình đã làm sáng tỏ cấu trúc phân loại của 40 loài thuộc 8 phân giống, ghi nhận 16 loài mới cho miền Bắc, phát hiện 2 loài nghi mới cho khoa học và hoàn thiện hệ thống khóa định loại hình thái ở cả 4 giai đoạn phát triển. Các dẫn liệu về quy luật phát triển, phân bố ổ bọ gậy và phương pháp bẫy trứng cải tiến cung cấp cơ sở khoa học cho công tác dự báo dịch và phòng chống véc tơ truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue.