đặt vấn đề này thành một nhiệm vụ trọng yếu trong việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Các tác giả ở Ấn Độ đã xác định được 11 loài muỗi thuộc 3 giống: Culex, Anopheles, Mansonia đóng vai trò trung gian truyền bệnh VNNBB, trong đó Culex tritaeniorhynchus là loài quan trọng nhất (Schgal, 1989) (so. Ở Inđônêxia, Thái Lan, Nêpan, Nhật Bản. bệnh VNNBB cũng là một vấn đề được nhiều tác giả nghiên cứu [92,123,124].
Leake và Johnson (1987) (s3 đã phan lập được virus VNNBB từ muỗi Culex tritaeniorhynchus đóng vai trò chính truyền bệnh VNNBB ở các vùng đã nghiên cứu. Ở Việt nam nhiều tác giả đã nghiên cứu về các mặt lâm sàng, dịch té học, virus và côn trùng, đã phân lập được virus VNNBB và nhận định nhóm muỗi Culex tritaeniorhynchus va Culex vishnui có liên quan đến mùa dịch VNNBB (Vũ Sinh Nam, Nguyễn Chác Tiến và cộng su, 1985) [29]. Doan Xuân Muou và cộng sự (1965) lân dau tiên đã phân lập được virus VNNBB ở chim Liếu Diéu và thấy 8 loài chim khác nhau có nhiễm virus VNNBB. Lon là gia súc mắc bệnh VNNBB phổ biến nhất ở Việt nam.
Các déng vật khác như trâu, bò, ngựa, khỉ, chó, ga, vit cũng có chứa virus VNNBB nhưng tỷ lệ thấp hơn so với lợn (Đỗ Quang Hà, 1978). Gan đây bệnh VNNBB có chiều hướng tăng lên ở miền đồng bằng và đô thị, có lúc đã xảy ra dịch. Tùy theo từng địa phương khác nhau mà mùa dịch có khác nhau. Ở Miền Bắc Việt nam bệnh thường xảy ra từ tháng 4 đến tháng 9 (Nguyễn Thị Bạch Ngọc , 1995) 221.
9 Bệnh giun chỉ bạch huyết ia một bệnh ky sinh trùng mang tính chat xa hội rộng. Bệnh do 3 loài giun chỉ Wuchereria bancorofti, Brugia malayi, Brugia timori gây nên. Bệnh giun chỉ bạch huyết thường lưu hành ở các nước nhiệt đới thuộc chau A, Châu Phi, Chau Mỹ và một số đảo ở vùng Thái Bình Dương(1141. Bệnh này khong những chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe con người mà còn để lại những di chứng như viêm bạch mạch, phù voi Ký sinh trùng được truyền từ người bệnh sang người lành qua mudi (Nguyễn Duy Toàn, 1987) (52, 53].
Manson (1978) phát hiện thấy ấu trùng giun chỉ Wuchereria bancorofti phát triển trong cơ thé muỗi và ấu trùng thành thục còn thoát ra khỏi vòi của muỗi Culex fatigans. Trên thế giới có khoảng 3.287 triệu người sống trong vùng có bệnh giun chỉ bạch huyết lưu hành [53]. Ở Việt nam giun chỉ bạch huyết lưu hành ở hầu hết các tỉnh thuộc vùng đồng bang Bắc bộ như Nam Ha, Hải Hưng, Thái Binh, Hà Nội, Hà Tây, Hà Bac, Quảng Ninh và Quảng Binh [57]. Bệnh giun chỉ bạch huyết ở Việt nam thường để lại di chứng phù ở chân nên nhân dân thường gọi là bệnh chân voi Mathis va Leger (1911) đã nghiên cứu bệnh nay, thử máu cho gần 2000 người thuộc 10 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ và thấy tỷ lệ nhiễm ấu trùng giun chỉ trong máu ngoại vi là 4,69%.
Sery và Phạm Văn Nông (1960 - 1975) đã phát hiện ở Hải Dương tỷ lệ nhiễm ấu trùng giun chỉ là 15%. Theo Nguyễn Duy Toàn (1985) (s2) thì từ năm 1960 - 1975, tỷ lệ nhiễm ấu trùng giun chỉ chung của Miền Bắc là 6,01%; Ở Quảng Bình tỷ lệ nhiễm ấu trùng giun chỉ là 11,7%. Quảng Bình có khoảng 40.000 người sống trong vùng có bệnh giun chỉ lưu hành và tỷ lệ nhiễm ấu trùng ở 2 xã Hải Ninh va Gia Ninh huyện Quảng Ninh là 2,30% [44]. Ở Miền Nam bệnh giun chỉ bạch huyết không đáng kể (53).
