Tổng quan luận án

Luận án Phó tiến sỹ Khoa học Sinh học của tác giả Hà Thị Quyên, bảo vệ năm 1995 tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, có tiêu đề: "Nghiên cứu mồi bả diệt muỗi và kết quả khảo nghiệm phòng trừ muỗi truyền bệnh ở Quảng Bình". Luận án thuộc chuyên ngành Sinh học (Côn trùng học y học - Ký sinh trùng học), thực hiện theo hướng tiếp cận kết hợp giữa điều tra sinh thái thực địa định lượng và nghiên cứu thực nghiệm ứng dụng.

Tính cấp thiết của luận án xuất phát từ thực trạng muỗi là vật trung gian truyền bốn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm: sốt rét, sốt xuất huyết Dengue, viêm não Nhật Bản B và giun chỉ bạch huyết. Tại tỉnh Quảng Bình, tình hình dịch tễ mang tính điển hình và phức tạp: sốt rét lưu hành dai dẳng với khoảng 230.000 người sống trong vùng nguy cơ và hàng năm có từ 10.000 người mắc; dịch sốt xuất huyết thường xuyên xảy ra; vùng lưu hành bệnh giun chỉ bạch huyết rộng với khoảng 40.000 người, trong đó tỷ lệ nhiễm ấu trùng giun chỉ tại hai xã Hải Ninh và Gia Ninh (huyện Quảng Ninh) là 2,30%.

Trong kiểm soát muỗi, biện pháp hóa học có hiệu quả cao nhất nhưng chủ yếu áp dụng dưới dạng phun tồn lưu, phun không gian, tẩm màn, hương xua hoặc kem bôi. Việc phun tồn lưu hóa chất kéo dài đã dẫn đến hiện tượng muỗi kháng thuốc và thay đổi tập tính để tránh thuốc. Tại Quảng Bình, trong hơn 30 năm (từ năm 1961 đến năm 1994), địa phương đã sử dụng khoảng 900 tấn DDT (bình quân mỗi năm phun 20 đến 50 tấn để bảo vệ 150.000 người). Hậu quả là nhiều loài muỗi phát triển sức đề kháng hoặc hình thành tập tính tránh tiếp xúc với hóa chất bám trên tường vách, chuyển ra trú đậu và hút máu ngoài nhà. Khi chuyển sang các hóa chất nhóm Pyrethroid như Deltamethrin hay Icon, hiệu lực tồn lưu trên bề mặt tường gạch vôi bị suy giảm nhanh (Icon chỉ tồn lưu khoảng 1 tháng trên tường gạch vôi). Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra là: cho đến thời điểm nghiên cứu, trong nước và quốc tế chưa có công trình nào nghiên cứu ứng dụng phương thức dùng mồi bả độc qua đường tiêu hóa để tiêu diệt muỗi trưởng thành.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm bốn nội dung:

  1. Xác định thành phần loài và sự phân bố của một số loài muỗi có vai trò dịch tễ quan trọng ở Quảng Bình.
  2. Nghiên cứu điều chế, sản xuất mồi diệt muỗi.
  3. Đánh giá hiệu quả áp dụng mồi diệt muỗi trong việc phòng chống một số loài muỗi có vai trò truyền bệnh quan trọng ở Quảng Bình.
  4. Kiến nghị áp dụng phương thức mới diệt muỗi truyền bệnh bằng mồi bả.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Quần thể muỗi Culicidae (đặc biệt là các loài Anopheles minimus, Anopheles dirus, Aedes aegypti, Culex quinquefasciatus, Culex tritaeniorhynchus) và bọ gậy của chúng; các thành phần dẫn dụ (máu động vật, bột hoa quả, đường) và các hóa chất diệt côn trùng (Propoxur, Dipterex, Deltamethrin, Icon).
  • Phạm vi không gian: Tỉnh Quảng Bình với diện tích tự nhiên 8.750 km², được phân chia thành bốn vùng cảnh quan: vùng nước chảy núi rừng, vùng nước chảy núi đồi, vùng núi đồi giáp biển và vùng đồng bằng ven biển. Địa bàn điều tra bao gồm 31 điểm trên toàn tỉnh; khảo nghiệm phòng thí nghiệm tiến hành tại Phân viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn và Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Hà Nội; khảo nghiệm thực địa triển khai tại thị xã Đồng Hới và các huyện thuộc tỉnh Quảng Bình.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu nghiên cứu thực nghiệm được thu thập từ năm 1975 đến năm 1994 có sự tham gia trực tiếp của tác giả; kết hợp tham khảo số liệu lưu trữ giai đoạn 1961 - 1974 tại Trạm Sốt rét Quảng Bình. Giai đoạn nghiên cứu mồi bả bắt đầu từ tháng 8/1991 và nghiệm thu vào tháng 6/1994.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan tài liệu, tác giả hệ thống hóa các nghiên cứu trong nước và quốc tế theo ba nhóm nội dung chính:

Thứ nhất, về vai trò truyền bệnh và phân loại muỗi:

  • Trên thế giới: Tác giả trích dẫn các dấu mốc lịch sử như Laveran (1880) phát hiện ký sinh trùng sốt rét; Ronald Ross (1898) xác định chu kỳ phát triển của ký sinh trùng trong muỗi Anopheles; Bruce-Chwatt (1980) tổng kết thiệt hại của bệnh sốt rét trên phạm vi toàn cầu những năm 1950. Về phân loại học Anopheles, tác giả điểm lại công trình của các học giả: Theobald (1901 - 1910), Leicester (1908), Stanton (1912), Stojanovich và Scott (1966), Reid (1968), Harrison (1975), Stone (1959, 1968). Về sốt xuất huyết Dengue và vectơ Aedes aegypti, văn bản dẫn các nghiên cứu của Plotnikov (1964), Pervomaiskyi và Podoliana (1974), WHO (1986). Về viêm não Nhật Bản B, tác giả nêu các nghiên cứu phân lập virus trên muỗi Culex tritaeniorhynchus của Sehgal (1989 ở Ấn Độ), Leake và Johnson (1987). Về bệnh giun chỉ bạch huyết (Wuchereria bancrofti, Brugia malayi, Brugia timori), tác giả điểm lại công trình của Manson (1878) phát hiện ấu trùng trong cơ thể muỗi Culex fatigans.
  • Tại Việt Nam: Các nghiên cứu thời kỳ đầu của Laveran (1901), Bonet (1906), Morin (1930), Mathis và Leger (1911). Từ sau năm 1957, Viện Sốt rét, Ký sinh trùng - Côn trùng đẩy mạnh nghiên cứu: Đặng Văn Ngữ và ctv (1973), Vũ Thị Phan và ctv (1975, 1985), Nguyễn Thọ Viễn, Trần Đức Hinh, Nguyễn Đức Mạnh và ctv (1975, 1982, 1983, 1985, 1987), Đỗ Văn Quý (1962), Nguyễn Thượng Hiền (1968), Nguyễn Đức Mạnh (1987). Các công trình đã xác định 56 loài Anopheles ở miền Bắc, 43 loài ở miền Nam, 38 loài ở Tây Nguyên; định danh An. minimus là trung gian truyền sốt rét ở vùng rừng núi, An. dirus ở vùng rừng rậm và An. sundaicus ở vùng ven biển miền Nam. Đối với Aedes aegypti, tác giả điểm qua nghiên cứu của Vũ Đức Hương (1984, 1987), Hoàng Thủy Nguyên và ctv (1986 - 1991), Lê Khánh Thuận và ctv (1980 - 1989), Nguyễn Thị Bạch Ngọc và Trương Quang Học (1993), Vũ Sinh Nam (1995). Đối với viêm não Nhật Bản B, có công trình của Đoàn Xuân Mượu và ctv (1965), Đỗ Quang Hà (1978), Vũ Sinh Nam và ctv (1985), Nguyễn Thị Bạch Ngọc (1995). Về bệnh giun chỉ, có công trình của Sery và Phạm Văn Nông (1960 - 1975), Nguyễn Duy Toàn (1985, 1987), Trần Đức Hinh và ctv (1987).

Thứ hai, về sinh học, sinh thái và hiện tượng kháng hóa chất của muỗi: Tác giả dẫn liệu từ Olxufev (1940), Beklemisev (1944), Bruce-Chwatt (1980), Herath và Davidson (1980), Davidson (1974), Suarez (1990) và WHO (1977, 1981, 1992) nhằm làm rõ tập tính hút máu bắt buộc của muỗi cái, vai trò của CO2, nhiệt độ, mùi vị trong việc dẫn dụ muỗi, cũng như cơ chế kháng sinh lý và kháng tập tính (tránh thuốc). Tại Việt Nam, hiện tượng kháng thuốc và tránh thuốc được chứng minh qua công trình của Vũ Thị Phan và ctv (1980), Nguyễn Văn Chí và ctv (1981 - 1987), Trịnh Đình Đạt và ctv (1993), Hà Thị Quyên (1987), Nguyễn Thọ Viễn và Nguyễn Đức Mạnh (1985).

Thứ ba, về các biện pháp phòng chống muỗi:

  • Biện pháp hóa học: Lịch sử sử dụng DDT (Paul Müller nhận giải Nobel năm 1948); lân hữu cơ Malathion, Sumithion (Nguyễn Thúy Hoa và ctv, 1992); Carbamate Propoxur (Molineaux và Gramiccia, 1980; Nguyễn Trắc Tiến, Phạm Thị Ngọc Diệp, Nguyễn Thúy Hoa, 1989); Pyrethroid tổng hợp gồm Permethrin, Deltamethrin, Icon (Nguyễn Long Giang, Nguyễn Thượng Hiền, Phạm Thị Hòa, 1990; Vũ Đức Hương và ctv, 1993).
  • Biện pháp sinh học: Sử dụng cá ăn bọ gậy (Costa và Fernando, 1975 - 1985; Nguyễn Văn Chí và ctv, 1987; Nguyễn Thọ Viễn và Trần Đức Hinh, 1990; Nguyễn Thị Bạch Ngọc và Trương Quang Học, 1993); vi khuẩn Bacillus thuringiensis serotype H-14 (Kramer, Garcia, Colwell, 1985; Nguyễn Thụy Hùng và ctv, 1987); nấm Lagenidium giganteum; tinh dầu thảo mộc hương nhu và bưởi (Vũ Đức Hương và ctv, 1994).
  • Biện pháp cơ học và bẫy: Bẫy New Jersey, bẫy đèn CDC, bẫy âm thanh (Ikesoji, 1985; Kanda, 1988).