Nhiều công trình nghiên cứu lâm sàng và điều trị bệnh giun chỉ bạch huyết đã được công bố như Đặng Văn Ngữ và cộng sự (1960, 10 1965), Bạch Quốc Tuyên (1963) (33. Các nghiên cứu về mudi đã xác định được vai trò truyền bệnh giun chỉ ở Việt nam là Culex quinquefasciatus, Mansonia annulifera, Anopheles sinensis (Trần Đức Hinh, Nguyên Bach Ngoc, Vũ Đức Huong, 1987) (10). Cho đến nay ở Việt nam mới chi gặp 2 loài giun chi bạch huyết là W.malayi, trong số đó B.maiayi chiếm tới 95% (Nguyễn Duy Toàn. ĐẶC TÍNH SINH HOC CUA MỘT SỐ LOÀI MUOI CÓ VAI TRO TRUYỀN BỆNH.
Tập tính hút máu của mudi. Pha trưởng thành là giai đoạn sống trên cạn duy nhất trong vòng đời của mudi. Mudi đực không hút máu, chi sử dụng nguồn thức ăn tự nhiên như mật hoa và dịch trái cây, nhựa cây làm chất dinh dưỡng. Muỗi cái hút máu động vật và người, đó cũng là chất dinh dưỡng bắt buộc để nuôi cơ thể và phát triển trứng.
Không hút máu thì muỗi khong thể thực hiện được chu kỳ sinh trưởng bình thường. Một số nghiên cứu (Bruce Chwatt, 1980) (71) đã nêu lên rằng: Muỗi cái của hầu hết các loài it nhất phải hai lần đốt máu thì lô trứng đầu tiên mới phát triển được. Những chu kỳ tiếp theo thi sau mỗi lần hút máu muỗi lại đẻ trứng. Muỗi cái thường đốt động vật máu nóng, lượng máu tiêu thụ được khoảng bằng trọng lượng cơ thể muỗi.
Máu trong dạ dày muỗi được tiêu hóa trong một vài ngày (Bruce Chwatt, 1980). Muỗi có tính lựa chọn vật chủ. Những loài mudi khác nhau thì khác nhau về ái tính vật chủ. Trong điều kiện thuận lợi muỗi có thể lựa chọn vật chủ thích hợp nhất, nhưng trong những điều kiện không thuận lợi muỗi có thể thay đổi vật chủ.
Một số loài thích vật chủ là người nhưng cũng có thể hút máu động vật hoặc ngược lại. Trong thực tế còn cho thấy rằng thậm chí mudi 11 cái có thé hút nước đường trong diều kiện bát buộc dé duy trì su song. Trong số những yếu tố thu hút muỏi cái đến vật chủ thì nhiệt độ, mùi vi, lượng CO; là quan trong (Bruce Chwatt, 1980). Yếu tố này có thể thu hút đặc biệt đối với loài muỏi này nhưng đối với loài muỏi khác thì it hơn.
Các dộng vat khác nhau có sự thu hút muỏi khác nhau. Mỗi loài muỏi có thời gian hoạt động tìm mồi khác nhau. Muoi Anopheles và muoi Culex thường dot máu vào ban đêm, mudi Aedes chủ yếu hút máu vào ban ngày. Khi muỏi đốt.
dịch trong tuyến nước bọt của mudi được truyền qua vật chủ. làm tăng quá trình chảy máu trong mao quản. Vì vậy việc đốt máu vật chủ là nguyên nhân để muỗi đóng vai trò trung gian truyền bệnh cho người và động vật (Bruce Chwatt, 1980). Tập tính trú ẩn của mudi.
Sau khi giao phối. muỗi tìm mồi hút máu rồi tìm nơi trú an để tiêu máu và phát triển trứng. Nơi trú ẩn của muỗi rất đa dang. tùy theo các loài muôi khác nhau mà có những nơi trú ấn khác nhau (69).
Có những loài tìm mồi hút máu trong nhà rồi nghỉ lại ở trong nha. Muỗi có thể đậu vào tường vách, vách ngăn, quần áo treo trong nha, bồ thóc. mặt sau của tủ. tranh anh, chan bát.