Khoảng trống luận án giải quyết: Hóa chất Propoxur từng được Nguyễn Trắc Tiến và cộng sự (1989) thử nghiệm làm bả độc 2% diệt ruồi và gián, nhưng chưa từng được áp dụng để diệt muỗi. Toàn bộ các tài liệu chuyên môn được khảo sát chưa ghi nhận giải pháp chế tạo mồi bả diệt muỗi dựa trên tập tính dinh dưỡng để đưa chất độc vào đường tiêu hóa của muỗi trưởng thành. Luận án đặt mục tiêu giải quyết khoảng trống này nhằm cung cấp một phương tiện bổ sung, khắc phục nhược điểm của biện pháp phun tồn lưu bề mặt.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên các cơ sở lý thuyết sinh học và dịch tễ học côn trùng:

  1. Cơ sở sinh lý dinh dưỡng: Muỗi cái cần protein trong máu động vật để phát triển buồng trứng và trứng chín (chu kỳ tiêu máu song song với phát triển trứng). Tuy nhiên, muỗi đực và muỗi cái trong điều kiện thiếu máu vẫn hấp thụ các chất đường từ mật hoa, dịch cây và hoa quả để duy trì hoạt động trao đổi chất.
  2. Cơ sở sinh thái và tập tính: Muỗi tìm kiếm vật chủ nhờ phản xạ đối với nhiệt độ, mùi vị và khí carbonic (CO2). Khi môi trường sống có hóa chất tiếp xúc xua đuổi, muỗi có khả năng thay đổi nơi trú đậu (kháng tập tính).
  3. Cơ sở độc học côn trùng: Hoạt chất Carbamate (Propoxur) tác động qua cả đường tiếp xúc và tiêu hóa. Khi phối chế ở tỷ lệ thấp với các chất dẫn dụ dinh dưỡng thích hợp, thuốc không gây phản xạ xua đuổi, buộc muỗi hấp thụ chất độc qua đường tiêu hóa khi ăn uống mồi.

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm các kỹ thuật điều tra côn trùng học và quy trình thực nghiệm:

Phương pháp nghiên cứu muỗi:

  • Tuân thủ thường quy của Tổ chức Y tế Thế giới (OMS 1962, WHO 1975) và Viện Sốt rét, Ký sinh trùng và Côn trùng Hà Nội (1971).
  • Điều tra muỗi ban ngày: Thực hiện từ 7 giờ đến 11 giờ bằng ống tuýp bắt muỗi trú đậu trên quần áo, chăn màn, vách tường trong nhà; soi bắt ngoài tự nhiên tại các hốc cây, bụi rậm, vách đá, hầm hào.
  • Điều tra muỗi ban đêm: Thực hiện từ 19 giờ đến 23 giờ (hoặc mồi người suốt đêm từ 19 giờ đến 7 giờ sáng hôm sau) bằng phương pháp mồi người trong nhà, mồi người ngoài trời, soi bắt ở chuồng gia súc và thu thập bằng bẫy đèn CDC.
  • Các chỉ số tính toán: Mật độ muỗi mồi người (MBI: số muỗi bắt được / số người bắt x số giờ bắt); mật độ muỗi theo nhà (MD: số muỗi bắt được / số nhà điều tra); tỷ lệ (%) nhà có muỗi.
  • Điều tra bọ gậy: Điều tra tại các thủy vực tự nhiên và các dụng cụ chứa nước sinh hoạt (bể nước ăn, bể làm lạnh nấu rượu, lốp xe hỏng, xô chậu, gáo dừa). Tính mật độ bọ gậy (số bọ gậy / số dụng cụ múc) và các chỉ số dịch tễ của Aedes aegypti: chỉ số Breteau (số dụng cụ có bọ gậy / 100 nhà điều tra), chỉ số Container (% dụng cụ có bọ gậy / tổng số dụng cụ điều tra), chỉ số Premise (% nhà có bọ gậy / tổng số nhà điều tra).
  • Định loại và bảo quản mẫu: Sử dụng bảng định loại của Stone (1959, 1968) và Viện Sốt rét, Ký sinh trùng và Côn trùng Hà Nội (1968, 1987). Muỗi trưởng thành được cắm kim thủy tinh, lưu trữ trong ống nghiệm đáy bằng có băng phiến hút ẩm. Bọ gậy được làm tiêu bản hiển vi gắn bằng dung dịch gồm: Hydrat chloral (74 gam), Axit axetic (3 ml), Gom Arabic (8 gam) và nước cất (15 ml).

Phương pháp điều chế và khảo nghiệm mồi bả diệt muỗi:

  • Tuyển chọn chất dẫn dụ: Tiến hành thử nghiệm trên 810 mẫu thử với các loại máu động vật (máu người, bò, gà, lợn, thỏ, có bổ sung chất chống đông dung dịch Natri citrat 3,8%) và bột hoa quả tươi (dứa, táo, xoài, chuối) ở các tỷ lệ khác nhau trong màn thí nghiệm (thả muỗi Culex thực địa) và trong nhà ở.
  • Tuyển chọn hóa chất diệt: Thử nghiệm 535 mẫu thí nghiệm đối với bốn loại hóa chất: Dipterex, Deltamethrin, Icon và Propoxur nhằm tìm loại hóa chất và nồng độ thích hợp, không làm giảm sức hút của mồi dẫn dụ và đảm bảo khả năng diệt muỗi.
  • Đánh giá trong phòng thí nghiệm: Thử nghiệm trên muỗi cái trưởng thành (An. vagus, Ae. aegypti, Cx. quinquefasciatus) nuôi trong phòng thí nghiệm hoặc nở từ bọ gậy tuổi 4, nhốt trong màn kích thước 2m x 1,6m x 1,6m ở nhiệt độ 25 - 30°C, độ ẩm 80 - 90%. Xác định thời gian chết 50% và 100% bằng phương pháp Goscause logaris.
  • Khảo nghiệm thực địa hẹp: Xác định phương thức tác động của mồi bả qua ba công thức bố trí: (a) Đổ mồi vào đĩa, để khô, không cho nước; (b) Đổ mồi vào đĩa hòa với 30ml nước, bịt vải màn kín miệng đĩa không cho muỗi tiếp xúc trực tiếp; (c) Đổ mồi vào đĩa hòa với 30ml nước, để hở đặt ở góc nhà. Theo dõi số lượng muỗi chết theo giờ, tỷ lệ đực/cái, khoảng cách bay ra chết và thời gian tác dụng tồn lưu của đĩa mồi.
  • Khảo nghiệm thực địa diện rộng quy mô thôn/xã: Triển khai trên 329 hộ gia đình, phát 4.000 gói mồi trong 2 tháng; theo dõi mật độ muỗi ban ngày trong nhà, các chỉ số bọ gậy trước và sau khi đặt mồi; phát phiếu trắc nghiệm thăm dò sự chấp nhận của người dân.

Nguồn tư liệu và kỹ thuật phân tích:

  • Dữ liệu thực nghiệm thu thập qua 74 lần điều tra tại 31 điểm trên địa bàn Quảng Bình; riêng Anopheles điều tra 69 lần tại 29 điểm với 2.120 giờ bắt muỗi trưởng thành và 22.000 múc bọ gậy.
  • Xử lý số liệu bằng phương pháp toán thống kê sinh học theo tài liệu hướng dẫn của Lê Khánh Trai và Hoàng Mậu Nhu (1979), Ngô Nhu Hòa (1981), áp dụng kiểm định so sánh tỷ lệ và giá trị p.

Nội dung chính theo từng chương

Kết quả nghiên cứu về muỗi Culicidae ở Quảng Bình

Chương này trình bày các phát hiện về thành phần loài, sự phân bố sinh thái và biến động tập tính của các loài muỗi tại Quảng Bình qua các đợt điều tra thực địa.

Qua 2.120 giờ điều tra muỗi trưởng thành và 22.000 múc bọ gậy tại 29 điểm, tác giả đã thu thập 6.452 cá thể muỗi trưởng thành và 2.143 bọ gậy Anopheles, định danh được 32 loài Anopheles (chiếm 57% tổng số 56 loài ghi nhận tại Việt Nam). Trong đó, phân giống Anopheles Meigen, 1918 có 12 loài và phân giống Cellia Theobald, 1902 có 20 loài.

Sự phân bố thành phần loài Anopheles theo bốn vùng cảnh quan được ghi nhận như sau:

Vùng cảnh quan Số loài ghi nhận Đặc điểm phân bố tiêu biểu
Nước chảy núi rừng 30 Thành phần loài phong phú nhất; rừng nhiệt đới nhiều tầng.
Nước chảy núi đồi 24 Vùng gò đồi, rừng nghèo, cây bụi thảo mộc.
Núi đồi giáp biển 23 Dãy núi ăn lan ra sát bờ biển (vực Đèo Ngang, Quảng Đông).
Đồng bằng ven biển 16 Đồng bằng hẹp bị chia cắt, cồn cát ven biển.

Văn bản ghi nhận 15 loài bắt gặp ở cả bốn vùng cảnh quan. Đáng chú ý, loài An. philippinensis (vốn được tài liệu trước đó ghi nhận chỉ phân bố ở vùng núi rừng) lại xuất hiện ở cả bốn vùng; một số loài nước lợ/ngọt đồng bằng cũng xuất hiện tại bìa rừng miền Tây Quảng Bình. Luận án cũng ghi nhận sự hiện diện đồng thời của hai loài thuộc nhóm leucosphyrus: An. dirus (phân bố chủ yếu ở rừng núi phía Nam) và An. takasagoensis (ở vùng núi rừng phía Bắc).

Kết quả điều tra muỗi Anopheles bằng phương pháp mồi người ban đêm qua 321 giờ thu được 988 cá thể thuộc 21 loài (chiếm 65,63% tổng số loài tại địa phương):

  • Hai loài truyền bệnh sốt rét chủ yếu: An. minimus chiếm tỷ lệ 5,91% (mật độ 0,04 con/giờ/người); An. dirus chiếm 0,40% (mật độ 0,003 con/giờ/người).
  • Các loài truyền bệnh thứ yếu: An. maculatus chiếm trên 50% tổng số muỗi thu được (mật độ 0,38 con/giờ/người); An. vagus chiếm 5,41% (mật độ 0,04 con/giờ/người); An. aconitus chiếm 2,91% (mật độ 0,02 con/giờ/người); An. jeyporiensis chiếm 1,60% (mật độ 0,01 con/giờ/người).

Về muỗi Anopheles bắt trong nhà ban ngày, số liệu so sánh giữa hai giai đoạn phản ánh sự thay đổi lớn dưới tác động của hóa chất diệt:

  • Giai đoạn 1982 - 1992 (sử dụng DDT): Qua 222 giờ điều tra, bắt được 1.874 cá thể thuộc 6 loài; mật độ chung là 8,44 con/giờ; trong đó An. vagus chiếm ưu thế với 7,20 con/giờ; An. minimus đạt 0,21 con/giờ.
  • Năm 1994 (thay thế bằng Deltamethrin phun tồn lưu và Permethrin tẩm màn): Qua 64 giờ điều tra, bắt được 62 cá thể thuộc 6 loài; mật độ chung giảm gần 9 lần; mật độ An. vagus giảm 10 lần; hoàn toàn không bắt được cá thể An. minimus nào trú ẩn trong nhà.