Trong thực tế thường bắt gặp mudi đậu ở độ cao dưới 2 mét. Những vùng có phun DDT ở độ cao từ 2 mét trở xuống, đã thấy hiện tượng một số loài mudi Anopheles trú an ở trong nhà tránh thuốc diệt bằng cách đậu ở những nơi cao hơn, nơi không có hóa chất diệt (Nguyễn Đức Mạnh. Cũng có những loài tìm mồi hút máu trong nhà rồi bay ra trú ẩn ngoài tự nhiên. hoặc ngược lại.
Nơi trú Ÿn của muỗi ở ngoài thiên nhiên thường là các bụi cây, hốc cây, rễ cây lớn, hầm hố. Thường muoi trú đậu ở aơi khong có ánh sáng mat trời doi trực tiếp, có độ ẩm đảm bao, có vi khí hậu thích hợp. Vào mùa hè muỏi thường tìm nơi trú đậu thấp. có nhiệt độ thấp, độ ẩm cao.
Dưới tác dung của việc dùng hóa chất diệt muoi da dan đến một sơ loài muoi thay đổi tập tính trú an vốn có của mình để phù hợp với điều kiện môi trường sống như An.minimus ở Miền Bac đã có hiện tượng tránh DDT, thay đổi tập tính trú ấn trong nhà ra tìm nơi trú ẩn ngoài nhà (Nguyễn Đức Mạnh. Sự kháng và tránh thuốc diệt của mudi. Su kháng các loại thuốc diệt côn trùng được coi như là một hiện tượng sinh học của muoi. Hiện tượng sinh học nay được hình thành do việc sử dụng không hợp lý hóa chất diệt mudi (Bruce Chwatt, 1980) (721.
Khi một quần thể côn trùng tiếp xúc với một hợp chất độc thì sẽ có một phân chết. một phân còn sống sót lại. Hiện tượng đó gọi là kháng sinh lý. Bề ngoài của hiện tượng nay là sự thay đổi tập tinh của quan thể côn trùng, bởi thế mà chúng có khả năng tránh tiếp xúc với thuốc diệt.
Hiện tượng này gọi là kháng tap tính hay tránh thuoc (Brice Chwatt. Ca hai loại kháng thuốc đều có thể hạn chế kết quả của các biện pháp phòng chống, dặc biệt là biện pháp phun thuốc diệt còn trùng có tính chất tồn lưu. Nhiéu nghiên cứu (Herath va Davidson, 1980; Bruce Chwatt, 1980) (72, 78] cũng đã cho biết ban chất và cơ chế của su kháng thuốc là vai trò của các yếu tố di truyền, yếu tố tác động và yếu tố sinh học. Sự kháng thuốc tăng lên trong quá trình chon lọc va chi xảy ra ở một số loài mudi mà ngay từ dau đã có một tỷ lệ cá thể mang tính di truyền có khả nàng chống lại độc tố của thuốc diệt.
Những cá thế nhạy thì chết. những cá thể có khả năng chống lại ` `. v a,+ 8 a, re Si JA Sàn ; ron š sos thuốc diệt thì sống sót và phát trien Ning lên rat nhanh. Đến một giai đoan ` is Theo thống kẻ của WHO (1977) thi năm 1944 trên thế giới mới chi có 2 loài Anopheles kháng DDT.
Năm 1976 có 43 loài kháng với một hoặc nhiều loại hóa chất diệt. Một số nước đã thay bằng các loại hóa chất diệt thuộc nhóm Phốt pho hừu cơ (Malathion) và nhóm Carbamat. Tuy nhiên sau đó cũng xảy ra hiện tượng mudi kháng với các loại thuốc diệt này. Tính đến năm 1992 trên thế giới có khoảng 45 loài mudi Culicinae kháng với một số hóa chất diệt (WHO, 1992) [2a].
Ở Việt nam có nhiều công trình nghiên cứu mức độ nhạy cảm với các loại thuốc diệt trong quá trình phòng chống muỗi truyền sốt rét, sốt xuất huyết. viêm não Nhật Ban, giun chi. Có thể nêu điển hình một số cong trình như Vũ Thị Phan, Nguyễn Văn Chí, Nguyễn Xuân Dinh, Nguyễn Thị Phúc và cộng sự (1980) (371, Nguyên Van Chí, Nguyễn Xuân Dinh (1981 - 1985) (1); Thông báo về tình hình kháng thuốc diệt của muoi ở Bình Trị Thiên của Hà Thị Quyên (1987) [42]. Trịnh Dinh Dat và cộng sự (1993) đã nghiên cứu xác định mức độ và đặc điểm di truyền kháng thuốc trừ sâu của muỗi Cx.