Tác giả phân tích sâu về đặc tính sinh thái của Anopheles minimus: Loài này có mặt tại 100% điểm điều tra vùng rừng núi và 54,55% điểm vùng núi đồi giáp rừng/biển, hoàn toàn vắng mặt ở đồng bằng ven biển. Do tác động của việc phun hóa chất tồn lưu kéo dài, An. minimus đã hình thành tập tính tránh thuốc: năm 1994, muỗi bắt được chủ yếu ở chuồng gia súc (chiếm 85,71% tổng số An. minimus thu thập, mật độ 0,51 con/giờ/người); mồi người ngoài trời chiếm 11,43%, trong khi mồi người trong nhà chỉ chiếm 2,86%. Dù mật độ bọ gậy tại các suối nước chảy chậm vào tháng 4 - 5 rất cao (đạt tới 5 con/bát múc, chiếm 30 - 50% tổng số bọ gậy), muỗi trưởng thành vẫn không vào nhà trú ẩn mà tiêu máu ngoài nhà.

Đối với các loài muỗi truyền bệnh khác:

  • Aedes aegypti (truyền sốt xuất huyết): Phân bố trên địa bàn toàn tỉnh, mật độ tại vùng đô thị và đồng bằng đạt từ 2,34 đến 2,54 con/nhà. Các chỉ số bọ gậy ở mức rất cao, vượt ngưỡng nguy cơ bùng phát dịch theo quy định của OMS Tây Thái Bình Dương (chỉ số Breteau thực tế từ 89 đến 124, trong khi ngưỡng nguy cơ là Breteau > 20, Premise > 5%).
  • Culex quinquefasciatus (truyền giun chỉ) và Culex tritaeniorhynchus (truyền viêm não Nhật Bản B): Phân bố rộng; Cx. quinquefasciatus có mật độ trú ẩn trong nhà ban ngày rất cao tại vùng đồng bằng ven biển và thành thị, dao động từ 37,5 đến 55,5 con/giờ.

Nghiên cứu sản xuất mồi diệt muỗi

Nội dung này trình bày quá trình thực nghiệm xác định công thức phối chế, quy trình sản xuất và đánh giá độc tính của chế phẩm mồi bả.

Qua 810 mẫu thử nghiệm với các chất dẫn dụ và 535 mẫu thử nghiệm với hóa chất diệt, tác giả xác lập công thức tiêu chuẩn cho một gói mồi bả diệt muỗi khô:

Thành phần nguyên liệu Khối lượng trong 1 gói mồi Vai trò trong chế phẩm
Bột máu bò khô 3,0 gam Cung cấp nguồn đạm dẫn dụ muỗi cái phát triển trứng
Bột máu gà khô 1,0 gam Cung cấp nguồn đạm phối hợp kích thích vị giác muỗi
Bột hoa quả khô 1,0 gam Hương vị tự nhiên thu hút muỗi tìm thức ăn
Đường kính 10,0 gam Cung cấp năng lượng carbohydrate duy trì sự sống
Propoxur nguyên chất 54,0 miligam Hoạt chất diệt côn trùng tác động qua đường tiêu hóa
Nước lã (bổ sung khi dùng) 30,0 mililit (mg) Hòa tan hỗn hợp, tạo độ ẩm thu hút muỗi hút dịch

Hoạt chất Propoxur được lựa chọn vì có độc tính qua đường tiêu hóa mạnh, đồng thời ở nồng độ sử dụng rất nhỏ (54 mg/gói) không gây ức chế hoặc làm mất tính dẫn dụ của hỗn hợp máu và đường. Về mặt độc tính đối với người và gia súc, lượng Propoxur trong một gói mồi thấp hơn 20 lần so với liều lượng cho phép sử dụng trong y tế dự phòng, đảm bảo tính an toàn trong điều kiện sử dụng tại hộ gia đình.

Hiệu lực của mồi diệt muỗi trong điều kiện phòng thí nghiệm và thực địa

Trong phòng thí nghiệm: Mồi bả thể hiện hiệu lực thu hút và tiêu diệt hoàn toàn (100%) các lô muỗi thí nghiệm (An. vagus, Ae. aegypti, Cx. quinquefasciatus) sau 28 giờ (tính toán theo phương pháp Goscause logaris).

Trong thực địa hẹp:

  • Cơ chế tác động: Thí nghiệm kiểm chứng cho thấy ở nghiệm thức đĩa mồi khô (không thêm nước) và nghiệm thức đĩa mồi hòa 30ml nước nhưng bịt vải màn kín miệng đĩa, muỗi không bị tiêu diệt. Ngược lại, ở nghiệm thức đĩa mồi hòa nước để hở, muỗi bị thu hút đến hút dịch mồi và chết hàng loạt. Kết quả này chứng minh mồi bả diệt muỗi hoàn toàn qua đường tiêu hóa, không tác động qua đường xông hơi hay tiếp xúc bề mặt.
  • Phổ diệt và số lượng: Mồi bả thu hút và tiêu diệt được 12 loài muỗi thuộc ba giống (Culex: 5 loài; Anopheles: 5 loài; Aedes: 2 loài).
  • Số lượng muỗi chết ghi nhận tại một đĩa mồi dao động bình quân từ 56 đến 316 con/ngày đêm; số muỗi chết nhiều nhất ghi nhận trong một ngày đêm với một đĩa mồi là 455 con.
  • Cơ cấu thành phần muỗi chết định loại: Culex chiếm 92%, Anopheles chiếm 2,25%, Aedes chiếm 2,02%, phần còn lại là các loài khác.
  • Hiệu lực giảm mật độ: Tại điểm đặt mồi, mật độ muỗi đốt người giảm xuống thấp hơn 5 lần so với điểm đối chứng không đặt mồi.
  • Thời gian tác dụng tồn lưu: Hiệu lực diệt muỗi của một đĩa mồi hòa nước duy trì liên tục từ 13 đến 15 ngày trong điều kiện tự nhiên. Ngoài muỗi, mồi bả còn có tác dụng tiêu diệt ruồi, nhặng và gián.

Kết quả khảo nghiệm ứng dụng mồi diệt muỗi

Nội dung này đánh giá kết quả triển khai ứng dụng mồi bả trên diện rộng tại cộng đồng dân cư (329 hộ gia đình sử dụng 4.000 gói mồi trong thời gian 2 tháng) và phân tích hiệu quả kinh tế - kỹ thuật:

Hiệu quả giảm mật độ muỗi và bọ gậy:

  • Mật độ quần thể muỗi chung tại điểm thí nghiệm giảm xuống thấp hơn từ 2 đến 3 lần so với điểm đối chứng.
  • Mật độ Aedes aegypti giảm 10 lần, duy trì ổn định dưới mức chỉ số nguy hiểm bùng phát dịch (< 1 con/nhà).
  • Tỷ lệ nhà có muỗi Aedes aegypti ban đầu rất cao ở cả hai điểm (89,91% ở điểm thí nghiệm và 82,61% ở điểm đối chứng). Sau khi đặt mồi, từ lần điều tra thứ 2 đến lần thứ 9, tỷ lệ nhà có muỗi tại điểm thí nghiệm giảm sâu từ 5 đến 9 lần so với điểm đối chứng và so với lần điều tra đầu tiên, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001).
  • Các chỉ số bọ gậy Aedes aegypti (Premise, Container, Breteau) tại điểm thí nghiệm đều giảm rõ rệt so với ban đầu.
  • Mật độ muỗi Culex trong nhà giảm từ 2 đến 3 lần. Số lượng muỗi chết nhiều trong đĩa mồi và trên sàn nhà xung quanh có thể thu gom, định loại và chụp ảnh ghi nhận.
  • Riêng đối với muỗi Anopheles, mật độ muỗi bắt được trong nhà giảm không rõ rệt so với đối chứng (p > 0,05) nhưng duy trì ổn định. Nguyên nhân do muỗi Anopheles bắt được trong nhà tại điểm thí nghiệm chủ yếu là An. vagus - loài ưa đốt máu gia súc ngoài trời rồi mới bay vào nhà trú ẩn tiêu máu, đồng thời môi trường xung quanh liên tục bổ sung muỗi mới. Tác giả khẳng định chưa đủ điều kiện đánh giá hiệu lực mồi đối với An. minimus và An. dirus tại Quảng Bình vì mật độ trong nhà của hai loài truyền bệnh này hiện quá thấp do đổi tập tính.

Ý nghĩa môi trường và phân tích hiệu quả kinh tế: Luận án lập bảng so sánh định lượng về tiêu hao hóa chất và chi phí tài chính giữa phương thức dùng mồi bả và phương thức phun tồn lưu truyền thống để bảo vệ 329 hộ gia đình trong 2 tháng:

Phương thức / Loại hóa chất Lượng hóa chất sử dụng Đơn giá hóa chất Tổng chi phí hóa chất
Mồi bả diệt muỗi (4.000 gói) 296 gam Propoxur (100%) 800 đồng / gói 3,2 triệu đồng
Phun tồn lưu Propoxur 66 kg Propoxur (100%) 250.000 đồng / kg 16,5 triệu đồng
Phun tồn lưu Icon (10%) 10 kg Icon 700.000 đồng / kg 7,0 triệu đồng
Phun tồn lưu Deltamethrin (5%) 10 kg Deltamethrin 450.000 đồng / kg 4,5 triệu đồng
Phun tồn lưu DDT (75%) 88 kg DDT - -

Số liệu cho thấy mồi bả chỉ sử dụng 296 gam hoạt chất Propoxur nguyên chất, giảm lượng hóa chất phát tán vào môi trường sống từ hàng chục đến hàng trăm lần so với phun tồn lưu (cần tới 66 kg Propoxur hoặc 88 kg DDT), lượng tồn dư sau sử dụng không đáng kể. Về chi phí, mồi bả tiết kiệm chi phí hơn từ 1,4 đến 5 lần so với các hóa chất phun tồn lưu khác. Hơn nữa, tại khu vực đô thị có nhiều nhà xây bằng gạch vôi (vốn làm mất hoạt tính của hóa chất nhóm Pyrethroid rất nhanh), mồi bả phát huy tác dụng độc lập hoàn toàn với chất liệu tường vách. Quá trình triển khai không ghi nhận trường hợp ngộ độc nào ở người và vật nuôi, được cộng đồng chấp nhận sử dụng.

Kết quả và những đóng góp mới

Các đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học:

  1. Luận án đã hệ thống hóa và bổ sung dẫn liệu khoa học về thành phần loài muỗi Anopheles tại tỉnh Quảng Bình gồm 32 loài thuộc hai phân giống Anopheles và Cellia, chiếm 57% tổng số loài cả nước; đồng thời phân tích quy luật phân bố của chúng theo bốn vùng cảnh quan tự nhiên.
  2. Ghi nhận và chứng minh sự thay đổi tập tính sinh thái học của loài muỗi truyền sốt rét chủ yếu Anopheles minimus tại Quảng Bình dưới áp lực của hóa chất diệt: từ tập tính trú ẩn tiêu máu trong nhà chuyển sang tập tính tránh thuốc, trú ẩn và hút máu gia súc ngoài tự nhiên.
  3. Lần đầu tiên tại Việt Nam, luận án nghiên cứu thành công phương thức sử dụng hóa chất diệt muỗi tác động qua đường tiêu hóa bằng phương tiện mồi bả, mở ra hướng tiếp cận mới trong kiểm soát côn trùng y học.

Các đóng góp mới về mặt thực tiễn:

  1. Xác định công thức chế biến mồi bả diệt muỗi từ các nguyên liệu đơn giản, sẵn có (bột máu bò khô, bột máu gà khô, bột hoa quả khô, đường kính và một lượng rất nhỏ Propoxur), có khả năng sản xuất ở quy mô lớn với giá thành thấp (800 đồng/gói ở thời điểm nghiên cứu).
  2. Khảo nghiệm chứng minh hiệu lực diệt mạnh của mồi bả đối với các loài muỗi truyền bệnh nguy hiểm trong nhà: giảm 10 lần mật độ Aedes aegypti (hạ thấp dưới ngưỡng nguy cơ dịch sốt xuất huyết) và giảm từ 2 đến 3 lần mật độ muỗi Culex quinquefasciatus, đồng thời giảm mật độ muỗi chung và tần số muỗi đốt người.
  3. Mang lại giải pháp an toàn sinh thái và hiệu quả kinh tế cao: giảm lượng hóa chất phát tán ra môi trường sống thấp hơn 20 lần so với ngưỡng cho phép, chi phí chỉ bằng một phần nhỏ so với biện pháp phun tồn lưu hóa chất trên bề mặt tường vách.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất của tác giả:

  • Đề xuất áp dụng phương thức mồi bả diệt muỗi kết hợp với các biện pháp vệ sinh môi trường, thau rửa dụng cụ chứa bọ gậy để chủ động phòng chống sốt xuất huyết do Aedes aegypti và các bệnh do Culex truyền tại các vùng đồng bằng và đô thị.
  • Có thể sử dụng mồi bả thường xuyên tại từng hộ gia đình để bảo vệ cá nhân, hoặc tổ chức thành các đợt chiến dịch trọng điểm quy mô lớn để bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu được ghi nhận từ văn bản:

  • Do mật độ của hai loài muỗi truyền sốt rét chủ yếu (An. minimus và An. dirus) trong nhà tại Quảng Bình ở thời điểm khảo nghiệm quá thấp (do muỗi đổi tập tính ra ngoài nhà), tác giả chưa đủ điều kiện thực tế để khảo nghiệm và đưa ra kết luận về hiệu lực của mồi bả đối với việc phòng chống sốt rét tại địa phương.
  • Thành phần loài muỗi bị thu hút và tiêu diệt trong đĩa mồi tại thực địa chủ yếu là giống Culex (chiếm 92%), trong khi tỷ lệ muỗi Anopheles (2,25%) và Aedes (2,02%) thu gom được còn thấp.
  • Thời gian khảo nghiệm thực địa tại cộng đồng (2 tháng) chưa đủ dài để làm suy giảm triệt để chỉ số bọ gậy của Aedes aegypti, do lượng trứng tồn tại từ trước trong các dụng cụ chứa nước vẫn tiếp tục nở thành bọ gậy.
  • Thời gian duy trì hiệu lực tồn lưu của đĩa mồi hòa nước trong thực địa bị giới hạn từ 13 đến 15 ngày, đòi hỏi phải bổ sung nước hoặc thay mồi định kỳ.

Các hướng nghiên cứu tiếp theo (theo phần Khuyến nghị của luận án):

  • Nghiên cứu nâng cao chất lượng chất dẫn dụ, điều chỉnh thành phần cho thích ứng tối ưu với từng loài muỗi chuyên biệt để hoàn thiện công thức mồi bả.
  • Mở rộng nghiên cứu ứng dụng mồi bả trong phòng chống sốt rét tại các địa bàn khác, đặc biệt là vùng đồng bằng Nam Bộ nơi loài truyền bệnh An. sundaicus đã kháng DDT và có mật độ cao.
  • Khảo nghiệm khả năng dẫn dụ và tiêu diệt các loài côn trùng gây hại khác.
  • Nghiên cứu thay thế hoạt chất diệt côn trùng trong mồi bằng các hóa chất ít độc hơn, không độc hoặc các chất gây mất khả năng sinh sản của muỗi (hóa chất gây vô sinh) nhằm khống chế quần thể muỗi mà không dùng độc chất diệt trực tiếp.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn cho các nhóm đối tượng và lĩnh vực sau:

  • Cán bộ y tế dự phòng và chuyên viên kiểm soát bệnh truyền nhiễm: Có thể tham khảo phương pháp luận đánh giá chỉ số bọ gậy, chỉ số mật độ muỗi theo chuẩn WHO và quy trình triển khai mồi bả hóa học độc đường tiêu hóa như một biện pháp kỹ thuật bổ trợ cho các ổ dịch sốt xuất huyết hoặc vùng lưu hành giun chỉ.
  • Nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Côn trùng học, Ký sinh trùng học và Sinh thái học: Giá trị tham khảo nằm ở hệ thống tư liệu điều tra thực địa công phu về 32 loài muỗi Anopheles tại miền Trung, các dẫn liệu thực nghiệm về tập tính tránh hóa chất của An. minimus, cùng phương pháp toán học Goscause logaris trong xác định thời gian tử vong của côn trùng.
  • Cơ quan quản lý môi trường và y tế công cộng: Luận án cung cấp mô hình so sánh định lượng chi tiết về mức độ phát tán hóa chất ra môi trường và bài toán hạch toán chi phí giữa phương pháp mồi bả và biện pháp phun tồn lưu truyền thống.

Câu hỏi thường gặp

  1. Công thức phối chế của một gói mồi bả diệt muỗi trong luận án gồm những thành phần cụ thể nào? Một gói mồi bả khô hoàn chỉnh gồm có: 3 gam bột máu bò khô, 1 gam bột máu gà khô, 1 gam bột hoa quả khô, 10 gam đường kính và 54 miligam hoạt chất Propoxur nguyên chất. Khi đưa vào sử dụng tại thực địa, người dùng bổ sung thêm 30 mililit nước lã để hòa tan hỗn hợp.

  2. Luận án đã chứng minh mồi bả tác động lên muỗi qua cơ chế tiêu hóa bằng thí nghiệm thực địa nào? Tác giả đã thiết lập thí nghiệm thực địa hẹp với ba nghiệm thức đặt đĩa mồi ở góc nhà: nghiệm thức 1 để mồi khô không cho nước; nghiệm thức 2 đổ mồi hòa 30ml nước nhưng dùng vải màn bịt kín miệng đĩa ngăn muỗi tiếp xúc; nghiệm thức 3 đổ mồi hòa 30ml nước và để hở. Kết quả muỗi chỉ bị tiêu diệt ở nghiệm thức 3 khi trực tiếp hút dịch mồi, trong khi hai nghiệm thức đầu muỗi hoàn toàn không chết. Điều này chứng minh mồi tác động độc thuần túy qua đường tiêu hóa khi muỗi ăn uống, không tác động qua đường xông hơi hay tiếp xúc ngoài.

  3. Vì sao luận án chưa đưa ra kết luận về việc dùng mồi bả để phòng chống bệnh sốt rét tại Quảng Bình? Vì tại thời điểm nghiên cứu ở Quảng Bình, hai loài truyền sốt rét chủ yếu là Anopheles minimus và Anopheles dirus có mật độ trong nhà rất thấp và không thu thập được bằng các phương pháp bắt muỗi trong nhà do chúng đã thay đổi tập tính sinh thái (tránh hóa chất phun tường vách, chuyển ra hút máu gia súc và trú ẩn ngoài tự nhiên). Do thiếu mẫu thử thực địa trong nhà, tác giả không đủ điều kiện kiểm chứng hiệu lực thực tế của mồi bả đối với hai loài này tại địa phương.

  4. Mồi bả diệt muỗi đạt hiệu quả làm giảm mật độ và tỷ lệ nhà có muỗi Aedes aegypti ở mức độ nào trong khảo nghiệm cộng đồng? Tại điểm thí nghiệm ở cộng đồng (329 hộ gia đình), mồi bả làm mật độ Aedes aegypti giảm 10 lần so với ban đầu, duy trì dưới ngưỡng nguy cơ dịch (< 1 con/nhà). Đồng thời, tỷ lệ nhà có muỗi Aedes aegypti từ lần điều tra thứ 2 đến lần thứ 9 giảm sâu từ 5 đến 9 lần so với điểm đối chứng và so với trước khi đặt mồi (sự khác biệt đạt ý nghĩa thống kê với p < 0,001).

  5. So sánh về lượng hóa chất và chi phí giữa phương thức dùng mồi bả và phun tồn lưu cho 329 hộ gia đình trong 2 tháng có sự chênh lệch ra sao? Để phục vụ 329 hộ trong 2 tháng, phương thức mồi bả sử dụng 4.000 gói mồi với tổng lượng hoạt chất Propoxur nguyên chất là 296 gam, tổng chi phí là 3,2 triệu đồng (đơn giá 800 đồng/gói). Nếu dùng phương pháp phun tồn lưu tường vách, lượng hóa chất cần dùng là 66 kg Propoxur nguyên chất (chi phí 16,5 triệu đồng), hoặc 10 kg Icon 10% (chi phí 7,0 triệu đồng), hoặc 10 kg Deltamethrin 5% (chi phí 4,5 triệu đồng), hoặc 88 kg DDT 75%. Mồi bả giảm lượng hóa chất phát tán ra môi trường thấp hơn 20 lần so với liều cho phép và tiết kiệm chi phí từ 1,4 đến 5 lần.

Kết luận

Luận án của tác giả Hà Thị Quyên đã giải quyết một cách có hệ thống các đặc điểm sinh thái, thành phần loài muỗi Culicidae tại Quảng Bình và đề xuất thành công phương thức kiểm soát muỗi bằng mồi bả độc đường tiêu hóa. Công trình đã xác định 32 loài Anopheles, chỉ ra hiện tượng biến đổi tập tính tránh hóa chất của An. minimus, đồng thời hoàn thiện công thức mồi bả phối hợp giữa đạm máu động vật, đường và Propoxur liều lượng thấp. Kết quả khảo nghiệm thực tế khẳng định mồi bả có hiệu lực hạ thấp mật độ muỗi Aedes aegypti và Culex quinquefasciatus, hạn chế nguy cơ truyền bệnh sốt xuất huyết và giun chỉ. Đây là công trình thực nghiệm khoa học có giá trị thực tiễn cao, đóng góp một giải pháp kỹ thuật giảm thiểu ô nhiễm hóa chất và tiết kiệm chi phí cho công tác phòng trừ côn trùng truyền bệnh trong y học dự phòng tại Việt Nam.